85 Rủi ro kiểm toán & quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính - Pdf 21

M ỤC L ỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................Error: Reference source not found
PHẦN I: LÍ LUẬN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO
KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH....Error: Reference source not
found
1. Bản chất của rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính...Error:
Reference source not found
1.1. Khái niệm về rủi ro kiểm toán............Error: Reference source not found
1.2. Các loạn rủi ro kiểm toán...................Error: Reference source not found
1.2.1. Rủi ro tiềm tàng...............................Error: Reference source not found
1.2.2. Rủi ro kiểm soát (CR).....................Error: Reference source not found
1.2.3. Rủi ro phát hiện (DR)......................Error: Reference source not found
1.3. Mô hình rủi ro kiểm toán....................Error: Reference source not found
2. Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC.............Error:
Reference source not found
2.1. Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn.Error: Reference source not
found
2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng(IR).............Error: Reference source not found
2.3.Đánh giá rủi ro kiểm soát (CR)...........Error: Reference source not found
2.4.Xác định rủi ro phát hiện.....................Error: Reference source not found
PHẦN II: NHẬN XÉT CHUNG VỀ THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.................Error: Reference source not found
1.Thực tế đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC Error: Reference
source not found
1.1. Đánh giá rủi ro kiểm toán trên phương diện BCTC.......Error: Reference
source not found
1.2. Đánh giá rủi ro kiểm toán trên phương diện số dư tài khoản và loại
nghiệp vụ...................................................Error: Reference source not found
2. Những hạn chế trong đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro
phát hiện.......................................................................................................27
1

cứu trên cơ sở những kiến thức đã học và tham khảo thêm các tài liệu của các
công ty kiểm toán, các tài liệu tự sưu tầm cộng với việc phân tích tổng hợp
đánh giá, trên cơ sở đó đề ra những giả pháp nhằm hoàn thiện đánh giá rủi ro
kiểm toán trong kiểm toán BCTC. Nội dung của đề án gồm hai phần:
Phần 1: Lý luận về rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá rủi ro kiểm
toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Phần 2: Nhận xét chung về thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán trong
kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam
4
PHẦN I
LÍ LUẬN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ QUY TRÌNH
ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Bản chất của rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1. Khái niệm về rủi ro kiểm toán
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng, rủi ro kiểm
toán là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên. Vì
vậy, việc hiểu rõ và quản lý tốt rủi ro kiểm toán là yếu tố quyết định trong
việc hạn chế rủi ro kinh doanh của các công ty kiểm toán.
Để hiểu được khái niện rủi ro kiểm toán trước hết ta cần hiểu chung về khái
niệm rủi ro.Theo từ điển tiếng việt, “ Rủi ro là tính từ để chỉ việc không may xảy
ra” hoặc “rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”. Như vậy rủi ro
là điều không mong muốn. Trong các lĩnh vực khác nhau thì rủi ro lại có những
đặc trưng riêng. Trong lĩnh vực kiểm toán rủi ro kiểm toán đã được định nghĩa
trong các văn bản hướng dẫn kiểm toán và chuẩn mực kiểm toán như sau
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 25(IAG25) “Rủi ro kiểm toán là
những rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra nhận xét không
xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai phạm trọng yếu. Ví dụ,
KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ về một BCTC mà không biết
rằng các báo cáo này có những sai phạm trọng yếu”

Kiểm toán viên phải xem xét rủi ro tiềm tàng (IR). Theo từ điển Thuật
ngữ Kiểm toán – Kế toán Anh Việt: “ Rủi ro tiềm tàng là khả năng báo cáo tài
chính của doanh nghiệp chứa đựng các sai phạm trọng yếu trước khi xem xét
đến tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Các sai
phạm này có thể được xem xét khi đứng một mình hoặc được tập hợp với các
sai phạm khác trong các khoản cân đối trong tài liệu khác có liên quan”.
Theo nguyên tắc kiểm toán Quốc tế Số 25 – “ Trọng yếu và rủi ro”, Mục
13 quy định: “ Rủi ro tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc
của một loại nghiệp vụ đối với những sai sót có thể là nghiêm trọng, những
sai sót này có thể là đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với sai sót ở các số dư, các
6
nghiệp vụ khác ( ở đây giả định rằng không có các quy chế kiểm soát nội bộ
có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh cũng như nằm trong bản chất
của các số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ.”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – “ Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ”, Mục 04 quy định: “ Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ”.
Như vậy, rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu
trong BCTC bắt nguồn từ đặc tính của loại hình kinh doanh và năng lực nhân
viên của khách thể kiểm toán trước khi xem xét đến tính hữu hiệu của
HTKSNB. KTV không tạo ra và cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng,
họ chỉ có thể đánh giá chúng.
1.2.2. Rủi ro kiểm soát (CR)
Rủi ro kiểm soát là khả năng mà hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng kiểm toán không phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm
trọng yếu hoặc gian lận. Nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số 25, Mục 14 quy
định: “ Rủi ro kiểm soát là rủi ro do xác định sai, có thể xảy ra với một số dư
tài khoản hoặc một loại nghiệp vụ và có thể là sai sót nghiêm trọng. Những

