GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO MỚI MẺ TRONG TÁC PHẨM “ĐỜI THỪA” CỦA NAM CAO pot - Pdf 21

Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Công Nghệ Giáo Dục IDJ

Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N

i dung môn Ng
ữ văn

0 GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO MỚI MẺ TRONG TÁC PHẨM “ĐỜI
THỪA” CỦA NAM CAO

Đời thừa
là truyện về một nhà văn nghèo bất đắc dĩ. Đề tài ấy không thật mới:
đương thời, đã có M
ực mài nước mắt
(Lan Khai), N
ợ văn
(Lãng Tử), nhiều trang tuỳ bút của
Nguyễn Tuân, nhiều vần thơ của Tản Đà, Nguyễn Vỹ, Trần Huyền Trân…, hai câu thơ rất

là sự tổng hợp của ngòi bút Nam Cao trong
đề tài tiểu tư sản, là tác phẩm đã thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng nghệ thuật cơ bản của
nhà văn. Có điều, trong khuôn khổ truyện ngắn, sự tổng hợp ấy không xảy ra trên bề rộng
mà chủ yếu tập trung đi vào bề sâu.
Giá trị của
Đời thừa
không phải chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thật cuộc sống nghèo khổ,
bế tắc của người trí thức tiểu tư sản nghèo, đã viết về người tiểu tư sản không phải với ngòi
bút vuốt ve, thi vị hoá, mà còn vạch ra cả những thói xấu của họ v.v…
Cách nói đó dường như xác đáng, song chỉ thấy một lớp ý nghĩa, lớp thứ nhất, lớp
bên trên của tác phẩm. Mà với Nam Cao, cách nhìn như vậy thật tai hại, vì nó “bất cập”, vô
tình thu hẹp và hạ thấp rất nhiều tầm tư tưởng của truyện. Khác với các tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, truyện của Nam Cao thuộc loại có nhiều
lớp nghĩa, tư tưởng truyện không phải luôn trùng khít với nội dung cuộc sống đựơc phản
ánh trong truyện. Trong khi dựng lại chân thật tình cảnh nhếch nhác của người trí thức
nghèo, ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy sâu vào tấn bi kịch tinh thần của họ, qua đó,
đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và triết học sâu sắc.
Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Công Nghệ Giáo Dục IDJ

Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N

i dung môn Ng
ữ văn

…, nhưng cũng chính là những điều nung nấu ở tác giả
Đời thừa
, S
ống
mòn. Chủ đề ấy chính là một biểu hiện mới mẻ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt
Nam thế kỷ XX này. Có điều là, nếu như phần nhiều cái “tôi” trong văn học lãng mạn trong
khi giãy giụa “nổi loạn” “chống lại xã hội thù địch với nó, nó càng ngày càng khép kín, chỉ
còn tự thực hiện và tự “phát triển” trong sự đối lập với xã hội; thì ở Nam Cao, yêu cầu
khẳng định và phát triển cá nhân luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội, hướng theo lí tưởng
nhân tạo tiến bộ. Hoài bão cá nhân mà Hộ say mê đạt tới để tự khẳng định trước cuộc đời
là một sự nghiệp văn chương, nhưng là thứ văn chương chân chính, mang tinh thần nhân
đạo cao đẹp, “nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình”…
Có lẽ trong văn học đương thời, không ai ngoài Nam Cao đã đặt ra vấn đề cá nhân
một cách đúng đắn và tiến bộ như vậy.
Nhưng cái xã hội ấy nếu kích thích sự thức tỉnh ý thức cá nhân thì đồng thời, đã đẩy
cá nhân vào tình trạng bị đè bẹp. Đó là tất cả tấn bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời
sống tinh thần thế hệ 1930 khi đó. “Hoài bão lớn” mà Hộ quyết đạt tới bằng một ý chí phi
thường đã không thể thực hiện được. Hộ gặp Từ giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang
“đau đớn không bờ bến”: bị một gã Sở Khanh bỏ rơi với đứa bé mới đẻ… Hộ đã “cuối xuống
nỗi đau khổ của Từ (…) mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ”. Trước số phận đau khổ của con
gnười, anh không còn có thể coi “nghệ thuật là tất cả” mà đã hành động như một con người
chân chính. Nhưng điều đó đã gây nên nguy cơ phá hỏng sự nghiệp của anh. Từ khi “ghép
cuộc đời của Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo”. Hộ không thể
“khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất” như trước đây, mà trái lại, phải ra sức kiếm tiền.
Và “những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần
lớn thì giờ của hắn”. Nhưng không phải chỉ thì giờ.
Vì phải kiếm tiền – trong điều kiện, khả năng của Hộ, cách kiếm tiền duy nhất là
sáng tác – Hộ không thể viết thận trọng, nghiêm túc theo yêu cầu của nghệ thuật chân
chính. Anh “phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng (…) phải viết những bài báo để người
ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc”. Đây là điều vô cùng đau đớn với một người như Hộ.

