Đề tài: " TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI NHO HỌC TRUNG QUỐC MẤY NĂM NAY NGUYỄN TÀI THƯ " - Pdf 21


Nghiên cứu triết học

Đề tài: " TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI NHO
HỌC TRUNG QUỐC MẤY NĂM
NAY NGUYỄN TÀI THƯ "
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI NHO HỌC
TRUNG QUỐC MẤY NĂM NAY
NGUYỄN TÀI THƯ
(*)

(Tiếp theo số 7 và hết)
4. Tư tưởng “dân bản” của Nho gia và ý nghĩa lịch sử của nó
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc tuy đều thừa nhận tư tưởng “dân là gốc
nước” (dân vi bang bản) là một giá trị trong truyền thống tư tưởng của Nho
gia, song một số người thấy sự cần thiết phải đi sâu hơn, phải nêu được cơ sở
xuất hiện cũng như quá trình phát triển của tư tưởng này và ý nghĩa lịch sử
của nó. Từ những xuất phát điểm để nghiên cứu khác nhau, các tham luận đã
có sự đi sâu hơn vào vấn đề đã từng được đề cập nhiều lần trước đây.
Trần Hàn Minh (Học viện Quản lý cán bộ của Công đoàn Thiên Tân),
trong bài Truyền thống dân bản Nho gia và vận mệnh lịch sử của nó, cho
rằng, “dân bản” là tư tưởng dân chủ đầu tiên ở Trung Quốc. Dựa vào nhận
định của Ph.Ăngghen về chế độ dân chủ nguyên thuỷ trong Nguồn gốc của
gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước, Trần Hàn Minh cho “Dân bản là chế

khoảng một phần mười của thu hoạch được. Từ đó, Trần Quốc Chiến đi
đến nhận định: tư tưởng nhân bản của Mạnh Tử có nội dung đầy đủ nhất,
có giá trị nhất trong lịch sử và vẫn còn có ý nghĩa đối với ngày nay.
Trần Tăng Huy (Đại học Thượng Hải), trong bài Tư tưởng dân bản của
Nho gia và ý nghĩa đương đại của nó, đã trình bày sự diễn biến của tư
tưởng này trong quá trình phát triển của lịch sử Trung Quốc. Ông cho tư
tưởng “Dân là gốc nước” của Nho gia đã đối lập với các tư tưởng “Thần
(thần thánh) vi bang bản” và “ Quân (vua chúa) vi bang bản” trước đó. Ông
nhận định: tư tưởng “dân bản” là ý kiến của nhiều người, nhưng Khổng –
Mạnh vẫn tiêu biểu hơn cả, đặc biệt là Mạnh Tử - “Người tập đại thành tư
tưởng dân bản trước Tần”. Sau Mạnh Tử, thì Giả Nghị thời Hán đã đưa tư
tưởng “dân bản” lên một đỉnh cao mới với quan điểm “Dân giả vạn thế chi
bản” (Dân là gốc của muôn đời). Sau thời Hán, tư tưởng “dân bản” còn
được các nhà Nho của các triều đại sau này nhắc tới với nội dung và tính
chất khác nhau, không những thế, tư tưởng đó còn được các nhà cải lương
tư sản đầu thế kỷ XX đề cập với một nội dung mới. Còn về mối quan hệ
giữa tư tưởng “dân bản” với thực tiễn, Trần Tăng Huy cho rằng, không
phải các triều đại đều vận dụng như nhau mà ở đó, có thực chất và hình
thức khác nhau. Ông nêu một vấn đề mà ông cho rằng có tính quy luật, đó
là sau mỗi lần có các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, nếu kẻ cầm
quyền mới lên ý thức được sức mạnh của dân, ban bố đường lối và chính
sách có lợi cho dân thì tạo được cục diện thịnh trị, như triều Văn Đế,
Cảnh Đế thời Hán; triều Trinh Quán thời Đường Thái Tông; triều Khang
Hy, Càn Long thời Thanh.
“Dân bản” không phải là vấn đề mới, trước đây đã có người nói tới. Điểm
mới của Hội thảo này là trình bày tư tưởng “dân bản” sâu hơn, có hệ thống
hơn và chỉ ra được quá trình phát triển lịch sử của nó. Vấn đề còn tồn tại là,
tư tưởng “dân bản” có phải là tư tưởng dân chủ không. Trong cuộc hội thảo
này, có người nêu tư tưởng “dân bản” là tư tưởng dân chủ đầu tiên trong
lịch sử, nhưng tư tưởng “dân bản” là để bảo vệ sự thống trị lâu dài của các

