chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công ty cổ phần vận tải và thuê tàu vietfracht trong quá trình hội nhập - Pdf 21



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

Hà Nội – 2008
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008


3.1 Đối với nền kinh tế 6
3.2 Đối với các doanh nghiệp 8
4. Các yếu tố cơ bản của logistics 9
4.1. Yếu tố vận tải 9
4.2. Yếu tố marketing 10
4.3 Yếu tố phân phối 10
4.4. Yếu tố quản trị 11
II. TNG QUAN V DCH V LOGISTICS 12
1. Khái niệm dịch vụ logistics 12
2. Phân loại dịch vụ logistics 14
3. Vai trò của dịch vụ logistics 15
4. Dịch vụ logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận 18
III. TNG QUAN V NH CUNG CP DCH V LOGISTICS BấN TH BA
- 3PL 20
1. Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics 20
2. Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 - 3PL 22
2.1. Khái niệm về nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 - 3PL 22
Khoỏ lun tt nghip Trng i hc Ngoi Thng
2008 2.2. Phân loại các nhà 3PL 24
3. Vai trò của nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 -3PL 26
CHƯƠNG II : TèNH HèNH KINH DOANH DCH V LOGISTICS CA
CễNG TY VIETFRACHT 28
I. TNG QUAN V TH TRNG DCH V LOGISTICS VIT NAM 28
1. Cầu dịch vụ logistics trên thị tr-ờng Việt Nam 28
2. Cung dịch vụ logistics trên thị tr-ờng Việt Nam 30
II. GII THIU V CễNG TY CP VN TI V THUấ TU VIETFRACHT 33
1. Tổng quan chung về Vietfracht 33

3. Xác định các yếu tố về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, xây
dựng ma trận SWOT của Vietfracht trong việc kinh doanh dịch vụ logistics
84
4. Chiến l-ợc phát triển kinh doanh dịch vụ logistics cho Vietfracht đến năm
2020 87
III. CC BIN PHP THC HIN 89
1. Đầu t- nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng. 89
2. Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, thu hút nhân tài 90
3. Tăng c-ờng hoạt động marketing 92
4. ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động logistics 95
5. Liên kết chiến l-ợc với các doanh nghiệp trong n-ớc và n-ớc ngoài 97
6. Giải pháp huy động vốn 98
KếT LUậN 99
Tài liệu tham khảo 94
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 1 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá đi liền với việc mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế, để có thể tồn tại, cạnh tranh trên thị trường thế giới, trên bình diện vĩ
mô đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải đưa ra được chiến lược phát triển tổng thể
hay cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể. Trên bình diện vi mô, việc xây dựng
các chiến lược kinh doanh cũng là một điều hết sức cần thiết và quan trọng
cho các doanh nghiệp. Việc đưa ra các chiến lược đúng đắn sẽ góp phần giúp
doanh nghiệp phát triển và ngược lại, nếu chiến lược sai lầm sẽ làm cho doanh

 Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là thực trạng kinh doanh dịch
vụ logistics và chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics tại Vietfracht.
 Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc phân tích tình hình
kinh doanh dịch vụ logistics tại Vietfracht những năm gần đây, sau đó xây
dựng chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics và đưa ra các biện
pháp để thực hiện chiến lược đó cho Vietfracht chủ yếu trên thị trường Việt
Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân
tích, tổng hợp so sánh, diễn giải, thống kê, phỏng vấn chuyên gia, để nghiên
cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài.
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Khoá luận được chia thành 3 chương như sau:
Chương I: Tổng quan về dịch vụ logistics và nhà cung cấp dịch vụ
logistics bên thứ ba.
Chương II: Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của công ty
Vietfracht.
Chương III: Chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công
ty CP vận tải và thuê tàu Vietfracht trong quá trình hội nhập.
Sau đây là toàn bộ nội dung khoá luận tốt nghiệp của em.
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 3 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS

