Chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics của công ty TNHH tiếp vận VINAFCO - Pdf 64

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS
VÀ NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS BÊN THỨ BA - 3PL
I. TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS
1.1. Khái niệm về logistics
Logistics là một trong số ít những thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ
“Marketing”, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả các ngôn ngữ khác.
Vì bao hàm nghĩa của từ quá rộng nên không một đơn ngữ nào có thể truyền
tải được hết ý nghĩa của nó.
Trên thế giới thuật ngữ này đã xuất hiện từ lâu. Logistics lần đầu tiên
được phát minh và ứng dụng trong lĩnh vực quân sự, được các quốc gia ứng
dụng rất rộng rãi trong hai cuộc Đại chiến thế giới để di chuyển lực lượng
quân đội cùng với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng
tham chiến. Napoleon đã từng nói: “Kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người
chuyên nghiệp bàn về logistics” vì ông cho rằng “Logistics là một chuỗi hoạt
động để duy trì lực lượng quân đội”.
Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân
đội đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế
thời hậu chiến và lần đầu tiên được triển khai, ứng dụng trong thương mại sau
khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc.
Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy đủ về
logistics hay hệ thống logistics. Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của nghiên
cứu logistics và dưới những giác độ của những nhà nghiên cứu khác nhau, mà
hiện nay có khá nhiều khái niệm về logistics.
- Theo từ điển “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, US
Fifth Edition, Hornby, Oxford University Press, 1995”:
1
“Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một
hoạt động phức hợp nào đó (Logistics – the organization of supplies and
service for any complex operation)”.
- Theo cuốn “An Intergrated Approach to logistics Management” của Viện kỹ
thuật công nghệ Florida - Mỹ:

đến khi đưa đến tay người tiêu dùng”.
Như vậy, dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt và cách trình bày, nhưng
trong nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng Logistics chính là hoạt động
quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình
lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng. Mục đích
giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất
trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân
phối hàng hoá một cách kịp thời (Just-in-Time). Tuy nhiên ở đây không chỉ có
sự vận động của “nguyên vật liệu, hàng hoá” mà cần phải bao gồm thêm cả
dòng luân chuyển “dịch vụ, thông tin”. Logistics không chỉ hạn chế trong sản
xuất mà nó còn liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện,
ngân hàng, người bán lẻ, người bán buôn…
Ngày nay thuật ngữ logistics đã được phát triển, mở rộng và được hiểu
với nghĩa là quản lý “management”. Trong khi nghiên cứu lĩnh vực này, tuỳ
thuộc giác độ tiếp cận, các học giả có thể sử dụng các thuật ngữ như: logistics
kinh doanh, logistics in bound – logistics out bound, phân phối vật chất, quản
lý nguyên vật liệu, kỹ thuật phân phối hay quản lý logistics…thì đây đều là
các thuật ngữ dùng để diễn tả cùng một chủ đề, đó chính là cái mà chúng ta
gọi là logistics.
Logistics diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu và sản
phẩm đi vào – qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới tay
3
người tiêu dùng. Nó là một quy trình nhằm tối ưu hoá các hoạt động để đảm
bảo việc giao hàng từ nơi gửi đến nơi nhận thông qua một dây chuyền vận tải.
1.2 Logistics là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ vận tải đa
phương thức
Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận,
vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics
Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hoá khái
niệm vận tải giao nhận truyền thống. Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực

phí cũng như thời gian, từ đó nâng cao hiệu quả trong kinh doanh.
Dịch vụ logistics chính là sự phát triển sâu rộng của dịch vụ vận tải đa
phương thức. Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp
đồng vận tải đa phương thức và sự phối hợp mọi chu chuyển của hàng hoá do
người tổ chức dịch vụ logistics đảm nhiệm. Điểm giống nhau ở chỗ, trên cơ sở
nhiều hợp đồng mua bán, người tổ chức dịch vụ logistics sẽ nhận hàng tại cơ sở
của từng người bán, gom hàng thành nhiều đơn vị, gửi hàng tại kho hay nơi
xếp dỡ hàng trước khi chúng được gửi đến nước người mua trên các phương
thức vận tải khác nhau. Tại nước người mua, người tổ chức dịch vụ logistics sẽ
thu xếp tách các đơn vị gửi hàng và hình thành các chuyến hàng thích hợp để
phân phối đi đến những địa chỉ cuối cùng theo yêu cầu khách hàng.
1.3. Phân loại logistics
1.3.1. Phân loại theo hình thức logistics
Căn cứ vào phân công lao động và tính chuyên nghiệp của các doanh
nghiệp có các mô hình nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP – Logistics
Service Provider) như sau:
- Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics)
Người chủ sở hữu hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động
logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo đó, chủ hàng phải đầu tư vào
5
các phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để
quản lý và vận hành hoạt động logistics. First Party Logistics làm phình to
quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh
nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn
để quản lý và vận hành hoạt động logistics.
- Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics)
Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch
vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho
bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa
tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường

dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi
nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
- Logistics ngược (reverse logistics)
Là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh
hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu
dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
1.3.3 Phân loại theo đối tượng hàng hoá
- Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG logistics)
Là quá trình logistics cho hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như:
quần áo, giày dép, thực phẩm…
- Logistics ngành ô tô (automotive logistics)
Là quá trình logistics phục vụ cho ngành ô tô.
- Logistics hoá chất (chemical logistics)
Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hoá chất, bao gồm cả hàng
độc hại, nguy hiểm.
- Logistics hàng điện tử (electronic logistics)
Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hàng điện tử.
7
- Logistics dầu khí (petroleum logistics)
Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành dầu khí.
1.4 Vai trò của logistics
1.4.1 Vai trò của logistics đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Logistics là một chức năng kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã
hội. Ở tầm của nền kinh tế, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần
như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá. Nghiên cứu
của Viện Nomura (Nhật Bản) cho thấy chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm
khoảng 15% GDP của mỗi nước. Do đó, nếu nâng cao hiệu quả hoạt động
logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế chỉ
có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động

thụ thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau…Đồng thời, có thể chủ động
trong việc lên kế hoạch sản xuất cũng như quản lý hàng tồn kho và giao hàng
đúng hạn với một mức tổng chi phí là thấp nhất.
Logistics còn giúp giảm chi phí thông qua việc tiêu chuẩn hoá chứng từ.
Theo các chuyên gia ngoại thương, giấy tờ rườm rà chiếm một khoản chi phí
không nhỏ trong mậu dịch quốc tế và vận chuyển. Logistics đã cung cấp các
dịch vụ đa dạng trọn gói có tác dụng giảm rất nhiều các chi phícho giấy tờ,
chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương thức do người
kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy
tờ thủ tục, chuẩn hoá và nâng cấp chứng từ cũng như giảm khối lượng công
việc văn phòng trong lưu thông hàng hoá, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán
quốc tế.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm tăng sự hài lòng và giá trị
cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics. Đứng ở góc độ này, logistics
9
được xem là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về sự
khác biệt hoá và tập trung.
Bằng những ưu điểm vượt trội của mình, logistics đã đóng vai trò then
chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích
hợp. Vì vậy, cũng có thể nói rằng logistics là “trợ thủ đắc lực” cho hoạt động
marketing hỗn hợp 4P (right product, right price, proper promotion and right
place - sản phẩm đúng yêu cầu, giá cả đúng mực, quảng bá đúng độ, địa điểm
đúng chỗ).
Mục đích của sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Muốn đạt được lợi nhuận
như mong muốn phải đưa ra được phương án sản xuất kinh doanh tối ưu.
Logistics với mục tiêu là “cung cấp hàng hoá/dịch vụ cho khách hàng với
tổng chi phí nhỏ nhất” – cho phép người quản lý kiểm soát và ra quyết định
kinh doanh chính xác, nhằm đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
II. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS
2.1. Khái niệm dịch vụ logistics

Theo Hiệp định thương mại chung về lĩnh vực dịch vụ (GATS – The
General Agreement on Trade in Services) của Tổ chức thương mại thế giới
WTO thì dịch vụ logistics được chia thành 3 nhóm như sau:
• Các dịch vụ logistics lõi (Core Freight Logistics Services)
Dịch vụ logistics chủ yếu chiếm phần lớn trong tổng chi phí logistics và
mang tính quyết định đối với các dịch vụ khác. Dịch vụ logistics chủ yếu bao
gồm:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hoá, bao gồm cả hoạt động kinh doanh
kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải
quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá;
11
- Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản
lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt
cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hoá bị khách hàng trả lại,
hàng hoá tồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá
đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.
• Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải (Related Freight Logistics
Services):
- Dịch vụ vận tải hàng hải;
- Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
- Dịch vụ vận tải hàng không;
- Dịch vụ vận tải đường sắt;
- Dịch vụ vận tải đường bộ;
- Dịch vụ vận tải đường ống.
• Các dịch vụ thứ yếu hoặc mang tính bổ trợ (Non-core Freight Logistics
Services)
- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;
- Dịch vụ bưu chính;