phát hiện được các sai phạm trọng yếu. Nếu như rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát tồn tại một cách độc lập, KTV không can thiệp được mà chỉ có
thể đánh giá chúng thì ngược lại, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các
thủ tục thu thập các bằng chứng kiểm toán quản lý và kiểm soát đối với rủi
ro phát hiện..
1.3. Mô hình rủi ro kiểm toán
Thực chất rủi ro kiểm toán xảy ra khi BCTC chứa đựng các sai phạm
trọng yếu nhưng KTV lại nhận xét rằng chúng được trình bày trung thực, hợp
lý. Rủi ro này xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong BCTC ( rủi ro tiềm tàng)
đã vượt qua HTKSNB của đơn vị ( rủi ro kiểm soát) và không bị các thử
nghiệm kiểm toán của KTV phát hiện ( rủi ro phát hiện ). Do đó rủi ro kiểm
toán là tổng hợp của ba loại rủi ro: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro
phát hiện. Mục 07 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – “ Đánh giá rủi
ro và kiểm soát nội bộ” và Nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số 19 – “ Lấy mẫu
8
kiểm toán” đều khẳng định: “ Rủi ro kiểm toán gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm
tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”. Để phục vụ cho quá trình đánh giá
rủi ro kiểm toán, các nhà chuyên môn thường sử dụng mô hình sau để biểu
diễn mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và các bộ phận cấu thành:
AR = IR.CR.DR (1)
Trong đó:
- AR: Rủi ro kiểm toán
- IR: Rủi ro tiềm tàng
- CR: Rủi ro kiểm soát
- DR: Rủi ro phát hiện
Mô hình này được KTV sử dụng để đánh giá tính hợp lý của kế hoạch
kiểm toán. KTV có thể sử dụng mô hình này để điều chỉnh rủi ro phát hiện
dựa trên các loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro kiểm toán
ở mức thấp mà KTV kì vọng. Có thể xét ví dụ minh họa sau:
KTV chuẩn bị tiến hành một cuộc kiểm toán. KTV kì vọng rủi ro kiểm

chấp nhận rủi ro kiểm toán mong muốn ở mức 0,05, khi đó rủi ro phát hiện
(DR) được tính ra theo công thức ở mô hình (2):
DR =
0,05
0,8
0,9 0,7x
=

Do đó khố lượng công việc và số lượng bằng chứng kiểm toán mà
KTV cần thu thập ít hơn so với trường hợp rủi ro kiểm toán mong muốn ở
mức 0,03. Với mô hình (2), rủi ro kiểm toán thường được xác định trước cuộc
kiểm toán theo tiêu chuẩn của từng công ty kiểm toán và được gọi là rủi ro
kiểm toán mong muốn ( DAR – Designed Audit Risk). Vì vậy mô hình (2)
thường được thể hiện dưới dạng:
DR =
DAR
IR x CR
Trong một cuộc kiểm toán, rủi ro không bao giờ được loại trừ một cách
chắc chắn. Vì vậy, khái niệm rủi ro kiểm toán mong muốn thể hiện mức độ kỳ
vọng của KTV đối với một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Rủi ro kiểm
toán mong muốn được xác định một cách chủ quan theo kinh nghiệm và óc
xét đoán nghề nghiệp của KTV. Khi KTV cho rằng rủi ro kiểm toán mong
muốn (DAR) bằng 0 có nghĩa là KTV tin tưởng BCTC của khách hàng không
tồn tại bất cứ sai phạm trọng yếu nào. Đây là trường hợp lý tưởng cho mọi
cuộc kiểm toán nhưng không bao giờ xảy ra. Lĩnh vực kiểm toán là một lĩnh
10
vực tương đối hơn tuyệt đối, vì vậy KTV chỉ có thể kết luận BCTC đã được
trình bày, trung thực hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu chứ không thể
khẳng định chắc chắn trung thực, hợp lý xét trên mọi khía cạnh. Ngược lại,
khi rủi ro kiểm toán ở mức 1 hay 100%, KTV cho rằng BCTC của khách hàng