đạo Thiên Chúa, hay ý chỉ của Thánh Ala của đạo Ixlam. Đó là quan điểm
của Quách Tề Dũng (Đại học Vũ Hán), của Đơn Thuần (Viện Nghiên cứu
Tôn giáo thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc). Quách Tề Dũng nói:
Thiên của Nho gia không những là đối tượng tín ngưỡng của con người,
không những là nguồn gốc của hết thảy giá trị mà còn là cảnh giới mà con
người có thể vươn tới. Không những thế, “Thiên” còn là lực lượng sáng tạo
ra tự nhiên. Đơn Thuần cũng cho rằng, thiên mệnh có giá trị phổ quát, đó là
một hình thức biểu đạt tình hoài tôn giáo của Trung Quốc. Bên cạnh đó,
còn có người tiếp cận từ tư liệu lịch sử để khẳng định Nho cũng là một tôn
giáo. Đó là Châu Khả Chân (Khoa Triết học, Đại học Tô Châu). Một mặt,
ông dựa vào tư liệu trong lịch sử của Trung Quốc cho rằng ở thế kỷ thứ V,
thời Nam Triều, Nho giáo đã kết hợp với Phật giáo, Đạo giáo thành “Tam
giáo”, “hiển nhiên là nó đã được thừa nhận là “một giáo” lâu rồi”. Mặt
khác, ông dựa vào những phát biểu của một số học giả có quyền uy của Âu,
Mỹ trong thời cận hiện đại để biện hộ cho luận điểm của mình. Ông nhắc
tới cuốn sách Tôn giáo của Trung Quốc: Nho giáo và Đạo giáo (xuất bản
năm 1915) của học giả người Đức Max Weber mà ở đó đã cho Nho giáo là
tôn giáo. Hoặc ông nhắc tới cuốn sách Sự xung đột của các nền văn minh
(xuất bản năm 1993) của học giả nổi tiếng người Mỹ hiện nay là
Huntington. Trong cuốn sách đó, Huntington cho văn minh Trung Quốc là
“văn minh Nho giáo”, cho Trung Quốc là “quốc gia Nho giáo”. Trên cơ sở
đó, ông kết luận Nho giáo cũng là một tôn giáo.
Dù cùng công nhận Nho giáo là một tôn giáo, song sự nhận định của các
học giả cũng có những mức độ và sắc thái khác nhau. Giáo sư Nhậm Kế
Dũ (nguyên Trưởng Khoa Triết học, Đại học Bắc Kinh, nguyên Viện
trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung
Quốc) vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX đã cho Nho giáo cũng là một
tôn giáo, nay làm rõ thêm sắc thái tôn giáo của Nho giáo. Trong cuộc hội
thảo “Nho học, Nho giáo và tôn giáo học”, Nhậm Kế Dũ nêu lên rằng: So
với tôn giáo phương Tây, tôn giáo kiểu Nho giáo của Trung Quốc có sắc

thường của Khổng giáo. Song, ý kiến này không gây được sự hưởng ứng của
các học giả khác.
Tính chất tôn giáo của Nho trong sự nhìn nhận của giới học thuật Trung
Quốc hiện nay đã rõ. Nhưng là một học thuyết bao gồm nhiều nội dung,
mang nhiều tính chất như đạo Nho thì việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vẫn
là một điều cần thiết.
6. Xây dựng và phát triển “Tân Nho học” trong giai đoạn hiện nay
“Tân Nho học” vốn là khái niệm do người phương Tây dùng để chỉ “Lý
học”, tức Nho học Tống – Minh để phân biệt với Nho học trước Tần. Đầu
thế kỷ XX, sau phong trào Ngũ Tứ (1919), người Trung Quốc dùng khái
niệm “Đương đại Tân Nho gia” để chỉ một dòng phái văn hoá tư tưởng chủ
trương kế thừa, phát huy tư tưởng Nho gia và tư tưởng Đông – Tây kết
hợp, nhằm tạo nên một sự chuyển hoá hiện đại của tư tưởng nhà Nho. Mấy
thập kỷ nay, trong khu vực người Hoa sống ở hải ngoại, cũng xuất hiện
một tư trào tân Nho học. Tư trào này có những tên gọi khác nhau. Lý Trạch
Hậu và Quách Nghi (Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc)
gọi đó là “Tân Nho gia hiện đại”, hoặc “Lý học Tống – Minh hiện đại”.
Thành Trung Anh (Đại học Honolulu, Hoa Kỳ) gọi là “Tân tân Nho học”.
Lâm An Ngô (Đại học Sư phạm, Đài Loan) gọi là “Hậu Tân Nho học” và
có một số người khác vẫn gọi là “Tân Nho học”. Nói chung, nhiều người
quen gọi là “Tân Nho học”.
Tân Nho học, nếu kể từ đầu thế kỷ XX, đã có lịch sử khoảng 80 năm.
Trong khoảng thời gian này, đã có mấy lớp nhà Nho được xem là nhà Nho
Tân Nho học. Quách Nghi, trong bài Lược bàn về sự triển khai hiện đại
của Nho học, nêu lên rằng, Tân Nho học đã trải qua 3 thế hệ, thế hệ thứ
nhất là Lương Thấu Minh (1893 – 1988), Hùng Thập Lực (1885 –
1968),…; thế hệ thứ hai là Đường Quân Nghị (1909 – 1978), Mâu Tông
Tam (1909 – 1993),…; thế hệ thứ ba là Đỗ Duy Minh, Thành Trung
Anh,… Ở thế hệ thứ ba thì Đỗ Duy Minh là nổi tiếng hơn cả. Ông này vừa
là giáo sư Đại học Harvard, vừa là Viện trưởng Viện Harvard Yenching