nhằm mục đích thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng".
Trong cuốn “An Intergrated Approach to Logistics Management” của
Viện kĩ thuật công nghệ Florida - Mỹ, thì Logistics là việc quản lý sự vận
động và lưu trữ của nguyên vật liệu vào trong doanh nghiệp, của hàng hoá
trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng thành phẩm đi ra khỏi doanh
nghiệp.
Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu
hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất
phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến
tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế
(theo Logistics and Supply Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu
giảng dạy của World Maritime University, 1999).
Theo quan điểm “5 right” thì : Logistics là quá trình cung cấp đúng sản
phẩm đến đúng vị trí vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho
khách hàng tiêu dùng sản phẩm.
Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy dù có sự khác nhau về cách diễn
đạt nhưng nội dung đều cho thấy rằng Logistics là quá trình tối ƣu hoá về địa
điểm và thời điểm, tối ƣu hoá việc lƣu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên
từ đầu vào nguyên thủy cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp
ứng tốt nhất nhu cầu của ngƣời tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua
hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Logistics không chỉ bị hạn chế trong vận hành sản xuất, logistics liên
quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, trường học, cửa hàng
bán lẻ, ngân hàng, và các cơ quan cung cấp dịch vụ tài chính khác. Việc quản
trị logistics sẽ thiết lập một khung làm việc cho các hoạt động logistics trong
suốt quá trình lập kế hoạch, thực hiện và quản lý. Đầu ra của hệ thống
logistics chính là lợi thế cạnh tranh, các lợi ích về thời gian, địa điểm, các
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 5 Anh 4 – K43A -

2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 6 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT 3PL và 4PL đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại
điện tử.
2.2. Theo toàn bộ quá trình logistics
 Logistics đầu vào (Inbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo
cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn, ) một cách tối ưu
cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
 Logistics đầu ra (Outbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo
cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời
gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
 Logistics ngược (Reverse Logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm,
phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá
trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
2.3. Theo đối tượng hàng hóa
 Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG Logistics) là quá trình
logistics cho ngành tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như quần áo, giầy dép,
thực phẩm.
 Logistics ngành ôtô (Automotive Logistics): là quá trình logistics
phục vụ ngành ô tô.
 Logistics ngành hóa chất (Chemical Logistics): là hoạt động logistics
phục vụ cho ngành hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm,
 Logistics hàng điện tử (Electronic Logistics).
 Logistics ngành dầu khí (Petroleum Logistics).
3. Vai trò của logistics
3.1. Đối với nền kinh tế
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với

được xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn
đa quốc gia. Quốc gia nào có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo, hệ thống cảng
biển tốt, sẽ thu hút được đầu tư từ các công ty hay tập đoàn lớn trên thế giới.
Sự phát triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc
là một minh chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 8 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT trưởng xuất khẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ
logistics.
3.2. Đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn. Logistics giúp
giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có
thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu
chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ, logistics giúp giảm chi phí, tăng
khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh
hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty đã và đang nỗ lực tìm
kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, môi
trường kinh doanh, tốt nhất và thế là logistics toàn cầu hình thành và phát
triển.
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được chủ động
trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu
mã, chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho và giao
hàng theo đúng thời gian với tổng chi phí thấp nhất.
Logistics còn góp phần giảm chi phí thông qua việc tiêu chuẩn hóa
chứng từ. Thông qua dịch vụ logistics, các công ty logistics sẽ đứng ra đảm

vận tải từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ khác nhau trên thị trường. Muốn vậy
phải đảm bảo thời gian giao hàng, phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho
sản xuất kịp thời, đúng lúc. Từ đó giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do
lưu kho, tồn đọng sản phẩm (inventory costs) để giảm chi phí logistics nói
chung.
Trong sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp khó có thể tự mình thoả
mãn nhu cầu về vận tải giao nhận. Nhu cầu này trên thực tế phổ biến do người
vận tải giao nhận đáp ứng. Người cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận hoạt
động hoàn toàn độc lập đáp ứng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu vào
doanh nghiệp hay thành phẩm ra khỏi doanh nghiệp. Chính vì vậy họ cũng
độc lập trong việc thu lợi nhuận từ việc cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của
doanh nghiệp. Người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chuyên cung cấp
các dịch vụ cho các doanh nghiệp được gọi là nhà trung gian chuyên nghiệp.
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 10 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT Một kênh logistics có thể được tạo bởi một số nhà trung gian chuyên nghiệp
như người giao nhận (Freight Forwarder), người kinh doanh vận tải công cộng
không có tàu (Non Vessel Operating Common Carrier - NVOCC), các công ty
quản lý xuất khẩu (Export Management Companies - EMCs), các công ty
thương mại xuất khẩu (Export Trading Companies - ETCs) hay người đóng
gói hàng xuất khẩu hoặc môi giới hải quan… Sự thành bại của mỗi nhà trung
gian chuyên nghiệp được quyết định bởi sự thành bại của toàn bộ kênh
logistics.
4.2. Yếu tố marketing
Giống như yếu tố vận tải, yếu tố marketing cũng là một yếu tố cơ bản
của logistics. Theo như phần khái niệm đã trình bày, có thể thấy điều quan