hình thành khái niệm Chuỗi cung ứng/Dây chuyền cung ứng (Supply Chain).
Dây chuyền cung ứng là quy trình phối hợp, tổ chức và kiểm soát sự chu
chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và các thông tin từ nhà
cung cấp đầu tiên qua các khâu trung gian đến người tiêu dùng cuối cùng
nhằm thoả mãn nhu cầu của họ.
2.3.2 Dịch vụ khách hàng
Thị trường ngày càng mở rộng, sự cạnh tranh về giá cả của cùng một loại
sản phẩm trở nên gay gắt hơn. Lúc này, dịch vụ khách hàng có vai trò vô
cùng quan trọng, nó có thể giúp doanh nghiệp không chỉ giữ chân được
13
khách hàng cũ mà còn có thể thu hút thêm được nhiều khách hàng mới.
Dịch vụ khách hàng là tập hợp những hoạt động cụ thể của doanh nghiệp
nhằm giải quyết các đơn đặt hàng của khách hàng. Mục đích của hoạt động
này là tạo cho quá trình mua bán, trao đổi được thông suốt và làm tăng giá
trị của sản phẩm trao đổi.
Các công việc liên quan đến dịch vụ khách hàng bao gồm: tìm hiểu thị
trường, xác định nhu cầu thị trường; xây dựng mục tiêu và kế hoạch dịch vụ
khách hàng; giới thiệu và cung cấp dịch vụ khách hàng, xử lý tình huống, duy
trì uy tín với khách hàng; lắp đặt, bảo hành, sửa chữa và các dịch vụ khác;
theo dõi sản phẩm.
Dịch vụ khách hàng chính là các biện pháp trong hệ thống logistics nhằm
tạo ra giá trị gia tăng cho hàng hoá ở mức độ cao nhất với tổng chi phí thấp
nhất. Giá trị gia tăng ở đây chính là sự hài lòng của khách hàng, là hiệu số
giữa giá trị đầu ra với giá trị đầu vào, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh
tế có mối quan hệ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau. Dịch vụ khách hàng
có ảnh hưởng lớn đến thị phần, đến tổng chi phí bỏ ra và cuối cùng là ảnh
hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trước, trong và sau khi
giao dịch với khách hàng. Muốn có các dịch vụ khách hàng tốt cần nghiên
cứu kỹ các yếu tố ảnh hưởng.

Dự trữ nguyên
vật liệu
Dự trữ bán
thành phẩm
Dự trữ sản
phẩm trong
khâu sản xuất
Dự trữ sản
phẩm trong
lưu thông
15
logistics khác. Hoạt động dự trữ là khâu quan trọng trong toàn bộ hệ thống
logistics. Cần sử dụng tốt và phối hợp chặt chẽ các kỹ thuật; phân tích dự báo,
mô hình dự trữ, hệ thống giải quyết đơn hàng.
2.3.4 Dịch vụ vận tải
Quản lý vận tải và phân phối hàng là khâu trọng yếu nhất của hoạt động
logistics, nhằm quản lý công tác vận chuyển và phân phát hàng hoá đúng thời
hạn, an toàn, đảm bảo đủ khối lượng và chất lượng.
Các công việc liên quan đến quản lý vận tải trong logistics gồm có: chọn
người vận chuyển (tự vận chuyển hay thuê); chọn tuyến đường, phương thức
vận tải, phương tiện vận tải; kiểm soát quá trình vận chuyển; công việc giao
nhận và bốc xếp; xử lý trường hợp hư hỏng, mất mát hàng.
Người kinh doanh dịch vụ logistics phải giải quyết các vấn đề liên quan
đến mất mát, hư hỏng xảy ra đối với hàng hoá, xảy ra trong toàn bộ quá trình
vận chuyển bằng những phương pháp và kinh nghiệm cần thiết. Khi lựa chọn
phương thức vận tải thường sử dụng kết hợp một số tiêu chí quan trọng:
- Chi phí vận tải;
- Tốc độ vận chuyển;
- Tính linh hoạt;
- Khối lượng/trọng lượng giới hạn;

dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics.
2.4.1 Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ
logistics chủ yếu
- Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam
- Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ
thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu.
17
- Thương nhân nước ngoài, ngoài việc đáp ứng các điều kiện nêu trên, chỉ
được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể
sau đây:
+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập
công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không
quá 50%;
+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên
doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn
chế này chấm dứt vào năm 2014;
+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty
liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%,
được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư
nước ngoài kể từ năm 2014;
+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty
liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%;
hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.
2.4.2 Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ
logistics liên quan đến vận tải
- Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt
Nam.
- Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp
luật Việt Nam.

• Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của
Chính phủ thì chỉ được thực hiện dưới hình thức liên doanh sau 3 năm hoặc
dưới các hình thức khác sau 5 năm, kể từ khi doanh nghiệp tư nhân được phép
kinh doanh các dịch vụ đó;
19
• Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận
cho các phương tiện vận tải;
• Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế hoạt
động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an
ninh quốc phòng.
+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn,
dịch vụ thương mại bán lẻ thì thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.
+ Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có
quy định khác.
Do các điều kiện khách quan và chủ quan mà Việt Nam chưa hoàn toàn
mở cửa thị trường này cho các thương nhân nước ngoài. Các thương nhân
nước ngoài hiện nay chỉ được phép kinh doanh một số khâu trong dịch vụ này
mà thôi và kèm theo là các điều kiện kinh doanh rất chặt chẽ. Tuy nhiên, theo
cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ dần mở cửa thị trường này theo lộ trình
đã cam kết nêu trên, tiến tới mở cửa tự do cho các thương nhân nước ngoài.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước
phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh để từng bước cạnh tranh bình
đẳng với các nhà đầu tư nước ngoài.
III. TỔNG QUAN VỀ NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS BÊN
THỨ BA – 3PL
3.1 Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics
Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm về nhà cung cấp dịch vụ
logistics nhưng tựu chung đều coi nhà cung cấp dịch vụ logistics (Logisics
Service Provider – LSP) là các công ty độc lập, tự thiết kế, thực hiện và quản

21
“Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực
hiện dịch vụ logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê
lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó.”
“Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân
thuộc các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có cam kết trong các điều ước
quốc tế về mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ logistics”.
Theo cách chia như thế này, những đối tượng kinh doanh dịch vụ logistics
khác nhau lại phải tuân theo những điều kiện khác nhau. Các thương nhân
nước ngoài khi kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng đủ các điều
kiện của một thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nói chung, còn phải
đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ góp vốn tối đa của nhà đầu tư nước ngoài; thêm
vào đó còn không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống.
3.2. Dịch vụ logistics do các LSP cung cấp
Các dịch vụ logistics do các LSP cung cấp càng ngày càng đa dạng và
phát triển theo hướng thoả mãn tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng. Bên
cạnh các dịch vụ logistics cơ bản, ngày càng có nhiều các loại hình dịch vụ
mới được các LSP cạnh tranh nhau đưa ra mang tính chuyên nghiệp cao, được
thiết kế dành riêng cho từng loại khách hàng (specialized hay tailor – made).
Có các nhóm dịch vụ chủ yếu sau:
• Nhóm dịch vụ thiết kế và hoạch định chiến lược logistics cho các
doanh nghiệp (Designing/Planning)
Các công ty cung cấp dịch vụ logistics theo yêu cầu của khách hàng sẽ
tiến hành thiết kế hoặc cơ cấu lại chuỗi cung ứng của khách hàng sao cho đạt
kết quả tối ưu nhất và phát huy các lợi thế cạnh tranh. Dựa trên thực trạng tổ
chức sản xuất của khách hàng, LSP sẽ xây dựng cho khách hàng một chuỗi
cung ứng phù hợp, quy trình sản xuất hợp lý nhằm giảm thiểu tối đa thời gian
và tiết kiệm chi phí.
• Nhóm dịch vụ logistics đầu vào (Inbound logistics)
22

thấp. Ngoài ra, theo yêu cầu của khách hàng các công ty này còn cung cấp
một số dịch vụ kho đặc biệt như:
+ Contract warehousing (kho thuê hợp đồng);
+ Dedicated warehousing (kho thuê chuyên dụng);
+ Multi – user warehousing (kho công cộng);
+ Bonded warehousing (kho ngoại quan);
+ Automated warehousing (kho tự động);
+ Cross – docking (kho đa năng)…
• Nhóm dịch vụ giao nhận vận tải và gom hàng liên quan đến toàn bộ
dòng lưu chuyển của vật tư và hàng hoá
+ Ocean/Air freight (vận tải đường biển, đường hàng không),
FCL/LCL;
+ Dedicated contract carriage (chuyên chở theo hợp đồng chuyên
dụng);
+ Intermodal services (vận chuyển đường bộ bằng xe tải và đường sắt);
+ Merge – in – Transit: Áp dụng cho các công ty nhập bộ phận hoàn
chỉnh từ nhiều nhà cung cấp, công ty logistics sẽ kết hợp đầu vào và đầu ra
của dây chuyền cung ứng một cách ăn khớp và hiệu quả, tiến hành lắp ráp
thành sản phẩm cuối cùng và giao trực tiếp cho khách hàng;
+ Customer services (dịch vụ hải quan).
• Nhóm dịch vụ sau bán hàng (Aftermarket Logistics)
Các LSP có thể giúp khách hàng quản lý các yếu tố phát sinh sau giao
dịch, bao gồm một số dịch vụ:
+ Return logistics: Quản lý quá trình thu hổi các hàng phế phẩm, tái
chế hoặc huỷ bỏ giúp khách hàng;
+ Repair: Tiếp nhận và sửa chữa thành phẩm hoặc bộ phận;
24
+ Reverse logistics: Thiết kế và quản lý dòng vật liệu hoặc thiết bị
không sử dụng ngược trở lại dây chuyền cung ứng;
+ Call centres: Tiếp nhận đơn hàng và đăng ký giao hàng giúp khách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status