Khãa luËn tèt nghiÖp
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
4 CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI.
7
1.1. Sự hình thành của bảo hiểm tiền gửi trên Thế giới và Việt Nam. 7
1.1.1. Vài nét về bảo hiểm tiền gửi trên Thế giới và Việt Nam. 7
1.1.2. Mô hình bảo hiểm tiền gửi trên Thế giới và Việt Nam. 10
1.2. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi. 13
1.3. Mục tiêu của bảo hiểm tiền gửi. 15
1.4. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi. 15
1.5. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. 18
CHƯƠNG II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT
NAM 20
HIỆN NAY.
2.1. Vị trí và cơ cấu của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi. 20
2.1.1. Vị trí pháp lý của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và mối quan hệ giữa
Bảo hiểm tiền gửi với các cơ quan Nhà nước khác. 20
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. 22
2.1.3. Nội dung các quyền và nghĩa vụ cơ bản của Bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam. 23
2.2. Các quy định điều chỉnh về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. 29
2.3. Các quy định về chủ thể được hưởng quyền lợi bảo hiểm. 32
Ph¹m ThÞ V©n Anh
1
Khãa luËn tèt nghiÖp
2.4. Các quy định về loại tiền gửi và hạn mức tối đa được bảo hiểm, 34
mức phí bảo hiểm tiền gửi.
2.4.1. Các loại tiền bảo hiểm. 34
2.4.2. Hạn mức tiền gửi tối đa được bảo hiểm. 35
vụ trước mắt là “Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn
các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ – ngân
hàng”{1,tr.197}. Để thực hiện nhiệm vụ này, việc nghiên cứu và hoàn thiện
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi – một thiết chế mới hình thành ở Việt Nam về an
toàn trong kinh doanh tiền tệ – ngân hàng là một việc làm hết sức cần thiết.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế chậm phát triển và đang từng bước
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước xu thế mở cửa và hội
nhập kinh tế quốc tế trên phạm vi toàn cầu, đây sẽ là một thách thức to lớn đối
với nền kinh tế chậm phát triển như Việt Nam. Hoạt động ngân hàng tại Việt
Nam và hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức
của quy luật thị trường đầy rủi ro trong hoạt động kinh doanh luôn đe dọa sự ổn
định của từng ngân hàng nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn lạnh mạnh cho
hoạt động kinh doanh tiền tệ – ngân hàng, ngăn ngừa sự đổ vỡ hàng loạt tổ chức
tín dụng, cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền,
Ph¹m ThÞ V©n Anh
3
Khãa luËn tèt nghiÖp
ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo
hiểm tiền gửi, là cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi đầu tiên ở Việt
Nam ra đời, bảo hiểm tiền gửi được coi là một thiết chế, một công cụ mới trong
việc đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam. Tiếp theo đó, ngày
09/11/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 218/1999/QĐ-TTg
về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; Nghị định số 109/2005/NĐ- CP
về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 89 . Như vậy, cùng với sự ra
đời của hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam thì pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi cũng được hình thành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực
bảo hiểm tiền gửi.
Tuy pháp luật đã hoàn thiện ở một mức độ nhất định nhưng pháp luật về
Ph¹m ThÞ V©n Anh
5
Khãa luËn tèt nghiÖp
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI.
1.1. SỰ HÌNH THÀNH CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT
NAM.
1.1.1. Vài nét về bảo hiểm tiền gửi.
Trên Thế giới, an toàn trong kinh doanh và yêu cầu bức thiết đối với hoạt
động của các tổ chức tín dụng. Để đảm bảo an toàn trong kinh doanh của các tổ
chức tín dụng, mỗi nhà nước đều đưa ra những quy định pháp luật về an toàn
trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng, ví dụ như giới hạn cho vay đối với
một khách hàng; tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn qua đó nhằm bảo đảm hơn độ an
toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trên thực tế, các biện pháp này
cũng đã hạn chế được phần nào những rủi ro, tạo ra môi trường ổn định cho
hoạt động của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, dường như những biện pháp đó
vẫn chưa đủ tạo niềm tin cho người gửi tiền cũng như đảm bảo an toàn đến mức
cao nhất cho các tổ chức tín dụng.