văn chương”. Người nghệ sĩ sáng tạo trước đây trong Hộ đã chết. Hộ đau buồn vô hạn vì
cảm thấy đời mình đã bỏ đi, không gì cứu vãn được: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã
hỏng đứt rồi!”. Tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Hộ là ở đó.
Đây không phải chỉ là bi kịch của một nhà văn không thành đạt, cũng không phải là
bi kịch “vỡ mộng” của những chàng trai nghèo tỉnh lẻ cay cú muốn nhập vào xã hội thượng
lưu Pari nhưng bị ném trả tàn nhẫn trong tác phẩm của Banzắc. Đây là bi kịch của con
người có ý thức sâu sắc về sự sống, muốn vươn lên một cuộc sống chân chính, trong đó cá
nhân được phát triển bằng sự nghiệp tinh thần có ích cho xã hội, nhưng đã bị nhấn chìm
trong lối sống mà anh ta rất khinh ghét vì không xứng đáng với con người. “Còn gì
đau đớn
cho m
ột kẻ vẫn khát khao l
àm m
ột cái g
ì
để nâng cao giá trị đời sống của m
ình, mà k
ết cục
ch
ẳng làm được cái g
ì, ch
ỉ những lo cơm áo mà đủ mệt?
”. Trong S
ống m
òn, cuốn tiểu
thuyết dày dặn đã triển khai một cách hệ thống chủ đề này, tiếng kêu đó lại cất lên một
cách thống thiết: “
Đau đớn thay những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo
cơm gh
ì sát

ên : Tr
ần Hải Tú
| N

i dung môn Ng
ữ văn

3

Trước mắt Hộ, có một con đường giải thoát: thoát li vợ con. Có thế anh mới có thể
rảnh rang theo đuổi sự nghiệp văn chương là lẽ sống của đời anh. Tức là để đạt được “hoài
bão lớn”, thực hiện được lí tưởng mà anh hằng say mê, anh phải tự gỡ bỏ sợi dây ràng buộc
của tình thương. Đã có cả một triết lí cao siêu, đầy hấp dẫn bênh vực, khuyến khích anh
làm điều đó. Một triết gia nổi tiếng phương Tây đã ném ra câu nói hùng hồn: “Phải biết ác,
biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Câu nói có giọng điệu của chủ nghĩa siêu nhân của
Nitsơ, tư tưởng gia tiền bối của chủ nghĩa phát xít đó, không phải không có sức hấp dẫn đối
với những kẻ đang khát khao “sống cho mạnh mẽ”, khao khát khẳng định cá nhân như Hộ.
Nhưng mặc dù nỗi đau đớn vì “đời thừa” to lớn đến đâu, nỗi mong mỏi được giải
thoát mãnh liệt đến đâu. Hộ vẫn không thể lựa chọn cách giải quyết ấy. Bởi vì, thoát li vợ
con để rảnh thân – dù là vì gì chăng nữa – vẫn cứ là tàn nhẫn, vứt bỏ lòng thương. “Hắn có
thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỉ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn
nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người”. Như vậy là, với Hộ,
tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người; không có tình thương, con người chỉ
là “một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái”. Khi cuộc đời tàn nhẫn buộc anh phải lựa
chọn một trong hai thứ: ngh
ệ thuật
và tình th
Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N