Đề cập đầu tiên tới việc xây dựng Tân Nho học hiện đại là người Hoa hải
ngoại. Người Trung Quốc đại lục đã đi sau họ một bước. Từ năm 1949 đến
nay, tình hình nghiên cứu Nho học ở Trung Quốc đại lục có thể chia làm
bốn giai đoạn: giai đoạn thứ nhất từ 1949 – 1966, chủ yếu là phân tích tư
tưởng phong kiến của Nho giáo; giai đoạn thứ hai từ cuối 1966 – 1977 là
giai đoạn “cách mạng văn hoá vô sản”, Nho giáo lúc này được xem là đối
tượng để phê phán; giai đoạn thứ ba từ 1978 đến cuối những năm 80, Nho
học được nghiên cứu dưới quan điểm đa nguyên văn hoá; giai đoạn thứ tư
từ đầu những năm 90 cho đến nay, hướng nghiên cứu dần đi đến khẳng
định giá trị tích cực của Nho giáo. Nhiều học giả Trung Quốc đại lục thấy
phải phục hồi và phát triển Tân Nho giáo (cũng gọi là Tân Nho học). Giữa
họ và người Hoa hải ngoại đã có sự hợp lưu.
Từ khi giới học giả Trung Quốc đại lục tham gia vào việc phục hưng và
phát triển Nho học thì việc nghiên cứu và truyền bá Nho học mở ra một
thời kỳ mới với số người tham gia đông đảo hơn, công việc triển khai có
quy mô lớn hơn và ý đồ đề cao giá trị Nho học cũng mãnh liệt hơn. Về đại
thể, công việc được triển khai trên bốn lĩnh vực cơ bản: xây dựng phương
hướng nghiên cứu, phát triển; xây dựng lý thuyết mới có nguồn gốc từ
Nho; truyền bá kiến thức Nho học cho nhân dân và tổ chức, chỉ đạo điều
hành các việc trên.
Phương hướng nghiên cứu, phát triển Nho học là điều khó khăn nhất và
cũng phức tạp nhất. Hiện còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Đỗ Duy Minh
mới nêu lên nguyên lý chung là “phải sáng tạo” trong nghiên cứu. Thành
Trung Anh thì nêu được cụ thể hơn. Ông nêu lên hai ý: một là, về phương
pháp, cần phải chỉnh đốn, dung hợp một cách sáng tạo giá trị của Nho học
với giá trị của phương Tây; hai là, bộ mặt của Nho học mới phải thể hiện
được tính cổ điển của Trung Quốc và tính hiện đại của phương Tây. Tiền
Tốn (Viện Nghiên cứu văn hoá tư tưởng, Đại học Thanh Hoa) chủ trương
cần phải tổng hợp, sáng tạo trên cơ sở những ưu việt của hai nền văn hoá
Đông – Tây và phải trở về với cái học cũ của Nho học - cái học “hội

