vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo BLHS việt nam - Pdf 21

1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong số mười nước trồng rừng nhiều nhất thế
giới.Nằm ở vùng Đông Nam Á, với diện tích 330.922,5 km
2
, khí hậu nhiệt
đới gió mùa, cây cối quanh năm xanh tốt, vậy nên, Việt Nam có thế mạnh
về phát triển nông nghiệp, có diện tích rừng và đất rừng chiếm khoảng 30%
diện tích lãnh thổ. Rừng là loại tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá có
khả năng tái sinh và có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của
con người. Do vậy, khai thác rừng một cách bền vững cũng như bảo vệ
rừng ở Việt Nam trở thành một vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trong khi đó, có một thực tế đáng lo ngại là hiện nay cùng với quá
trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, rừng đã trở thành đối tượng
khai thác của nhiều cá nhân, tổ chức với mục đích vụ lợi. Tội phạm vi
phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã gây ra cho xã hội những
hậu quả nghiêm trọng đồng thời trở thành một nguy cơ, thách thức to lớn,
cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương phát triển kinh tế mà Đảng,
Nhà nước đã đề ra và đe doạ nghiêm trọng đến sự cân bằng môi trường
sinh thái.
Tuy nhiên, việc xử lý tội phạm này bằng pháp luật hình sự vẫn chưa
hiệu quả. Số vụ án bị xét xử về tội phạm này còn rất nhỏ so với thực trạng
hoạt động khai thác rừng trái pháp luật. Việc áp dụng quy định của luật
hình sự trong thực tiễn xét xử tội phạm này còn tồn tại những hạn chế.
Nguyên nhân một phần của tình trạng này là do các quy định có liên quan
của BLHS hiện hành còn có những bất cập, thiếu sự thống nhất. Vì thế các
quy định này cần được nghiên cứu để hoàn thiện.
Với việc thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp về tội “Vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo BLHS Việt Nam”, tác giả
2

3
Đức Hồng Hà: “Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng-
những tồn tại và vướng mắc cần tháo gỡ”, tạp chí Toà án nhân dân số 14
năm 2005, về những tồn tại và vướng mắc khi áp dụng quy định của BLHS
Việt Nam để xét xử các vụ án liên quan đến tội phạm này.
Ngoài ra, có một số nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm này như: luận
văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Văn Hà: Trách nhiệm hình sự đối với tội
vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và đấu tranh phòng
ngừa tội phạm này trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội, 2002 dưới góc độ tội phạm học; luận án tiến sỹ luật học của tác giả
Phạm Đình Xinh: “Hoạt động điều tra tội phạm vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng của cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý
và chức vụ” dưới góc độ điều tra tội phạm.
Như vậy, trong các công trình nghiên cứu trên, có công trình đã
nghiên cứu một cách khái quát về tội phạm này, có công trình thì dừng lại ở
từng vấn đề, từng khía cạnh cụ thể hoặc có công trình thì đi sâu nghiên cứu
hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung. Vì thế, với việc
thực hiện đề tài “Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
theo luật hình sự Việt Nam” tác giả mong muốn góp phần làm phong phú
hệ thống lý luận về tội phạm này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và pháp lý về tội phạm vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định của bộ luật hình sự
Việt Nam, khóa luận đi sâu vào phân tích những vấn đề lý luận cũng như
những dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng, làm rõ bản chất, mức độ nguy hiểm và những ảnh hưởng tiêu cực
của những hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đối
với nền kinh tế thị trường Việt Nam cũng như đối với môi trường sinh thái.
4

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng.
Chương 2: Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng và hình phạt đối với người phạm tội.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ
KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG
1.1. Một số vấn đề lý luận về tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng
Vấn đề lý luận được quan tâm đầu tiên là khái niệm tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Trên cơ sở Điều 8 BLHS về khái niệm tội phạm và Điều 175 BLHS,
có thể định nghĩa khái quát tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng như sau: “Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là
hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 175 BLHS, do người
có năng lực TNHS thực hiện do cố ý hoặc vô ý, xâm phạm những quy định
của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng”.
Xung quanh khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng, các quan điểm đưa ra dường như khá thống nhất. Ví dụ, tác giả -
Thạc sĩ Đinh Văn Quế cho rằng: “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng là hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các
quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng hoặc vận chuyển, buôn bán
gỗ trái phép”.[24, tr.321]
Tương tự như vậy, Thạc sĩ Nguyễn Mai Bộ định nghĩa tội phạm này như
sau: “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là hành vi khai thác trái
phép cây rừng, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép hoặc có hành vi khác vi phạm
các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng (nếu không thuộc các
trường hợp quy định tại các Điều 153, Điều 154 và Điều 189 BLHS) gây hậu

niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng như sau:
8
Tội vi phạm các qui định về khai thác và bảo vệ rừng là tội phạm vi
phạm pháp luật hình sự có các hành vi như khai thác trái phép cây rừng,
vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép hoặc có hành vi khác vi phạm các quy
định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng (nếu không thuộc các
trường hợp quy định tại các Điều 153, Điều 154 và Điều 189 BLHS 1999)
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này,
hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do
người có năng lực TNHS và đủ độ tuổi chịu TNHS thực hiện dưới hình
thức lỗi cố ý, vi phạm những quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ
rừng nói riêng cũng như xâm phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh
vực quản lý kinh tế nói chung.
Vấn đề lý luận tiếp theo mà tác giả muốn đề cập đến là khách thể của
tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Khách thể của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là
sự xâm phạm chế độ quản lý về khai thác và bảo vệ rừng. Nói đến rừng là
nói đến thiên nhiên, môi trường. Vậy nên, một câu hỏi được đặt ra là tại sao
khi xây dựng lên điều luật về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng, các nhà làm luật lại xếp tội phạm này ở chương XVI: các tội xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế mà không để ở chương XVII: các tội phạm về
môi trường ?
Theo hiểu biết của tác giả, rừng có nhiều lợi ích không chỉ đối với môi
trường sống của con người mà rừng còn mang lại lợi ích kinh tế khổng lồ
từ những cây gỗ quý, hiếm như: đinh, lim, sến, táu, trầm, hương v.v…
Những loại gỗ quý, hiếm này có giá trị rất cao trên thị trường. Không chỉ
dừng lại ở các loại gỗ quý hiếm, các loài động vật quý hiếm trong rừng như
báo, voi, hổ, tê giác v.v cũng là mục đích mà tội phạm hướng tới để thu
về lợi nhuận cao. Chính vì vậy mà tội phạm giàu lên nhanh chóng nhờ việc
9

quả của việc khai thác rừng trái phép là khôn lường. Việc đốt nương làm
rẫy đã thu hẹp rất nhiều diện tích rừng. Nguy hại nhất là việc làm đó đã phá
hủy vành đai rừng phòng hộ, dẫn đến hiểm họa sạt núi, lở đất và những cơn
lũ lớn không thể nào ngăn chặn được đang là mối đe dọa đối với chúng ta.
Kèm theo đó là sự nóng lên của trái đất, khí hậu thay đổi, thiên tai xảy ra
liên tục là những gì mà hành vi khai thác rừng bừa bãi đem lại.
Thực tế cho thấy, tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng ngày càng gia tăng. Bọn lâm tặc săn lùng gỗ ở khắp nơi. Muốn lấy
gỗ quý chúng chẳng ngại phá hại hàng trăm cây cối to nhỏ xung quanh. Vì
tiền, chúng bẫy hổ, săn gấu, bò tót, hươu, nai, lợn rừng… ngay cả trong
mùa sinh sản làm cho các loại thú quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, giảm
đi sự phong phú đa dạng của hệ sinh thái rừng.
Tài nguyên rừng nước ta trước đây bị đe dọa bởi những cuộc chiến
tranh kéo dài, ngày nay bị phá hoại bởi những hoạt động vô ý thức, vô
trách nhiệm, tùy tiện và thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng
nguồn tài nguyên này. Với những hậu quả không thể lường trước đó mà
việc đưa hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng từ chỗ
chưa là đối tượng của TNHS trở thành hành vi bị coi là tội phạm trong luật
hình sự là cần thiết.
Hình phạt đối với người phạm tội là vấn đề lý luận cuối cùng mà tác
giả muốn đề cập đến.
Với tính chất của tội phạm là loại tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,
mục đích mà tội phạm hướng tới là mục đích lợi nhuận và sự nguy hiểm
của tội phạm này, theo tác giả, luật nên quy định hình phạt phạt tiền là hình
11
phạt chính trong khung hình phạt cơ bản của tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng.
Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội khoản tiền nhất định
sung công quỹ nhà nước, tước đi những quyền lợi vật chất của người bị kết
án, tác động đến tình trạng tài sản của họ và thông qua đó tác động đến ý

