“Hoàn thiện quá trình cung
ứng sản phẩm dây và cáp điện
của công ty TNHH thương mại
và dịch vụ TCT” nhằm:
1
Giáo viên hướng dẫn: T.S Nguyễn Văn Minh
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thị Thu
Lớp: K42C1 – Khoa Kinh Doanh Thương Mại
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam gia nhập WTO, đó là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp
Việt Nam có thể học hỏi những kinh nghiệm quản lý tiên tiến, khoa học công
nghệ hiện đại, tận dụng được nguồn vốn dồi dào,tạo điều kiện để các doanh
nghiệp Việt Nam có thể vươn ra thị trường quốc tế một cách dễ dàng. Song
bên cạnh những thuận lợi, thì thách thức khi gia nhập WTO đặt ra cho các
doanh nghiệp Việt Nam không hề nhỏ. Gia nhập "sân chơi" quốc tế, đối thủ
của chúng ta không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà phải đối
đầu với các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Chính yêu cầu này đòi
hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải ngày càng hoàn thiện cơ cấu sản xuất
kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị
trường như hiện nay thì nâng cao khả năng cạnh tranh của mình là yếu tố
sống còn quyết định sự thành công của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào
cung cấp giá trị lợi ích gia tăng cao nhất với mức chi phí phù hợp đảm bảo tối
đa hóa nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó có cơ hội để phát triển và
đứng vững trên thị trường. Một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay chú trọng đầu tư và phát triển để nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình đó là hoàn thiện quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Thực
hiện tốt quá trình này, hàng hóa sẽ tới tay khách hàng đúng thời gian, đúng
địa điểm mang lại cho khách hàng nhiều hơn những giá trị mong đợi và chi
phí được tối thiểu hóa. Mặt khác, quá trình cung ứng hiệu quả sẽ giúp cho quá
trình lưu thông của doanh nghiệp được diễn ra một cách liên tục, chính xác,
hợp đồng có giá trị.
3
Tóm lại hoàn thiện quá trình cung ứng là một điều cấp thiết đối với các
doanh nghiệp Việt Nam nói chung, công ty TCT nói riêng.
Xuất phát từ thực tiễn của công ty cùng với nhận thức về chuyên ngành
đào tạo, qua quá trình thực tập và nghiên cứu tại công ty TNHH thương mại
và dịch vụ TCT, em mạnh dạn quyết định đi sâu vào nghiên cứu đề tài:
“Hoàn thiện quá trình cung ứng sản phẩm dây và cáp điện của công ty
TNHH thương mại và dịch vụ TCT”.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Công ty TNHH thương mại và dịch vụ TCT là một công ty chuyên
cung cấp các sản phẩm dây và cáp điện, là đại lý cấp 1 của công ty TAYA
Hải Dương. Căn cứ vào tình hình thực tế cùng với quá trình nghiên cứu, tìm
hiểu và được thực tập tại công ty TNHH thương mại và dịch vụ TCT, em đã
thấy được tính cần thiết của quá trình cung ứng trong các doanh nghiệp.
Chính vì vậy em đã chọn đề tài luận văn của mình là: “Hoàn thiện quá trình
cung ứng sản phẩm dây và cáp điện của công ty TNHH thương mại và
dịch vụ TCT” nhằm:
- Để công ty không bị tụt hậu mà luôn theo kịp được sự phát triển của
nền kinh tế thị trường.
- Để công ty có chỗ đứng trên thị trường, cạnh tranh được với các đối
thủ kinh doanh cùng mặt hàng dây và cáp điện.
- Để có thể giải quyết được những khó khăn mà công ty đang gặp phải.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Em nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:
- Hệ thống hóa lại những cơ sở lý luận về quá trình cung ứng hàng hóa
như: mua hàng, dự trữ, cung ứng hàng hóa, vận chuyển và giao hàng.
- Nhằm nâng cao hiểu biết của em về môn học logistics đặc biệt là quá
trình cung ứng hàng hóa của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu đề tài đã tạo điều kiện cho em tìm hiểu tình hình thực tế
5
1.5 Kết cấu luận văn.
Luận văn của em gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề nghiên lý luận cơ bản về quá trình cung ứng
hàng hóa của doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng
quá trình cung ứng sản phẩm dây và cáp điện của công ty TNHH thương mại
và dịch vụ TCT.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình
cung ứng sản phẩm dây và cáp điện của công ty TNHH thương mại và dịch
vụ TCT.