Nhận thức được rằng ổn định tài chính không những là lợi ích của công
chúng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với cả nền kinh tế quốc gia nên việc
bảo vệ tiền gửi từ lâu đã được nhiều quốc gia quan tâm. Khi hoạt động bảo
Ph¹m ThÞ V©n Anh
6
Khãa luËn tèt nghiÖp
hiểm tiền gửi công khai chưa ra đời thì bảo vệ tiền gửi đã được nhiều quốc gia
thực hiện dưới các hình thức “bảo vệ ngầm”. Hình thức bảo vệ ngầm là việc
Ngân hàng Trung ương hay Chính phủ có cam kết không công khai rằng sẽ đảm
bảo hoàn trả tiền gửi cho người gửi tiền nếu có hiện tượng đóng cửa ngân hàng
xảy ra hay một ngân hàng không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Vì
đây là cam kết không công khai nên không hình thành hợp đồng bảo hiểm giữa
Quốc tế được thành lập, có trụ sở tại Thụy Sỹ với sự tham gia của nhiều hệ
thống bảo biểm trên thế giới. Điều đó, đánh dấu tầm quan trọng của bảo hiểm
tiền gửi đã được các quốc gia cùng quan tâm và cùng phát triển hoạt động bảo
hiểm tiền gửi trên toàn thế giới.
Ở nước ta, sự đổ vỡ của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân vào cuối những
năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ trước đã để lại hậu quả không tốt về
mặt kinh tế, chính trị và xã hội trong khoảng một thời gian dài sau đó. Sau sự
đổ vỡ trên thì Nhà nước ngành ngân hàng đã nghĩ đến việc thiết lập mô hình
bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần
duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn lành
mạnh của hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, ý tưởng này ban đầu được hình
thành một cách chậm chạp do những hạn chế về mặt nhận thức nói chung cũng
như khó khăn về mặt tài chính của Nhà nước. Việc bảo hiểm tiền gửi cho người
gửi tiền tại thời điểm này rất manh mún và mang tính chất tình thế, thể hiện qua
việc mới chỉ có Bộ tài chính ban hành Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn và Bảo Việt là tổ
chức thực hiện nghiệp vụ này. Việc nghiên cứu tìm ra một mô hình bảo hiểm
tiền gửi ở Việt Nam chỉ thực sự được nghiên cứu một cách nghiêm túc từ năm
1997 khi Quốc hội thông qua hai đạo luật quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng
vào tháng 12 năm 1997 là Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ
chức tín dụng. Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, những thuận lợi và khó
khăn của Việt Nam, tháng 5/1998 Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao
trách nhiệm cho ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây
Ph¹m ThÞ V©n Anh
8
Khãa luËn tèt nghiÖp
dựng Nghị định của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và đề án thành lập tổ chức
bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam. Sau hơn một năm nghiên cứu khảo sát và thẩm
định, thông qua; ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi, ngày 09/11/1999 Thủ tướng Chính phủ
- Được Nhà nước cấp vốn ban đầu khi thành lập.
- Thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước chịu trách nhiệm giám sát, thanh
tra. Sự can thiệp của Nhà nước vào loại hình tổ chức này là trực tiếp, mang tính
hành chính – kinh tế, và thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những
người gửi tiền nhỏ.
- Việc chi trả tiền gửi được bảo hiểm hay áp dụng các biện pháp hỗ trợ tài
chính cho các tổ chức tham gia bảo hiểm hoàn toàn do cơ quan bảo hiểm tiền
gửi quyết định.
- Tuy nhiên, quy mô can thiệp của cơ quan bảo hiểm tiền gửi là có giới
hạn, tùy thuộc vào thực lực tài chính của bảo hiểm tiền gửi và chi phí giới hạn
theo luật định.
- Việc hỗ trợ, giám sát, xử lý của cơ quan bảo hiểm tiền gửi được thực
hiện với tư cách Nhà nước.
