TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối chiến lược CNH - HĐH mà Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một
nước có nền kinh tế công nghiệp hiện đại, bảo đảm dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng công tác
xuất nhập khẩu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại với
mục tiêu kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 115%, kim ngạch
nhập khẩu tăng bình quân hàng năm 10%. Nhìn lại chặng đường phát triển
của hoạt động ngoại thương Việt Nam cho thấy, mặc dù còn rất khiêm tốn
song đã đi những bước rất vững chắc khai thác mọi tiềm năng để phát triển,
khẳng định chỗ đứng của mình ở thị trường trong nước và Quốc tế.
Trong xu thế mở cửa và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới theo tinh
thần đổi mới kinh tế của Nhà nước ta, việc mở rộng hoạt động của các doanh
nghiệp ra các thị trường nước ngoài là một xu hướng tất yếu khách quan đáp
ứng yêu cầu của nền kinh tế đất nước nói chung và của doanh nghiệp nói
riêng. Hoạt động xuất khẩu là một mặt của lĩnh vực ngoại thương có vị trí
đáng kể trong nền kinh tế quốc dân góp phần kích thích sản xuất hàng hoá
trong nước phát triển, tăng tích luỹ ngoại tệ cho đất nước để thực hiện tái sản
xuất mở rộng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân và thực hiện CNH - HĐH đất nước.
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu trong
toàn bộ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại.
Qua quá trình học tập ở trường và thực tập tại Công ty Kinh doanh và Xuất
nhập khẩu, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Biện pháp thúc đẩy
xuất khẩu mặt hàng gốm sứ Bát Tràng của Công ty Cổ Phần Sứ Bát
Tràng thuộc Tổng công ty Thương Mại Hà Nội”.
Đề tài gồm 3 chương:
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ
mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài
nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ,
qua đó có thể đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh
tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhân dân. Xuất khẩu là hoạt động
kinh tế đối ngoại đem lại những hiệu quả đột biến cao hoặc có thể gây thiệt
hại vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà chủ thể
trong nước tham gia không dễ dàng khống chế được.
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế
đầu tiên của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi
doanh nghiệp đã đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình.
Mục đích của kinh doanh xuất khẩu là khai thác được lợi thế của các
quốc gia trong phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất
nước. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện
với nhiều loại mặt hàng khác nhau. Phạm vi hoạt động xuất khẩu rất rộng cả
về không gian và thời gian.
1.2 Các hình thức xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
nhưng những hình thức chủ yếu thường được các doanh nghiệp ngoại thương
lựa chọn là:
1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp:
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
Sơ đồ kênh phân phối trực tiếp
Đây là hình thức mà hàng hoá được mua hay bán trực tiếp của nước
ngoài không qua trung gian. Theo hình thức này, đơn vị kinh doanh xuất nhập
khẩu trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương. Các doanh nghiệp ngoại thương
tự bỏ vốn ra mua các sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó bán
các sản phẩm này cho các khách hàng nước ngoài (có thể qua một số công
đoạn gia công chế biến).
1.2.3 Xuất khẩu uỷ thác:
Trong phương thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên uỷ thác giao
cho đơn vị xuất khẩu gọi là bên nhận uỷ thác tiến hành xuất khẩu một hoặc
Người tiêu
dùng cuối
cùng
Môi giới
Bán lẻ
Bán buôn
Doanh
nghiệp sản
xuất
Đại lý
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
một số lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình (bên nhận uỷ thác) nhưng
với chi phí của bên uỷ thác. Về bản chất, chi phí trả cho bên nhận uỷ thác
chính là tiền thù lao trả cho đại lý.
Ưu điểm: Công ty uỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh
doanh, tránh được rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được một khoản lợi
nhuận là hoa hồng cho xuất khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất
khẩu nên tất cả các chi phí từ nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký
kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng không phải chi, dẫn tới giảm chi phí
trong hoạt động kinh doanh của công ty.
Nhược điểm: Do không phải bỏ vốn vào kinh doanh nên hiệu quả kinh
doanh thấp không bảo đảm tính chủ động trong kinh doanh. Thị trường và
khách hàng bị thu hẹp vì công ty không có liên quan tới việc nghiên cứu thị
trường và tìm kiếm khách hàng.
1.2.4 Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất:
Đây là hình thức mua của nước này bán cho nước khác, không làm thủ
nước, đặc biệt là các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào áp dụng.
Thông qua hình thức này, họ vừa tạo cho người lao động có công ăn việc làm,
lại vừa tiếp nhận được công nghệ mới. Mặt khác, nước này lại không phải bỏ
ra nhiều vốn và cũng không lo về thị trường tiêu thụ.