6
Dòng dự trữ
Mua Nghiệp vụ Bán
hỗ trợ
Dòng thông tin
Nguồn
hàng
Khách
hàng
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUÁ TRÌNH
CUNG ỨNG HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quá trình cung ứng hàng hóa
ở các doanh nghiệp.
- Cung ứng hàng hóa:
Theo quan điểm của hậu cần kinh doanh, cung ứng hàng hóa là quá
trình trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ logistics cho khách hàng thông
triển doanh số trên cơ sở cung cấp trình độ dịch vụ khách hàng mong đợi có
tình chiến lược với tổng chi phí thấp nhất.
Mục tiêu này đòi hỏi phải tối ưu hóa dịch vụ khách hàng, có nghĩa, phải
đảm bảo trình độ dịch vụ khách hàng của quá trình cung ứng hàng hóa cho
khách hàng đem lại khả năng lợi nhuận cao nhất.
Mục tiêu của cung ứng hàng hóa cho khách hàng chủ yếu tập trung vào
tốc độ, tính ổn định trong cung ứng hàng hóa cho khách hàng.
Cụ thể mục tiêu tác nghiệp của cung ứng hàng hóa cho khách hàng bao
gồm:
8
- Đáp ứng nhanh: Có nghĩa thời gian thực hiện đơn hàng trong kinh
doanh thương mại bán buôn và chi phí thời gian mua hàng của khách hàng
trong kinh doanh thương mại bán lẻ là ít nhất. Việc cải tiến phương pháp và
quá trình cung ứng hàng hóa sẽ rút ngắn được thời gian cung ứng hàng hóa
cho khách hàng đến mức thấp nhất.
- Tối thiểu hóa các sai lệch: Quá trình giao hàng cho khách hàng trong
kinh doanh bán buôn đúng với mong đợi của khách hàng được thể hiện trong
hợp đồng mua bán, đặc biệt phải giảm đến mức thấp nhất những sai lệch thời
gian.
- Mục tiêu chi phí: Sử dụng công nghệ xử lý và thực hiện đơn đặt hàng
và bán hàng tiên tiến, hiện đại để nâng cao độ chính xác. Phải dần từng bước
cơ giới hóa, tự động hóa các thao tác của quá trình, vừa đảm bảo mục tiêu
dịch vụ và chi phí.
Để thực hiện được mục tiêu trên, quá trình cung ứng hàng hóa phải
thực hiện nguyên tắc sau:
- Phải duy trì dự trữ hàng hóa hợp lý, đảm bảo yêu cầu trình độ dịch vụ
khách hàng. Trình độ dịch vụ khách hàng là mục tiêu marketing – hậu cần rất
quan trọng và để duy trì trình dộ dịch vụ đã định, cần phải duy trì mức dự trữ
xác định.
- Phải giảm tổng chi phí hậu cần trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu dịch vụ
thể hiện khả năng chứa đựng hàng hóa của doanh nghiệp. Như chúng ta đã
biết, thị trường luôn biến động và chứa nhiều yếu tố bất ngờ. Vì thế để hoạt
động kinh doanh không bị gián đoạn nên doanh nghiệp luôn có kho dự trữ.
Tùy theo tình hình kinh doanh, cũng như mặt hàng kinh doanh mà doanh
nghiệp có nhiều kho hay ít kho, hoặc các loại hình kho sao cho phù hợp.
Thông thường khi giá cả có xu hướng tăng cao, doanh nghiệp sẽ tiến hành
mua nhiều hàng để dự trữ và do vậy yêu cầu kho phải rộng để có thể chứa
hàng hóa để chờ thời điểm được giá tung hàng hóa ra bán.