vào lứa tuổi thanh thiếu niên, hướng vào các giới thương nghiệp, xí nghiệp,
nông thôn, trường học, v.v Công việc này hiện đã bắt đầu và đang còn đợi
kết quả.
Lĩnh vực chỉ đạo và điều hành việc nghiên cứu và truyền bá Nho học hiện
nay thuộc về Hội Liên hợp Nho học quốc tế do ông Diệp Tuyển Bình,
nguyên Chủ tịch tỉnh Quảng Đông, làm hội trưởng và 200 học giả Trung
Quốc và nước ngoài hợp thành “Ban Trị sự” (Ban lý sự) có trách nhiệm tổ
chức, điều hành, cùng với 100 học giả Trung Quốc và nước ngoài hợp
thành Ban Cố vấn, có trách nhiệm làm tham mưu. Tổ chức này đã xây
dựng được chương trình công tác 5 năm (2004 – 2009) và ấn định được
lịch công tác hàng năm, cùng với tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, tập
hợp, biên soạn các kỷ yếu hội thảo, các tài liệu giáo khoa Nho học, v.v Có
thể thấy, việc nghiên cứu và truyền bá Nho học do có tổ chức nên đã đi vào
nề nếp.
Công phu thì như vậy, nhưng bộ mặt mới của Tân Nho học đã hình thành
chưa? Xem ra rất khó nói, vì phong trào còn đang ở chặng đầu. Khí thế thì
có, nhưng thành công chưa rõ ràng. Thậm chí, có người còn nói phải tới
trăm năm nữa mới thấy rõ kết quả, như phát biểu của Đỗ Duy Minh. Ông
nói: Sự phát triển của thời kỳ thứ ba Nho học, đại khái là chí ít ra cũng phải
một trăm năm sau mới thấy được một số nét tương đối rõ của nó. Trước
mắt chưa đủ điều kiện để nhận ra hình thù của nó.
7. Phương hướng xây dựng triết học Nho học hiện đại
Triết học và Nho học là hai lĩnh vực khác nhau, nhưng trong Nho học có
triết học; hơn nữa, triết học truyền thống Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với
Nho học. Trên một ý nghĩa nhất định, tìm hiểu nội dung và kết cấu của triết
học trong Nho học hiện đại cũng là tìm hiểu bộ mặt của triết học Trung
Quốc hiện đại. Vì vậy, đã có một số người đề cập đến vấn đề này.
Nhưng trong truyền thống, Trung Quốc có triết học hay không? Một số nhà
nghiên cứu cho rằng, trong lịch sử, các nhà tư tưởng chỉ bàn đến “đạo”,
không đề cập tới bản thể luận và nhận thức luận như phương Tây, nên

chúng, có thể nói đó là nhà triết học; còn những học giả nào tuy chưa xây
dựng được một hệ thống siêu hình học, thậm chí chưa nêu ra được cách
nhìn căn bản đối với thế giới, nhưng đã nêu ra được tư tưởng độc đáo của
mình và tư tưởng đó đã có ảnh hưởng quan trọng đối với hiện thực hoặc lịch
sử, có thể gọi đó là nhà tư tưởng. Căn cứ vào tiêu chuẩn này, ông đã định vị
cho một số nhà Nho thời cận hiện đại. Ông cho nhà Nho Lương Thấu Minh
chỉ là nhà tư tưởng, chứ không phải là nhà triết học; còn các nhà Nho Hùng
Thập Lực, Phùng Hữu Lan vừa là nhà tư tưởng, vừa là nhà triết học. Quan
điểm này của Quách Nghi có một ý nghĩa nhất định đối với việc tìm hiểu lịch
sử triết học Trung Quốc.
Sau vấn đề giới định nhà triết học và nhà tư tưởng, một số học giả bàn tới
phương hướng xây dựng triết học trong Nho học mới hiện đại. Tiền Tốn,
sau khi nhắc lại quan điểm của nhà triết học Trương Đại Niên về lý luận
sáng tạo tổng hợp đối với văn hoá ở những năm 80 của thế kỷ XX, đã đưa
ra chủ trương phải sáng tạo Nho học mới trên cơ sở những ưu việt của văn
hoá phương Đông và cả văn hoá phương Tây. Quách Nghi thì chủ trương
quay về với Nho học trước Tần. Ông nói: Chúng ta ngày nay cần phải phát
triển Nho học, không những cần khai phá tư liệu tư tưởng của Lý học Tống
Minh, mà quan trọng hơn là trở về nguồn tư liệu của Nho học thời trước
Tần. Ông cho rằng, hình thái hoàn cảnh của siêu hình học trước Tần đã có
trong các sách Trung dung và Mạnh Tử, ở đó đã nêu lên các vấn đề cơ bản
của triết học là “Thiên”, “Tính”, “Tâm”, nay nếu đưa thêm vào “giới hiện
tượng” (hiện tượng giới) thì đủ bốn tầng lớp của triết học Nho gia trước
Tần. Căn cứ vào đó, ông nói: Tôi cải tạo triết học Nho gia thành bốn thế
giới, tức là bản thể giới, tính thể giới, tâm thể giới và hiện tượng giới, trong
đó thì ba thế giới trước tạo thành siêu hình học. Song, ông cũng nói thêm
rằng, đó mới chỉ là nêu lên cái khung, còn cụ thể như thế nào thì còn phải
giới định và giải thích mới.
Chủ đề của cuộc hội thảo là Nho học, nên chưa thu hút được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm đến vấn đề triết học và xây dựng triết học mới ở

Cũng có người lợi dụng để trương lên lá cờ “Nho hoá Đảng Cộng sản”,
“Nho hoá Trung Quốc”, nhằm chống chủ nghĩa Mác, lấy ý thức Nho học
thay thế chủ nghĩa Mác ở Trung Qu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status