Các nước đặt gia công cũng có lợi vì họ có thể tận dụng được nguồn
nguyên liệu phụ và nhân công dồi dào với giá rẻ của nước nhận gia công.
Song hình thức này cũng có hạn chế là các nước nhận gia công bị phụ thuộc
vào nước đặt gia công về số lượng, chủng loại hàng hoá gia công đồng thời
cũng bị o ép về phí gia công.
2. Sự cần thiết và vị trí xuất khẩu:
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
Hoạt động kinh tế là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người. Lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động càng mở rộng
thì sự khác biệt giữa các quốc gia trên thế giới càng sâu sắc, không chỉ khác
biệt về truyền thống văn hoá mà còn là sự chênh lệch về trình độ nhận thức,
công nghệ kỹ thuật cũng như về năng suất lao động, giá thành sản phẩm từ đó
làm xuất hiện lợi thế mới của mỗi quốc gia. Điều này đòi hỏi các quốc gia
phải có những biện pháp thích hợp nhằm phát huy triệt để lợi thế của mình
trong sự phân công lao động và trao đổi mậu dịch quốc tế. Đó chính là việc
một quốc gia có thể mua từ các quốc gia khác những hàng hoá mà bản thân
không sản xuất được hoặc sản xuất ra không đáp ứng yêu cầu do giá thành
cao mà chất lượng lại kém. Và như vậy có nghĩa là, quan hệ thương mại đã
không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà không ngừng phát triển và lan
rộng trên phạm vi quốc tế thông qua hoạt động xuất nhập khẩu.
Xuất khẩu hàng hoá đóng vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước,
góp phần thúc đẩy hơn nữa vào quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới. Với
Việt Nam ta, xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu nói riêng từ lâu đã được
coi là một mặt hoạt động không thể thiếu được của hoạt động kinh tế đối
ngoại, là một phương tiện quan trọng để phát triển nền kinh tế đất nước.
nhu cầu về văn hoá, tinh thần… Chính điều này giải thích cho nhiều hiện
tượng xảy ra trong thế giới người tiêu dùng khi họ thích tiêu dùng sản phẩm
ngoại thay vì các sản phẩm được sản xuất trong nước thị hiếu khác nhau giữa
các nước, giữa một người điều này giải thích vì sao phải đa dạng hoá sản
phẩm trong thương mại quốc tế.
Đây là một số cơ sở chính dẫn đến sự ra đời của hoạt động thương mại
quốc tế. Ngoài ra còn nhiều cơ sở khác như quan hệ hỗ trợ, quan hệ vay nợ,
mục đích tìm kiếm lợi nhuận, sự độc quyền về bản quyền, bằng phát minh
sáng chế…
3.Vai trò của xuất khẩu :
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
Kinh doanh xuất khẩu tạo điều kiện cho nhiều quốc gia có thể phát huy
tối đa những lợi thế của mình về vốn, công nghệ, tài nguyên, nguồn lao động.
Đồng thời, kinh doanh xuất khẩu cũng tạo điều kiện cho nhiều quốc gia đang
phát triển và những quốc gia kém phát triển có điều kiện tiếp thu được những
công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh doanh tiên tiến của các quốc gia đi
trước.
Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát
triển kinh tế và thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nước. Vai trò của xuất
khẩu được thể hiện qua các điểm sau:
3.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.
* Xuất khẩu là phương tiện chính góp phần tạo nguồn vốn chủ yếu cho
nhập khẩu phục vụ CNH - HĐH đất nước.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
- Đầu tư nước ngoài.
- Vay nợ, viện trợ.
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ.
- Xuất khẩu hàng hoá.
Trong đó nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá là nguồn vốn quan trọng
để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển
thuận lợi.
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho
sản xuất phát triển và ổn định.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và tạo
ra một năng lực sản xuất mới.
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
+ Xuất khẩu góp phần trong việc hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích
nghi được với thị trường.
+ Xuất khẩu thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất
từng quốc gia. Khoa học công nghệ càng phát triển thì phân công lao động
càng sâu sắc. Ngày nay, nhiều sản phẩm mà việc chế tạo từng bộ phận được
thực hiện ở các quốc gia khác nhau. Để hoàn thiện được những sản phẩm này,
người ta phải tiến hành xuất khẩu linh kiện từ nước này sang nước khác để lắp
ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Như vậy, mỗi nước có thể tập trung vào sản xuất
một vài loại mà họ có lợi thế, sau đó tiến hành trao đổi lấy những hàng hoá
mà mình cần.
* Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân.