10
- Tính chất thương phẩm của hàng hóa: Tính chất thương phẩm của
hàng hóa góp phần quyết định đến hoạt động cung ứng hàng hóa ở một số
doanh nghiệp. Ví dụ đối với những mặt hàng có thời gian sử dụng cao, ít bị
đổ vỡ thì ít quan tâm đến vấn đề này, tuy nhiên đối với một doanh nghiệp
kinh doanh những mặt hàng mà thời gian sử dụng ngắn (thực phẩm, đông
lạnh, ), hay những mặt hàng dễ vỡ như thủy tinh, đồ gốm không cho phép
doanh nghiệp mua và dự trữ nhiều.
- Chính sách cung ứng của doanh nghiệp:
Trong doanh nghiệp chính sách cung ứng đóng vai trò vô cùng quan
trọng, bởi nó xác định xem mặt hàng nào được mua theo những nghiên cứu
thị trường đã đưa ra, bao giờ mua, mua với số lượng bao nhiêu, cơ cấu, chủng
loại như thế nào sao cho phù hợp. Nếu doanh nghiệp đưa ra chính sách cung
ứng phù hợp sẽ vừa đảm bảo thỏa mãn được nhu cầu khách hàng, lại vừa
giảm rủi ro cho doanh nghiệp và tiết kiệm được chi phí trong quá trình cung
ứng.
- Nhân viên cung ứng: nhân viên cung ứng của doanh nghiệp bao gồm
nhân viên thu mua và nhân viên quản lý kho dự trữ cũng như những người
lãnh đạo bộ phận cung ứng. Những nhân viên này phải có trình độ chuyên
môn cao, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình với công việc.
- Điều kiện tài chính của doanh nghiệp: đây là một trong những nhân tố
ảnh hưởng quan trọng đến quá trình cung ứng sản phẩm của công ty. Nếu
cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, điểm tương đồng nữa giữa
các công trình nghiên cứu là đều có chung mục đích cuối cùng là đưa ra các
giải pháp cải thiện hoạt động cung ứng hàng hóa nhằm nâng cao trình độ dịch
vụ khách hàng và giảm chi phí đến mức thấp nhất, mang lại lợi thế cạnh tranh
cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về quá trình
cung ứng hàng hóa cho khách hàng tại công ty TNHH thương mại và dịch vụ
12
TCT . Chính vì vậy sau một quá trình thực tập tại công ty TNHH thương mại
và dịch vụ TCT cũng như dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Văn
Minh, em đã lựa chọn đề tài của mình là: “Hoàn thiện quá trình cung ứng sản
phẩm dây và cáp điện của công ty TNHH thương mại và dịch vụ TCT” nhằm
đưa đến người đọc một vấn đề mới đó là việc thực hiện quá trình cung ứng
sản phẩm của công ty TNHH thương mại và dịch vụ TCT, từ đó em đưa ra
những giải pháp để hoàn thiện quá trình cung ứng sản phẩm trước sau đó là
những giải pháp cho từng hoạt động cụ thể giúp công ty ngày càng vững
mạnh trên con đường kinh doanh.
2.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu
Dựa vào sơ đồ trên ta thấy quá trình cung ứng hàng hóa được diễn ra từ
khi dự báo nhu cầu khách hàng rời từ đó xây dựng kế hoạch cung ứng hàng
hóa đến mua hàng và dự trữ, cuối cùng là các hoạt động kiểm tra tiến trình
thực hiện cung ứng hàng hóa diễn ra có đạt được như kế hoạch đề ra hay
không. Trong đó có hoạt động mua hàng, dự trữ và vận chuyển, giao hàng
đóng vai trò hết sức quan trọng và thể hiện rõ nhất kết quả cuối cùng của quá
trình tổ chức cung ứng hàng hóa của doanh nghiệp, vì hàng hóa có đi vào lưu
thông và có đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng hay không là do
các quá trình đó cung cấp và thỏa mãn một cách cụ thể nhất.