các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đó là hình phạt cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Khi áp dụng là hình
phạt bổ sung đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng,
hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định sẽ được áp dụng cho những cán bộ làm công tác bảo vệ rừng khi họ có
hành vi vi phạm.Bởi nếu để người bị kết án tiếp tục đảm nhiệm những chức
vụ, làm những công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội. Họ có thể
tiếp tục lợi dụng chức vụ và quyền hạn của mình để phạm tội.
Một hình phạt bổ sung nữa mà luật nên quy định trong khung hình
phạt của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đó là hình
phạt tịch thu tài sản. Tịch thu tài sản sẽ áp dụng đối với người phạm tội rất
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Bởi tính chất của tội phạm là tội
liên quan đến kinh tế, tài sản mà người phạm tội có được rất có thể là do
phạm tội mà có. Và khi đó, để khối tài sản khổng lồ hơn nữa, tội phạm tiếp
tục dùng tài sản đó để đầu tư máy móc, công cụ v.v… để tiếp tục phạm tội.
Vậy nên tịch thu tài sản sẽ ngăn chặn được phần nào hành vi phạm tội của
tội phạm.
13
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội vi phạm các quy
định về khai thác và bảo vệ rừng
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cùng với việc
giải quyết các nhiệm vụ của cách mạng, Nhà nước ta đã quan tâm tới việc
bảo vệ các quan hệ xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế bằng việc ban hành
các văn bản hình sự quy định tội phạm và hình phạt trừng trị người có hành
vi phạm tội xâm hại trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội vi phạm các quy
định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng.
Ý thức được giá trị nhiều mặt của rừng, trong số những văn bản pháp
luật ban hành từ rất sớm như: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 về các tội
phá hoại công sản; Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 về các âm mưu và
hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân

các quy định pháp luật điều chỉnh những QHXH trong lĩnh vực bảo vệ
rừng.
Tuy ra đời từ rất sớm nhưng Thông tư 1303/BCN không được thực
hiện trong thực tiễn do bối cảnh toàn quốc kháng chiến chống thực dân
Pháp. Tuy vậy chúng ta cũng nhận thức được rằng việc bảo vệ tài nguyên
rừng luôn là vấn đề cấp thiết trong mọi thời kỳ và luôn được sự quan tâm
của Nhà nước ta.
Trong công cuộc kháng chiến, rừng càng tỏ rõ vai trò quan trọng đối
với an ninh quốc phòng. Vì vậy ngày 8/7/1952 Thủ tướng Chính phủ đã ra
Nghị định số 181/TTg về việc nghiêm cấm đốt phá rừng để bảo vệ đường
giao thông, trong đó quy định rõ “cấm không được đốt phá rừng trên
những sườn núi ở sát cạnh đường”. Ngay sau khi hoàn thành cuộc kháng
chiến chống Pháp, ngày 3/10/1955 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị
định 596/TTg quy định về các Điều lệ khai thác gỗ củi. Trong Nghị định
này tại mục B – cách xử lý đối với việc vi phạm điều lệ, Điều 13 điểm c
quy định: “những vụ phạm pháp có tính chất phá hoại sẽ do Tòa án xét xử
theo hình luật”.
15
Như vậy, việc điều chỉnh những QHXH liên quan đến lĩnh vực bảo vệ
rừng bằng chế tài hình sự được hình thành rất sớm trong các văn bản pháp
luật do Nhà nước ta ban hành và được phát triển qua từng thời kỳ.
Điều 12 Hiến pháp 1959 đã quy định: “các hầm mỏ, sông ngòi và
những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của
Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.
Như vậy, từ những quy định riêng lẻ chủ yếu phục vụ an ninh quốc
phòng, vai trò của rừng đã được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Điều
này có ý nghĩa to lớn bởi nó là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để ban hành
các văn bản pháp luật, điều chỉnh cụ thể các QHXH liên quan đến lĩnh vực
bảo vệ rừng.
Các nhà lập pháp ngày càng đánh giá cao vai trò quan trọng của rừng

trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970
Cố ý phá hoại tài nguyên rừng vì mục đích phản cách mạng thì bị xử
phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967”.
(1)
Có thể thấy,pháp lệnh đã quy định rõ các dấu hiệu pháp lý của tội
phạm như hành vi và hậu quả, các chế tài cũng đã từng bước được ban
hành ngày càng có mức độ nghiêm khắc cao hơn. Tuy đã có Pháp lệnh làm
cơ sở pháp lý nhưng thực tiễn đây là giai đoạn cả nước ta đang dồn sức
người sức của cho công cuộc giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.
Do vậy, những quy định của Pháp lệnh chưa được cụ thể hóa và chưa được
thực hiện sâu rộng trên phạm vi cả nước.
Năm 1975 đất nước thống nhất, trong không khí khẩn trương xây
dựng lại đất nước sau chiến tranh, lĩnh vực bảo vệ rừng cũng được đặc biệt
trú trọng. Nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành quy định về việc quản
lý và bảo vệ rừng. Đáng chú ý nhất là Thông tư số 3984 – LN/KL ngày
15/10/1977 của Bộ lâm nghiệp hướng dẫn việc xử phạt hành chính đối với
các vi phạm luật lệ về bảo vệ rừng. Đây là thông tư hướng dẫn cụ thể Pháp
1
()
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý 1999 – 2000, Vietnam Laws – cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật Việt
Nam, phiên bản quý 1 năm 2000).
17
lệnh quy định về việc bảo vệ rừng cả về phân hóa nhóm hành vi vi phạm và
định lượng xử lý hành chính, xác định ranh giới xử lý hành chính và truy
cứu TNHS. Thông tư chia làm IV phần, phần I về mục đích, yêu cầu của
việc xử phạt hành chính; phần II về nội dung của việc xử phạt hành chính;
phần III về các hành động vi phạm và mức độ xử phạt hành chính; phần IV
về việc thi hành xử phạt hành chính.
Trong toàn bộ nội dung của Thông tư 3984 /LN-KL, phần thứ III là
phần được xây dựng chi tiết, nêu cụ thể nhóm hành vi và định lượng tương

cập đến.
Nhìn chung, trong giai đoạn này việc xử lý hành vi vi phạm không
được quy định trong một điều luật độc lập mà việc xử lý thường viện dẫn
các tội danh khác trên cơ sở xác định mục đích là yếu tố quan trọng để xác
định tội danh.
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985
và có hiệu lực từ ngày 01/11/1986 là Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước
ta. Trong bộ luật này lần đầu tiên tội vi phạm các quy định về quản lý và
bảo vệ rừng đã được quy đinh tại một điều độc lập: Điều 181 chương VII-
Các tội phạm về kinh tế - Bộ luật hình sự năm 1985. Cụ thể Điều 181
BLHS năm 1985 quy định như sau: “Người nào khai thác trái phép cây
rừng, săn bắn trái phép chim thú, hoặc có hành vi khác vi phạm các quy
định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.
Điều 181 BLHS năm 1985 quy định những loại hành vi sau:
- Khai thác trái phép cây rừng
- Săn bắt trái phép chim thú
- Có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và
bảo vệ rừng. Hành vi khác ở đây được quy định theo các văn bản hướng
dẫn dưới luật. Đó có thể là hành vi vi phạm các quy định về phòng cháy
chữa cháy, về phòng trừ sâu bệnh v.v…
Như vậy, lần đầu tiên trong BLHS hành vi khai thác trái phép cây
rừng và vi phạm các quy định về bảo vệ rừng đã được quy định là một tội
phạm độc lập bằng một điều luật cụ thể. Khái niệm về một tội phạm khi có
hành vi xâm phạm đến tài nguyên rừng đã được định hình một cách khái
quát nhất.
19
Sau Bộ luật hình sự năm 1985, nhiều văn bản luật quan trọng điều
chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực bảo vệ rừng đã được ban hành nhằm tạo

xử phạt vi phạm hành chính hoặc đương sự hành hung người thi hành công
vụ, thì tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan Kiểm lâm chuyển sang tiến
hành khởi tố, điều tra vụ án theo thẩm quyền pháp luật quy định, hoặc lập
hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra cùng cấp để đề
nghị truy cứu TNHS.
Đây chính là những quy định cụ thể để vận dụng Điều 181 BLHS năm
1985 xử lý các hành vi vi phạm. Thực tế Điều 181 đã góp phần rất lớn
trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng.
Như vậy, Điều 181 BLHS năm 1985 không những điều chỉnh các
hành vi vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng mà còn điều chỉnh
các hành vi vi phạm quy định về quản lý rừng. Điều này chưa hợp lý và
còn chung chung. Bởi trong cùng một điều luật điều chỉnh quá nhiều hành
vi vi phạm như vậy sẽ dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng hình phạt, cũng
như xác định hành vi phạm tội và như vậy việc bỏ lọt tội phạm là không
tránh khỏi.
Hình phạt đối với người phạm tội theo Điều 181 BLHS năm 1985 trên
là chưa thỏa đáng. Bởi hành vi khai thác rừng trái phép, săn bắn trái phép
chim thú gây hậu quả nguy hại rất lớn cho xã hội trong khi luật quy định
chỉ bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng
đến ba năm. Quy định hình phạt đối với tội phạm này không tạo được sự
răn đe cần thiết đối với người phạm tội cũng như chưa đáp ứng được mục
đích phòng ngừa chung.
Quy định của Điều 181 BLHS năm 1985 đã xác định CTTP của tội vi
phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng với những dấu hiệu pháp lý
đặc trưng và điển hình. Tuy nhiên việc xác định dấu hiệu hành vi khách
quan của tội phạm cần dựa trên các văn bản pháp lý chuyên ngành trong
lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng. Trong khi đó, ở thời điểm BLHS năm
1985 được ban hành, Luật bảo vệ và phát triển rừng chưa được ban hành.
21

nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng cũng như đấu tranh phòng, chống tội
phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Năm 1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua BLHS của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và có hiệu lực từ ngày
21/12/2000. Một lần nữa tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng được đề cập tới tại Điều 175 Chương XVI – Các tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế - BLHS 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6
năm 2009)
So với Điều 181 BLHS năm 1985, Điều 175 BLHS năm 1999 đã có
một số thay đổi quan trọng.
Thứ nhất, về dấu hiệu định tội, nhà làm luật đãquy định tình tiết làm
ranh giới phân biệt giữa hành vi vi phạm với hành vi phạm tội;
Thứ hai, các dạng hành vi khách quan của tội vi phạm quy định về
khai thác và bảo vệ rừng đã được mô tả khá chi tiết;
Thứ ba, hình phạt bổ sung đối với tội phạm này được quy định ngay
cùng một điều luật.
Để khắc phục những thiếu sót trên và hoàn thiện pháp luật hình sự,
nhà làm luật đã tách Điều 181 BLHS năm 1985 thành các Điều 175 và
Điều 176 BLHS năm 1999 và quy định tương ứng hai tội là tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng và tội vi phạm các quy định về quản
lý rừng.
Việc tách các tội phạm quy định Điều 181 BLHS năm 1985 thành các
tội độc lập là hết sức cần thiết.Nó đảm bảo cho việc điều chỉnh các QHXH
một cách cụ thể, tránh tình trạng hiểu thế nào cũng được, xử lý thế nào
cũng được.
Nhìn chung, các quy định trong BLHS năm 1999 về tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã khẳng định được sự răn đe, trừng
23
trị của pháp luật khi có hành vi vi phạm đến việc khai thác và bảo vệ rừng
trái pháp luật bởi CTTP rõ ràng, hành vi cụ thể và hình phạt thích đáng.

thể có thể bị tác động là con người, các đối tượng vật chất hoặc là hoạt
động bình thường của chủ thể.
Phân tích hành vi phạm tội quy định tại Điều 175 BLHS có thể thấy:
Đối tượng tác động mà hành vi phạm tội hướng đến là cây rừng (rừng tự
nhiên hoặc rừng trồng) và các loài thực, động vật, các yếu tố tự nhiên có
liên quan đến rừng. Thông qua sự tác động vào các đối tượng này, hành vi
phạm tội đã xâm hại đến chế độ quản lý về khai thác và bảo vệ rừng, gây
thiệt hại cho Nhà nước. Tất cả các hành vi làm biến đổi tình trạng của rừng
một cách trái pháp luật đều là những hành vi gây thiệt hại cho chế độ quản
lý về khai thác và bảo vệ rừng. Sự làm biến đổi tình trạng này có thể do
những hành vi khác nhau gây ra như hành vi khai thác rừng trái phép; hành
vi buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép.
Như vậy, tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có đối
tượng tác động là rừng và các sản phẩm của rừng như gỗ và các lâm thổ
sản khác bị tội phạm xâm hại đến gây thiệt hại cho chế độ quản lý về khai
thác và bảo vệ rừng.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu, tác giả nhận thấy khách thể của tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có điểm giống với khách thể của
các tội như: tội buôn lậu (Điều 153); tội vận chuyển trái phép hàng hóa,
tiền tệ qua biên giới. Bởi đối tượng tác động của hành vi phạm tội của cả ba
tội này đều là hàng cấm. Theo quy định tại Điều 175 BLHS năm 1999: các
loại thực vật rừng thuộc nhóm IA là loại hàng cấm (cấm khai thác, sử dụng
vì mục đích thương mại). Do đó, chúng là đối tượng của tội sản xuất, tàng
trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
Ngoài ra khách thể của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng còn có điểm giống với khách thể của tội hủy hoại rừng (Điều 189).
25
Cả hai tội này đều xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về khai
thác và bảo vệ rừng, đều có đối tượng tác động là rừng.
Bên cạnh đó, khách thể của tội vi phạm các quy định về khai thác và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status