* Ưu điểm: của mô hình này là việc tham gia bảo hiểm tiền gửi là bắt
buộc theo luật định nhằm bảo vệ những người gửi tiền, đặc biệt là những người
gửi tiền nhỏ một cách trực tiếp. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi này có quyền hạn
như một cơ quan trực thuộc Chính phủ, được ban hành các quy định mang tính
pháp lý, vì vậy hoạt động của nó tuân thủ các quy tắc luật định, ít hoặc không
phụ thuộc vào người quản lý, mang tính ổn định đối với những người được bảo
hiểm. Với sự tham gia trực tiếp của Nhà nước, bảo hiểm tiền gửi tạo ra một cơ
chế giám sát, đánh giá, phân loại các tổ chức tín dụng, xử lý những khó khăn
của các tổ chức tín dụng, đồng thời có thể nhận được sự hỗ trợ về tài chính của
Chính phủ khi cần thiết.
Ph¹m ThÞ V©n Anh
10
Khãa luËn tèt nghiÖp
* Nhược điểm: của mô hình là thường dựa trên cơ chế cấp vốn trước nên
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của các quốc gia đều có quy định về hạn mức bồi
thường tối đa đối với mỗi khách hàng gửi tiền sau khi một tổ chức tín dụng
thành viên thực sự bị phá sản. Quá trình giải quyết khi có vụ phá sản Ngân hàng
chia xẻ chi phí bồi thường cho người gửi tiền. Mô hình này cũng thiếu sự hỗ trợ
về vốn khi cần thiết của Chính phủ . Việc thanh toán tiền bảo hiểm, ngoại trừ
một số ít quốc gia trả bảo hiểm ở mức cao, đa số còn lại thường trả bảo hiểm ở
mức thấp, ví dụ như áo, Luxembuorg, Hà Lan, Thụy Sỹ đều đưa ra mức thanh
toán tiền bảo hiểm thấp hơn GDP bình quân đầu người. Chỉ có ý là đưa ra mức
thanh toán bảo hiểm cao hơn 5 lần so với bình quân GDP/đầu người và Đức có
mức thanh toán bảo hiểm cao là gấp 2 lần so với bình quân GDP/đầu người
{23}. Ngoài ra, thông tin về tình trạng tài chính của tổ chức tín dụng thành viên
từ Ngân hàng Trung ương hoặc tổ chức giám sát thuộc Chính phủ đến hệ thống
bảo hiểm tiền gửi thường khó khăn hoặc chậm trễ.
ở Việt Nam áp dụng mô hình bảo hiểm tiền gửi duy nhất trực thuộc
Chính phủ quản lý: Được Nhà nước cấp vốn ban đầu khi thành lập; Thuộc sở
hữu Nhà nước, do Nhà nước chịu trách nhiệm giám sát, thanh tra. Sự can thiệp
của Nhà nước vào loại hình tổ chức này là trực tiếp, mang tính hành chính –
kinh tế, và thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những người gửi tiền
nhỏ; Việc chi trả tiền gửi được bảo hiểm hay áp dụng các biện pháp hỗ trợ tài
chính cho các tổ chức tham gia bảo hiểm hoàn toàn do cơ quan bảo hiểm tiền
gửi quyết định;Sự can thiệp của cơ quan bảo hiểm tiền gửi chỉ giới hạn, tùy
thuộc vào thực lực tài chính của bảo hiểm tiền gửi và chi phí giới hạn theo luật
định;
1.2. Khái niệm về bảo hiểm tiền gửi
Do nhu cầu bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền ngày càng gia tăng, cũng
như để ổn định nền kinh tế quốc gia, các nhà quản lý về tài chính – ngân hàng
Ph¹m ThÞ V©n Anh
12
Khãa luËn tèt nghiÖp
trên thế giới đã kêu gọi mỗi quốc gia cần có một định nghĩa mang tính chất rõ
ràng về bảo hiểm tiền gửi, thông qua đó nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi
tiền. Tuy nhiên đến nay, chưa có một định nghĩa độc lập và chính thống về bảo
hiểm tiền gửi trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam. Để tìm hiểu khái niệm
- Bảo vệ quyền lợi của người gửi đặc biệt là những người gửi tiền nhỏ, đối
tượng có hạn chế nhất định trong tiếp cận thông tin về điều hành và tình hình
hoạt động của các tổ chức tài chính .