2.4.1 Mua hàng
- Mua hàng (theo quan điểm hậu cần): là hệ thống các mặt công tác
nhằm tạo nên lực lượng hàng hóa tại các cơ sở hậu cần, đáp ứng các yêu cầu
Theo quan điểm của hậu cần thì: Dự trữ hàng hóa trong hệ thống hậu
cần là các hình thái kinh tế của vận động hàng hóa trong kênh hậu cần nhằm
thỏa mãn nhu cầu mua hàng của khách hàng trên thị trường mục tiêu
Dự trữ là sự tích lũy sản phẩm, hàng hóa tại doanh nghiệp trong quá
trình vận động hàng hóa từ điểm đầu đến điểm cuối của mỗi dây truyền cung
ứng, tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, nhịp nhàng thông
suốt. Dự trữ trong nền kinh tế còn cần thiết do các yêu cầu cân bằng cung cầu
14
đối với các mặt hàng theo thời vụ, đề phòng các rủi ro, thỏa mãn nhu cầu bất
thường của thị trường. Mặt khác dự trữ trong các doanh nghiệp giúp giảm chi
phí do: duy trì sản xuất ổn định và năng suất cao, tiết kiệm trong mua và vận
chuyển (trong mua: giảm giá vì lượng hoặc mua trước thời vụ; còn trong vận
chuyển việc tăng dự trữ do tăng quy mô lô hàng sẽ đảm bảo vận chuyển tập
trung với chi phí thấp nhất), và nhờ dự trữ mà các doanh nghiệp giảm chi phí
do những biến động không thể lường trước được.
Vì vậy dự trữ tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và giúp
cho doanh nghiệp cân đối vốn đầu tư với những cơ hội đầu tư khác.
2.4.3 Cung ứng hàng hóa cho khách hàng.
Cung ứng hàng hóa cho khách hàng trong các công ty thương mại được
thực hiện thông qua việc thực hiện đơn đặt hàng.
Hình 3.4: Quá trình thực hiện đơn đặt hàng.
2.4.3.1 Tâp hợp xử lý đơn đặt hàng và hợp đồng.
Đây là quá trình thu thập xử lý và truyền tin giữa các bên mua và bên
bán nhằm thiết lập quan hệ mua bán theo hình thức pháp lý nhất định. Nội
dung của công đoạn này bao gồm 3 công tác:
- Chuẩn bị đơn hàng và hợp đồng của khách hàng
Đây là hoạt động truyền tin những yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và
dịch vụ cho người bán. Nội dung có thể là: hoàn thiện hình thức đặt hàng, yêu
cầu người bán cung cấp những thông tin cần thiết để chuẩn bị đơn hàng.
Giao hàngThông báo,
2.4.3.3 Chuẩn bị giao hàng.
Trên cơ sở chương trình giao hàng, phải tiến hành công tác chuẩn bị
giao hàng.
Nội dung chuẩn bị nguồn hàng bao gồm:
- Chuẩn bị nguồn hàng cung cấp hàng hóa cho khách hàng: Xác định vị trí
kho phát hàng. Trong trường hợp cung cấp hàng hóa từ nguồn hàng, phải tiến
hành đặt hàng hoặc ký hợp đồng mua hàng với nguồn hàng. Phải khẩn trương
xúc tiến việc mua hàng để tránh chậm trễ trong việc giao hàng cho khách
hàng.
16
- Chuẩn bị lô hàng: Việc chuẩn bị lô hàng để giao hàng được thực hiện trong
các kho hàng hóa. Chuẩn bị lô hàng chiếm tỷ lệ, thời gian khá lớn. Do phải
nâng cao năng suất và cơ giới hóa công tác chuẩn bị hàng hóa ở kho.
- Chuẩn bị phương tiện giao hàng: Bao gồm việc chuẩn bị phương tải, chất
xếp, tiến hành ký hợp đồng hoặc đặt hàng vận chuyển hàng hóa với các đơn
vị vận tải.
- Chuẩn bị giấy tờ: Phải chuẩn bị đầy đủ các chứng từ hợp lệ thuận tiện cho
quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hóa, bao gồm: hóa đơn, giấy phép
vận chuyển, giấy đảm bảo chất lượng, …
- Chuẩn bị lao động: Chuẩn bị lao động chất xếp, lao động bảo vệ hàng hóa
và giao hàng nếu cần thiết.