xưởng, nơi sản xuất hay kho hàng… Một doanh nghiệp nên chọn vị trí nơi gần
nguồn nguyên liệu hoặc nơi có đường giao thông thuận lợi, xuyên suốt. Ngược
lại, khả năng sẵn sàng vận chuyển nguyên liệu tới doanh nghiệp cho phép
doanh nghiệp có thể lựa chọn thay thế và xây dựng nhà xưởng, kho hàng gần
nên vấn đề thời gian trong hệ thống logistics đã bị bỏ qua, xao nhãng. Để có
thể tối ưu hoá dòng lưu chuyển hàng hoá, không nên tập trung ở vị trí hay địa
điểm, mà kênh phân phối phải biết liên kết chặt chẽ giữa địa điểm với thời
gian. Cách tiếp cận này đã đưa ra một cách nhìn tổng quát hơn về logistics
trong sự kết hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận, các yếu tố trong toàn bộ quá
trình trung chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá qua các kênh.
4.4. Yếu tố quản trị
Trong hệ thống logistics, quản trị có vai trò hết sức quan trọng. Hoạt
động logistics nếu không có yếu tố kiểm tra, giám sát sẽ không đạt được mục
đích đặt ra. Vấn đề quản trị trong logistics được thể hiện qua hoạt động của
nhà quản trị logistics, họ là những người vừa có chuyên môn sâu, vừa có sự
hiểu biết rộng. Xét về khía cạnh chuyên môn, nhà quản trị logistics phải hiểu
biết về các loại hình vận tải, cước phí vận tải, tình hình kho bãi, vấn đề lưu
kho lưu bãi, tình hình cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, quá trình
tiến độ sản xuất sản phẩm đưa vào lưu thông, phân phối, các kênh phân phối
và thị trường, Xét về khía cạnh hiểu biết rộng, nhà quản trị phải nắm rõ quan
hệ giữa tất cả các chức năng của logistics, đồng thời phải liên kết, phối hợp
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 12 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT hài hoà hoạt động của logistics với các hoạt động khác nhau trong doanh
nghiệp cũng như với các doanh nghiệp khác và khách hàng. Điều quan trọng
nhất là nhà quản trị logistics phải biết tới toàn bộ hệ thống kinh doanh của


hóa”. Có thể hiểu một cách tổng quát về dịch vụ logistics là việc thực hiện và
kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng những thông tin có liên quan tới nơi hình
thành nên hàng hóa cho đến điểm tiêu thụ cuối cùng.
Ở luật Thương mại Việt Nam 2005 khái niệm về logisitcs không được
đề cập đến, mà chỉ đề cập đến dịch vụ logistics.
Theo Điều 233 - Luật Thương mại Việt Nam 2005: Dịch vụ logistics là
hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc
nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục
hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký
mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo
thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Định nghĩa trên của Luật Thương mại 2005 có nội dung khá rộng và
chưa nêu được đặc trưng cơ bản của dịch vụ logistics, hay nói cách khác nội
hàm của khái niệm chưa được làm rõ. Việc đưa ra nhiều thành phần “nhận
hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, ” có thể dẫn đến
nhiều cách hiểu khác nhau và gây ra việc khó áp dụng trong thực tế nếu chỉ
căn cứ vào định nghĩa. Trên thực tế, trước khi Luật Thương mại 2005 đưa ra
khái niệm về dịch vụ logistics thì các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như
doanh nghiệp nước ngoài đã cung cấp toàn bộ các công việc mà Luật Thương
mại 2005 nêu tại Điều 233. Do đó, khái niệm dịch vụ logistics xuất hiện và
được sử dụng như hiện nay nhằm chỉ cho các doanh nghiệp nào có khả năng
kết hợp lại là một đầu mối đứng ra cung cấp một chuỗi các dịch vụ liên hoàn
nói trên. Xuất phát từ thực tế này, khái niệm dịch vụ logistics cần có những
đặc trưng cơ bản về tính liên hoàn và công việc cơ bản. Dịch vụ logistics phải
gắn với việc vận chuyển hàng hoá. Tuy nhiên nếu chỉ có vận chuyển hàng hoá
mà đã được gọi là dịch vụ logistics thì chưa đủ. Phải làm rõ hơn nữa các công
việc cơ bản của dịch vụ logistics.
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008