- Góp phần đảm bảo cho hệ thống tài chính ổn định và tạo điều kiện cho
các giao dịch tài chính có hiệu quả hơn bằng cách phòng tránh đổ vỡ ngân
hàng;
- Góp phần xây dựng một thị trường bảo hiểm tiền gửi có tính cạnh tranh
và bình đẳng cho các tổ chức tài chính có quy mô và trình độ phát triển khác
nhau;
- Xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức bảo
hiểm tiền gửi, Chính phủ và giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế trong trường hợp
có ngân hàng đổ bể {25}.
Còn theo tác giả Garci G.G.H 2001 thì mục đích của bảo hiểm tiền gửi là
nhằm cô lập các hoạt động xấu, các đổ vỡ trong hoạt động tài chính và ngân
hàng; nhằm bảo vệ người đóng thuế; và nhằm loại bỏ tình trạng thiếu minh
bạch trong hoạt động kinh doanh tài chính và ngân hàng {26}. Theo chuyên gia
Kuritzkes và các nhà nghiên cứu khác thì bảo hiểm tiền gửi được thiết kế nhằm
ngăn chặn người gửi tiền khỏi các “phản ứng quá đỗi” đối với các thông tin thất
thiệt về ngân hàng {27}.
Người gửi tiền nhỏ mà bảo hiểm tiền gửi đề cập và “giành” quan tâm
nhất ở đây là tầng lớp dân cư có thu nhập thấp. Tầng lớp dân cư này có những
hạn chế nhất định trong việc tiếp cận và phân tích thông tin về hoạt động của tổ
chức huy động tiền gửi. Đời sống của những người gửi tiền thuôc tầng lớp dân
Ph¹m ThÞ V©n Anh
14
Khãa luËn tèt nghiÖp
cư có thu nhập thấp thường bị tác động nhiều hơn các khách hàng gửi tiền khác
khi có đổ bể ngân hàng xảy ra.
Mục đích của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam quy định tại điều 1 nghị định số
89/1999/NĐ-CP là ‘hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam nhằm bảo vệ
Như vậy, tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã giúp ngân hàng gặp khó khăn tiếp
tục thực hiện phần cơ bản của chức năng thanh toán của họ là thanh toán cho
người gửi tiền. Mặc dù, đối với ngân hàng bị đóng cửa và phải yêu cầu cầu
được chi trả tiền bảo hiểm, việc duy trì lòng tin của công chúng đối với ngân
hàng lúc này không còn là yếu tố quan trọng nữa. Song điều đó lại rất quan
trọng đối với uy tín của cá ngân hàng khác đang hoạt động tốt và rộng hơn là
đối với phần còn lại của hệ thống ngân hàng quốc gia. Điều này sẽ được đảm
bảo khi có can thiệp kịp thời và hiệu quả của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
b. Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng của
quốc gia phát triển.
Vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi đối với tiến trình phát triển hệ
thống ngân hàng được thể hiện dưới ba góc độ:
- Hoạt động bảo hiểm tiền gửi có tác dụng tạo điều kiện thuận loại cho
các ngân hàng mới ra đời hoặc ngân hàng với quy mô hoạt động hạn chế có
điều kiện phát triển tốt hơn.
Thông thường người gửi tiền thường cảm thấy yên tâm khi gửi tiền ở
ngân hàng có quy mô hoạt động lớn và có bề dày phát triển, bởi vì học có tâm
lý cho rằng các ngân hàng lớn nếu có vấn đề thì sẽ có hỗ trợ của nhà nước để
tránh tình trạng đóng cửa xảy ra. Khi có hoạt động bảo hiểm tiền gửi với các
quy định của pháp luật về việc bảo hiểm tiền gửi là bắt buộc, tất cả các ngân
hàng đều được yêu cầu tham gia bảo hiểm tiền gửi. Vì vậy, tâm lý lo ngại có thể
mất tiền gửi do ngân hàng nhận tiền gửi “bị đóng cửa” dù tại ngân hàng nhỏ
hay ngân hàng mới đi vào hoạt động không còn phổ biến trong cộng đồng
Ph¹m ThÞ V©n Anh
16
Khãa luËn tèt nghiÖp
người gửi tiền. Điều này tạo điều kiện cho các ngân hàng nhỏ hoặc ngân hàng
mới đi vào hoạt động có điều kiện huy động vốn thuận lợi hơn.