Xây dựng chương trình giao hàng
17
2.4.3.4 Tiến hành giao hàng.
Tùy thuộc vào phương pháp bán hàng, việc giao hàng được tiến
hành ở kho người bán hoặc cơ sở hậu cần của người mua. Nều giao hàng
tại cơ sở hậu cần của người mua, thì người bán đảm nhiệm công tác tổ
chức vận chuyển hàng hóa và phải thực hiện quá trình nghiệp vụ vận
chuyển. Cạnh tranh trong kinh doanh thương mại đòi hỏi người bán phải
đảm bảo công tác vận chuyển với chi phí hạ, tốc độ nhanh, ổn định.
vận chuyển
Phân tích các điều kiện
vận chuyển
- Số lượng cơ cấu hàng
- Tính chất lô hàng
- Thời hạn, thời gian
giao hàng.
- Địa chỉ khách hàng
- Vị trí giao hàng
18
dõi tình hình nhận hàng theo mặt hàng và đối tượng khách hàng. Có thể sử
dụng phương pháp ghi sổ hoặc phương pháp đồ thị.
2.4.3 Vận chuyển và giao hàng
- Vận chuyển hàng hóa là sự di động hàng hóa trong không gian bằng
sức người hay phương tiện vận tải nhằm đảm bảo dự trữ và cung cấp dịch vụ
cho khách hàng trên các khu vực thị trường mục tiêu (theo quan điểm hậu cần
kinh doanh).
Trong hệ thống hậu cần của doanh nghiệp thương mại, vận chuyển có
vai trò đặc biệt quan trọng. Một hệ thống vận chuyển hợp lý sẽ tăng cường
khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp do nâng cao trình độ dịch vụ khách
hàng và giảm chi phí hậu cần. Cụ thể vận chuyển sẽ liên quan tốc độ, độ ổn
định và tính linh hoạt trong cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Vận chuyển
ngoài chức năng di chuyển còn có chức năng dự trữ.
- Giao hàng: là quá trình chuyển giao hàng hóa từ người bán hàng sang
người nhận hàng. Đây là giai đoạn kết thúc và thể hiện kết quả của cả quá
trình nghiệp vụ vận chuyển.
Giao hàng cũng là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến quá trình cung
ứng của doanh nghiệp. Giao hàng là khâu cuối cùng trong quá trình cung ứng,
nó quyết định toàn bộ chất lượng của toàn quá trình. Vì thế doanh nghiệp phải
không ngừng hoàn thiện dịch vụ giao hàng của mình sao cho nhanh chóng,
khách hàng.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CUNG ỨNG SẢN PHẨM
DÂY VÀ CÁP ĐIỆN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH
VỤ TCT.
3.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp thường được dùng nhiều vào mục đích khác nhau và
trong cuộc nghiên cứu marketing thì dữ liệu này thường được tiến hành thu
thập trước. Dữ liệu thứ cấp có thể tìm được ở các nguồn khác nhau như: giáo
20
trình, tài liệu chuyên ngành, tài liệu lưu trữ, văn kiện hồ sơ, … Đồng thời để
nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề này thì em cũng thu thập một số dữ liệu thông
qua công cụ tìm kiếm google.com.vn, đặc biệt là báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh của công ty trong 3 năm gần đây được cung ứng bởi phòng kế
toán của công ty.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
+ Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động kinh doanh hiện trạng của
công ty trong quá trình thực tập và trong điều kiện cho phép.
+ Phương pháp phỏng vấn các chuyên gia: dưới sự giúp đỡ tận tình của cán
bộ nhân viên trong công ty và đặc biệt là ông Đào Đức Cương (giám đốc
công ty), Đào Đức Thắng (phó giám đốc công ty), anh Bùi Quang Việt
(Trưởng phòng vật tư), và anh Lê văn Triệu (nhân viên kinh doanh) đã nhiệt
tình trả lời các câu hỏi mà em đưa ra, giúp em thu thập được các thông tin cần
thiết về tình hình thực hiện quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng của
công ty trong ba năm 2007, 2008, 2009, và quý I năm 2010.