logistics, hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho,
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 15 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và
thuê mua container.
 Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
- Dịch vụ vận tải hàng hải.
- Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa.
- Dịch vụ vận tải hàng không.
- Dịch vụ vận tải đường sắt.
- Dịch vụ vận tải đường bộ.
- Dịch vụ vận tải đường ống.
 Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:
- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật.
- Dịch vụ bưu chính.
- Dịch vụ thương mại bán buôn.
- Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu
kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng.
- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
3. Vai trò của dịch vụ logistics
Trong xã hội mục đích của sản xuất là để phục vụ tiêu dùng. Nhưng ở
thời đại hiện nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ
thông tin đã làm cho quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ, sâu
sắc hơn. Khoảng cách về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng ngày càng xa
dần và mở rộng dịch vụ logistics có tác dụng rất lớn với sản xuất, phân phối
vật chất của xã hội. Vì vậy, vai trò của dịch vụ logistics đối với nền kinh tế

hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí
vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí
vận tải đường biển chiếm trung bình 10 -15% giá FOB, hay 8 - 9% giá CIF.
Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ
logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các
chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi
phí lưu thông.
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 17 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT  Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các
doanh nghiệp vận tải giao nhận
Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp
hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh
doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ
đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu
thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và
ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc
gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ
người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận tải
giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu
thực tế của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics
(logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia
tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận.
Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử
dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời
gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5 - 6

từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa,
từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.
Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (E-Logistics) sẽ tạo
ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ,
chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng
dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt
không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa.
Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông.
4. Dịch vụ logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận
Dịch vụ logistics chính là sản phẩm của sự phát triển vận tải giao nhận
ở trình độ cao. Cho đến nay, quá trình vận tải giao nhận có thể chia thành 4
giai đoạn như sau:
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Đỗ Thị Ngọc Trang 19 Anh 4 – K43A -
KT&KDQT  Giai đoạn 1: Người kinh doanh vận tải giao nhận đứng ra thay mặt
chủ hàng đảm nhận việc giao nhận vận chuyển hàng hoá, làm các thủ tục và tư
vấn cho chủ hàng để giải quyết những vấn đề phát sinh trong giao nhận và vận
chuyển hàng. Ở đây người vận tải giao nhận là người đại lý của chủ hàng.
 Giai đoạn 2: Người kinh doanh vận tải giao nhận đảm nhận việc
giao nhận hàng hoá, làm tất cả các thủ tục có liên quan như là người đại lý của
chủ hàng, nhưng người vận tải giao nhận còn đứng ra tiến hành việc gom hàng
(Cargo Consolidation) với tư cách là người kinh doanh độc lập.
 Giai đoạn 3: Người kinh doanh vận tải giao nhận đảm nhận việc vận
chuyển hàng hoá từ điểm đầu đến điểm cuối. Họ đảm đương tất cả các dịch vụ
của một số người vận tải và cung cấp dịch vụ. Người kinh doanh vận tải giao
nhận cũng đảm nhận việc thông quan cho hàng hoá và thương thảo với cảng

kho lưu bãi. sắp xếp hàng hoá sẵn sàng cho việc vận chuyển đóng gói bao bì,
ghi kí mã hiệu, thương hiệu và phân phối đi các nơi theo yêu cầu của khách
hàng.
III. Tổng quan về nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba - 3PL
1. Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics
Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và mang tên
dịch vụ logistics nhưng doanh nghiệp thực sự kinh doanh dịch vụ logistics thì
không nhiều. Nói một cách đơn giản thì nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn
gói door-to-door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là những người tích hợp hàng
loạt các dịch vụ vận tải giao nhận, thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu,
thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển door-to-door.
Để có thể thực hiện những nghĩa vụ như vậy, trước hết họ phải là nhà kinh
doanh vận tải đa phương thức. Trong quá trình phát triển, với việc đảm nhận
thêm một số hoạt động khác như lắp ráp, bảo quản, phân phối họ sẽ dần
chuyển hóa thành nhà cung cấp dịch vụ logistics thực sự.
Xét trên khía cạnh văn bản pháp luật, theo Điều 234 - Luật Thương mại
Việt Nam 2005 có nêu “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh
nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp
luật”. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics phải là thương nhân và kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status