- Hoạt động bảo hiểm tiền gửi giúp các ngân hàng thực sự yếu kém,
không thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân
các điều kiện thuận lợi và thỏa đáng đối với người gửi tiền. Nếu ngân hàng thực
sự gặp khó khăn, tổ chức bảo hiểm tiền gửi với những hoạt động bảo vệ người
gửi tiền thực chất là cung cấp bảo đảm cho người gửi tiền. Như vậy, tổ chức
bảo hiểm tiền gửi đã tạo ra các yếu tố gián tiếp để tạo điều kiện thuận lợi cho
ngân hàng trong huy động tiền gửi của dân cư {33, tr 97}.
1.5. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi là tổng thể các quy phạm pháp luật do
Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong lĩnh
vực bảo hiểm tiền gửi, bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể tham gia bảo hiểm tiền gửi, hạn mức bảo hiểm, đối tượng được bảo hiểm
tiền gửi, các trình tự, thủ tục chi trả bảo hiểm tiền gửi.
Kết luận :
Bảo hiểm tiền gửi là việc đảm bảo nghĩa vụ chi trả trong tương lai của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi cho các khoản tiền gửi khi các tổ chức tín dụng tham gia
bảo hiểm tiền gửi gặp rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán, đây là loại hình
bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Đối tượng được bảo hiểm tiền gửi là nghĩa vụ
thanh toán các khoản tiền gửi (bao gồm cả gốc và lãi) của tổ chức nhận tiền gửi
đối với người gửi tiền.
Thông qua việc thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động bảo hiểm
tiền gửi thì cơ quan Bảo hiểm tiền gửi đã góp phần bảo vệ quyền lợi của người
gửi tiền và đảm bảo, duy trì tính an toàn của hoạt động ngân hàng trong một
quốc gia, sự ổn định cho cả hệ thống tài chính.
Ph¹m ThÞ V©n Anh
18
Khãa luËn tèt nghiÖp
Ph¹m ThÞ V©n Anh
19
Khãa luËn tèt nghiÖp
CHƯƠNG II: MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO
HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG.
- Tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị khi cần thiết;
- Nhận các loại báo cáo định kỳ và đột xuất, bao gồm cả báo cáo kiểm soát
của Ban kiểm soát. Nghị quyết của Hội đồng quản trị. Trong trường hợp phát
hiện những sai phạm trong báo cáo, không đồng ý với nội dung Nghị quyết của
Hội đồng quản trị thì trực tiếp làm việc với Hội đồng quản trị xem xét để thống
nhất xử lý hoặc điều chỉnh lại nội dung Nghị quyết, trường hợp các sai phạm
trong hoạt động và nội dung Nghị quyết của Hội đồng quản trị trái với Nghị
định của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và các văn bản khác thì báo cáo Thủ
tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Tại điều 26 Điều lệ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/6/2000 quy
định thì Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước
trong việc chấp hành các quy định về bảo hiểm tiền gửi. Bên cạnh đó, bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam còn phải chấp hành chế độ thông tin báo cáo về các vấn đề
liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi theo quy định tại Nghị định
89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi và phối hợp với Ngân hàng Nhà nước
trong một số lĩnh vực như: giám sát và kiểm tra các tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi; áp dụng các biện pháp xử lý đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi.
b. Quan hệ giữa Bộ Tài chính và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Theo quy định tại điều 25 Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày
28/6/2000 thì Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài chính
đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện và
kiểm tra hoạt động thu chi tài chính, các chế độ tài chính, kế toán và tổ chức bộ
máy hạch toán, kế toán của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Ph¹m ThÞ V©n Anh
21
Khãa luËn tèt nghiÖp
Bên cạnh đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam còn chịu sự quản lý của Bộ
Tài chính với tư cách là cơ quan được Chính phủ giao thực hiện một số chức
quản lý Nhà nước như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính.