+ Phương pháp điều tra bảng câu hỏi cho khách hàng của công ty để đánh giá
tổng quan tình hình thực hiện quá trình cung ứng hàng hóa của công ty. Đánh
giá mức độ hài lòng của khách hàng về việc thực hiện đơn đặt hàng của công
ty.
thương Việt Nam – Chi nhánh Chương Dương
- Tài khoản: 0661100082008 tại ngân hàng Cổ phần Quân đội – Phòng
giao dịch Nguyễn Văn Cừ
- Email: [email protected]
Quá trình thành lập và phát triển của công ty
22
Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT được thành lập
dưới hình thức công ty TNHH do các thành viên sáng lập lên.
Giấy phép kinh doanh số 0102032419 do sở Kế hoạch và Đầu tư
Thành phố Hà Nội cấp ngày 09/10/2007 và đăng ký thay đổi lần thứ nhất
ngày 09/04/2008.
Thành lập vào tháng 10 năm 2007, Công ty TNHH Thương Mại và
Dịch Vụ TCT có vốn điều lệ ban đầu là 1.000.000.000 đ do 3 thành viên sáng
lập lên. Sau nửa năm hoạt động số vốn điều lệ tăng lên 3.500.000.000 đ.
Công ty là Đại lý cấp 1 của các nhà sản xuất TAYA (Đài Loan) và các
thương hiệu dây và cáp điện nổi tiếng khác như: TAIHAN – SACOM. CADI
– SUN< GOLDCUP, THIÊN PHÚ, SUNCO,
Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT với đội ngũ cán bộ nhân
viên trẻ, năng động và giàu kinh nghiệm đã từng làm việc trong các doanh
nghiệp lớn, các công ty liên doanh, các công ty nước ngoài về lĩnh vực dây,
cáp và thiết bị điện. Công ty đã từng bước khẳng định vị thế của mình trên
thương trường cung cấp dây và cáp điện.
3.2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
- Ngành nghề kinh doanh:
Theo đăng ký thì ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH Thương Mại và
Dịch Vụ TCT bao gồm:
- Mua bán dây điện, cáp điện và các thiết bị điện.
- Vận tải hàng hóa, dịch vụ vận chuyển hành khách bằng ô tô.
- Dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận hàng hóa.
- Mua, bán thiết bị linh kiện, điện tử, điện lạnh, máy tính, điện thoại, thiết bị
KINH
DOANH
PHÒNG
VẬT
TƯ
24
thông qua báo cáo tài chính hàng năm, quyết định phân phối lợi nhuận hàng
năm, quyết định chia tách, hợp nhất, chuyển đổi, giải thể Công ty.
- Giám đốc của công ty là người chịu trách nhiệm về các mặt hoạt động của
công ty trước Hội đồng thành viên và pháp luật hiện hành, chịu trách nhiệm
về công tác đối ngoại, là người quyết định các chủ trương, chính sách, mục
tiêu chiến lược của công ty, phê duyệt tất cả các quy định áp dụng trong nội
bộ công ty, giám sát và kiểm tra tất cả các hoạt động về kinh doanh, trực tiếp
ký các hợp đồng sản xuất kinh doanh trong công ty.
- Phó giám đốc: là người nắm giữ về tài chính của công ty, có quyền điều
động nhân sự trong công ty, cùng với giám đốc giám sát tất cả các hoạt động
kinh doanh của công ty.
- Phòng nhân sư: thực hiện các chức năng về công tác tổ chức cán bộ lao
động, tiền lương, quản lý định mức lao động, đào tạo và thực hiện các chế độ
chính sách đối ngoại với người lao động.
- Phòng kế toán: tổ chức công tác kế toán, thống kê, ghi chép, tính toán, cập
nhập số liệu, nghiệp vụ kinh tế phát sinh, xác định kết quả kinh doanh và
phân tích kết quả kinh doanh trong kỳ. Lập dự thảo kế hoạch tài chính, tín
dụng thống nhất hoạt động kinh doanh định kỳ. Xây dựng, tổ chức triển khai
thực hiện quy chế tài chính tham mưu và thực hiện chức năng quản lý tài
chính, vốn thống kê và kế toán.
- Phòng kinh doanh: Lập và theo dõi kế hoạch kinh doanh trong tháng, tìm
kiếm khách hàng và mở rộng thị trường, phát triển và duy trì các mối quan hệ
với khách hàng.
- Phòng vật tư: lập kế hoạch và quản lý tình hình cung ứng hàng hóa, điều