hoạt động tronh lĩnh vực kinh doanh mang tính mạo hiểm cao, rủi ro tiềm tàng
lớn, mặc dù HTKSNB của doanh nghiệp hoạt động hữu hiệu nhưng rủi ro kiểm
soát phải luôn được đánh giá ở mức trung bình hoặc trên mức trung bình vì những
hạn chế cố hữu của HTKSNB và vì rủi ro kiểm soát luôn luôn tồn tại.
Ngược lại với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV có thể tác động
vào rủi ro kiểm toán và rủi ro phát hiện. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, KTV sẽ
dự kiến mức rủi ro kiểm toán mong muốn trên cơ sở đảm bảo tính đáng tin
cậy của BCTC sau khi kiểm toán và chi phí kiểm toán. Rủi ro phát hiện được
tính toán theo mô hình (2) sau khi đã xác định được rủi ro kiểm toán mong
muốn và đánh giá được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Vì vậy, KTV
không những nhận thức được mà còn có thể tác động vào rủi ro phát hiện.
Với một mức rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định trước, từ mô hình
(2) có thể rút ra kết luận: rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, do vậy, rủi ro phát hiện cũng tỷ lệ nghịch với số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập. Nếu như rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát được đánh giá cao thì rủi ro phát hiện được tính toán sẽ thấp, khi đó số lượng
bằng chứng kiểm toán cần thu thập nhiều, phạm vi kiểm toán mở rộng và khối
lượng công việc kiểm toán tăng. Ngược lại khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
được đánh giá thấp thì rủi ro phát hiện cao, khi đó KTV chỉ cần thu thập số lượng
bằng chứng kiểm toán nhỏ hơn cũng đủ cơ sở đưa ra kết luận kiểm toán.
Bảng 1.1. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
với số lượng bằng chứng kiểm toán
AR IR CR DR
Số lượng bằng
chứng cần thu thập
Cao Thấp Thấp Cao Thấp
Thấp Thấp Thấp Trung bình Trung bình
Thấp Cao Cao Thấp Cao
Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
Cao Thấp Trung bình Trung bình Trung bình

số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ chính xác trong các
kết luận đưa ra của mình.
13
Một số yếu tố chỉ ra mức độ mà theo đó các BCTC được người sử dụng
bên ngoài tin tưởng là:
Thứ nhất, quy mô của đơn vị được kiểm toán: quy mô của đơn vị có thể
được đo bằng tổng tài sản, tổng doanh thu, hoặc tổng thu nhập. Quy mô càng
lớn thì BCTC càng được sử dụng rộng rãi và rủi ro kiểm toán mong muốn cần
đánh giá ở mức thấp hơn
Thứ hai, quyền sở hữu: Nếu quyền sở hữu doanh nghiệp thuộc về
nhiều bên tham gia hơn thì sẽ có nhiều người quan tâm đến BCTC hơn và
rủi ro kiểm toán mong muốn cũng cần được đánh giá ở mức thấp hơn và
ngược lại
Thứ ba, bản chất và quy mô của công nợ. Các khoản công nợ là những
khoản chắc chắn có liên quan tới một bên thứ ba cho vay, cho nợ. Các chủ nợ
hiện tại và tiềm năng thường quan tâm đến tình hình tài chính của công ty đặc
biệt là khả năng thanh toán để xem xét có tiếp tục duy trì và cho doanh nghiệp
vay tiếp hay không. Vì thế, khi BCTC bao gồm một số lượng lớn các khoản
công nợ hoặc các khoản công nợ có quy mô lớn thì chúng có khả năng được
sử dụng rộng rãi hơn.
Hai là, khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán công bố
Nếu khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán
được công bố thì khả năng KTV sẽ liên quan tới các vụ kiện của các bên do
sử dụng BCTC được kiểm toán là rất lớn. Chính vì thế, trong trường hợp này,
KTV phải thiết lập ngay từ đầu một mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp
hơn để đề phòng các trường hợp bị các bên có liên quan kiện. Trường hợp này
sẽ dẫn đến chi phí kiểm toán cao hơn nhưng KTV vẫn phải xác định rủi ro
kiểm toán ở mức thấp hợp lý.
Việc dự đoán khả năng thất bạim khó khăn của đơn vị được kiểm toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status