- Ban Kiểm soát có 3 thành viên chuyên trách và một số thành viên kiêm
nhiệm, trong đó có một thành viên là Trưởng Ban. Các thành viên Ban Kiểm
soát (ngoài Trưởng Ban) do Chủ tịch Hội đồng quản trị bổ nhiệm, trên cơ sở đề
nghị của Trưởng Ban kiểm soát. Ban kiểm soát được thành lập nhằm giúp Hội
đồng quản trị thực hiện việc giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam trong điều hành hoạt động, chấp hành pháp luật và Điều lệ của
bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Do vậy, Ban kiểm soát được trao một số nhiệm vụ
và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ nêu trên. Nhiệm vụ và quyền hạn
của Ban Kiểm soát được quy định cụ thể tại Điều 17 của Điều lệ.
-Tổng Giám đốc là đại diện pháp nhân của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam,
chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về điều hành hoạt
động của Việt Nam Việt Nam. Giúp việc cho Tổng Giám đốc có một số Phó
Tổng Giám đốc. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Phó Tổng Giám đốc do Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng Giám đốc được quy định cụ thể tại Điều 19
của Điều lệ.
- Ngoài cơ quan trung ương của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là Hội sở
chính có trụ sở tại Hà Nội thì Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam còn có một mạng
lưới hoạt động là hệ thống các Chi nhánh khu vực tại các địa bàn kinh tế trọng
điểm trên phạm vi cả nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam giao đồng thời đại diện cho bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
trong việc thiết lập, xử lý các mối quan hệ với các cơ quan nhà nước, cơ quan
có thẩm quyền, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đối với công chúng trên địa
bàn khu vực và với các tổ chức khác có liên quan. Chi nhánh bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam còn được giao nhiệm vụ theo dõi, nắm bắt tình hình kinh tế – xã hội,
Ph¹m ThÞ V©n Anh
23
Khãa luËn tèt nghiÖp
tình hình hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên địa bàn và
Mục VIII Thông tư số 03/2000/TT-NHNN5 khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi bị phá sản thì bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được quyền tham gia quá trình
quản lý và thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định
của Luật Phá sản.
Tại điều 20 của Nghị định số 109/2005/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung “Tổ
chức bảo hiểm tiền gửi trở thành chủ nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
với số tiền bảo hiểm đã chi trả. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phân chia giá
trị tài sản theo thứ tự thanh toán như đối với người gửi tiền trong trường hợp tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị buộc giải thể do không có khả năng thanh
toán được các khoản nợ đến hạn hoặc bị phá sản theo quy định của pháp luật về
giải thể, phá sản. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được quyền tham gia vào quá trình
quản lý,thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định
của pháp luật”
- Quyền được trở thành chủ nợ đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi bị phá sản với số nợ tương ứng với số tiền bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã
chi trả bảo hiểm tiền gửi. Tại Điều 20 Nghị định số 109/2005/NĐ-CP quy định
“trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, thì tổ chức
bảo hiểm tiền gửi trở thành chủ nợ đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
đó với số tiền mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã chi trả cho người gửi tiền.”. Tuy
nhiên, vì các tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, nên theo các
quy định tại Luật Phá sản năm 2004 thì thủ tục giải quyết phá sản đối với các tổ
chức tín dụng cũng khác hơn so với loại hình doanh nghiệp khác. Chính vì thế,
trên thực tế có rất nhiều tổ chức tín dụng đã bị mất khả năng thanh toán và bị cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền có văn bản chấm dứt hoạt động nhưng vẫn chưa
được giải quyết để phá sản. Trong trường hợp này bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
đã thực hiện chi trả tiền bảo hiểm nhưng việc xác định tư cách chủ nợ của bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam đối với các tổ chức đó trong việc truy đòi khoản tiền đã
Ph¹m ThÞ V©n Anh
25