i dung môn Ng
ữ văn

4

thiếu tài năng và ý chí để thực hiện khao khát của mình ấy làm sao không đau khổ u uất
trong tình cảnh đó? Hộ đã cố hi vọng sau vài năm bỏ phí để kiếm tiền, cho người vợ có
được cái vốn con để làm ăn, anh lại có thể trở lại với con đường sự nghiệp của mình. Nhưng
cuộc sống cơm áo ngày càng chẳng dễ dàng khiến cho hi vọng của Hộ trở thành hão huyền
và tình cảnh của Hộ trở nên hoàn toàn bế tắc. Gánh nặng cơm áo chẳng hề nhẹ đi mà cứ
ngày càng nặng thêm mãi: “Đứa con này chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vội ra, mà đứa
con nào cũng nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống
thuốc. (…) Hộ điên người lên vì phải xoay tiền”. Và những “bận rôn tẹp nhẹp vô nghĩa lí” đó
chẳng những làm tiêu tan hi vọng về sự nghiệp của Hộ mà còn thường xuyên phá hoại sự
yên tĩnh, thư thái của tâm hồn là điều rất quan trọng đối với người trí thức sáng tạo: “ Hắn
còn điên lên vì con khóc, nhà không lúc nào yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách. Hắn
thấy mình khổ quá, bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với
vợ, với bất cứ ai, với chính mình. Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở
trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng

Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N

i dung môn Ng
ữ văn

5

võng, nhận ra từ cái “dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não”, “cái tướng vất vả lộ ra cả đến
trong giấc ngủ”, từ khuôn mặt xanh xao, có cạnh, có đôi mắt thâm quầng, đến bàn tay
“xanh trong xanh lọc”, “lủng củng rặt những xương”…, tất cả đều “lộ một cái gì mềm yếu,
một cái gì ẻo lả”, “một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ và chật vật”, Hộ đã “khóc núc nở”,
nước mắt “bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh”… Anh đau đớn vì nghĩ
đến lối cư xử tồi tệ của mình đối với người vợ đáng phải được anh an ủi, che chở đó… Tiếng
khóc của Hộ, cũng giống như tiếng khóc của nhân vật Thứ trong S
ống m
òn – nghe tin Đích
ốm nặng, Thứ thầm mong Đích chết, và ngay lúc ấy, Thứ đã khóc -, là những tiếng khóc
“khóc cho cái chết của tâm hồn”. Hộ nghẹn ngào nói với Từ, giọng nói đẫm nước mắt:
“Anh… anh… chỉ là… một thằng… khốn nạn”. Anh không thể nào tha thứ cho mình.
Trong sáng tác, Nam Cao đã nhiều lần đề ập và ca ngợi nuớc mắt. Nhân vật tiểu tư
sản của ông có không ít tật xấu và lỗi lầm, nhung thường là những người hay bị hối hận
giày vò và thường khóc vì hối hận. Đó không phải là thứ “hối hận” ồn ào hời hợt của những
kẻ lấy việc xỉ vả mình để khoe khoang; cũng không phải thứ hối hận có chu kì củ nhiều kẻ

Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N

i dung môn Ng
ữ văn

6

S
ố đỏ
, T
ắt đ
èn và cả Chí Phèo. Ông tập trung đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật và làm
nổi bật bi kịch tinh thần của người trí thức đó. Và ở đây, nổi bật sở trường miêu tả, phân
tích tâm lí con người của nhà văn, nhất là khi miêu tả sự diễn biến tâm lí và cho thấy quy
luật tâm lí con người. Có thể nói, trong đội ngũ tác giả văn xuôi đông đảo nhiều tài năng
đương thời, chưa có ai có được ngòi bút tinh tế, sâu sắc trong việc khám phá, thể hiện tâm
lí như Nam Cao. Sức hấp dẫn nghệ thuật của
Đời thừa
– và của mảng sáng tác về người
tiểu tư sản của Nam Cao – một phần quan trọng cũng là ở đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status