Xuất khẩu tác động đến nhiều mặt của đời sống nhân dân. Trước hết,
sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu người lao động và tạo ra thu
nhập không thấp. Hoạt động thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng
phát triển kéo theo hàng triệu người tham gia lao động vào lĩnh vực này và
dần dần nâng cao mức sống của người dân. Bởi vì, xuất khẩu phát triển đã
kéo theo hàng loạt các ngành nghề khác phát triển, khôi phục lại những ngành
trình sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao
động, tạo ra thu nhập ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng
tiêu dùng. Nó vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân vừa thu
được lợi nhuận.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị
trường, mở rộng quan hệ buôn bán với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở đôi
bên cùng có lợi. Vì vậy, đã giúp doanh nghiệp tăng được doanh số bán và lợi
nhuận. Đồng thời chia sẻ được rủi ro mất mát trong hoạt động kinh doanh
tăng cường uy tín kinh doanh của công ty. Từ đó có điều kiện học hỏi, tiếp
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ phía đối tác nước ngoài, góp phần nâng
cao năng lực chuyên môn cho các thành viên trong doanh nghiệp.
- Kinh doanh xuất khẩu phát huy được những khả năng vượt trội của
doanh nghiệp và khắc phục được những hạn chế của doanh nghiệp.
- Xuất khẩu khuyến khích phát triển các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển, các hoạt động
sản xuất, Marketing cũng như sự phân phối và mở rộng kinh doanh.
Có thể nói một cách khái quát rằng xuất khẩu góp phần quan trọng
trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế
của một quốc gia.
II.NỘI DUNG VỀ XUẤT KHẨU MẶT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT
NAM :
Hàng thủ công mỹ nghệ có nhiều chủng loại là những mặt hàng thuộc
các ngành nghề truyền thống, được sản xuất bởi các nghệ nhân, thợ thủ công
có tay nghề tinh xảo và độc đáo truyền từ đời này sang đời khác và được phát
triển theo nhu cầu của cuộc sống. Đời sống được cải thiện thì nhu cầu về các
hàng hoá này sẽ tăng lên, cả cho tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu.
Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ
từ thời Lý thế kỷ XI đến thời Lê - Trịnh và Nguyễn Huệ - Tây Sơn (thế kỷ
XVIII ) và về sau còn qua cảng Phố Hiến, Kẻ chợ, Cửa Thuận An, Hội An,
Phan Thiết, Bến Nghé, Nhà Rồng, Khi đó, sản phẩm xuất khẩu của ta
ngoài các nông lâm hải sản, còn có đồ gốm, đồ gỗ mây tre, giấy dó, tơ lụa, đồ
bạc Đầu thế kỷ XX, hàng thủ công mỹ nghệ của ta thường xuyên tham gia
các Hội chợ, đấu xảo tại Pháp có thợ trình diễn sản xuất, chế tác tại chỗ. Như
vậy, từ lâu đời sản phẩm thủ công mỹ nghệ của ta đã có mặt trên thị trường
thế giới.
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, ta đã khai thác thế mạnh của các
ngành truyền thống này để đẩy mạnh xuất khẩu. Trong thời kỳ 1976-1990,
hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của ta chủ yếu bao gồm: các loại thảm len,
thảm đay, thảm cói, chiếu cói, hàng mây tre đan, mành trúc, mành cọ, hàng
thêu ren, khăn trải giường , tuyệt đại bộ phận các hàng hoá này được xuất
khẩu sang thị trường các nước Liên Xô cũ và Đông Âu. Kim ngạch xuất khẩu
có năm đạt gần 250tr.R/USD (chủ yếu là Rúp), chiếm 37% trong kim ngạch
xuất khẩu của cả nước (1985), cá biệt có năm tỷ trọng lên đến 53% (1979),
bình quân trong 10 năm 1976-1985 tỷ trọng hàng thủ công mỹ nghệ trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt nam là gần 40%.
Vào thời kỳ cuối những năm 1980 ta bắt đầu xuất khẩu một số các mặt
hàng khác với khối lượng lớn nên tỷ trọng nhóm hàng thủ công mỹ nghệ
giảm đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bình quân trong
thời kỳ 1986 - 1990, tỷ trọng cả hàng công nghiệp nhẹ và hàng thủ công mỹ
nghệ chỉ còn 29,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tuy kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong thời kỳ này có
năm đạt khá cao (gần 250 triệu R/USD) nhưng chủ yếu là tính giá bằng Rúp
theo giá hình thành không thay đổi trong thời gian dàI ; nên nếu xét về thực tế
thì giá này thường cao hơn giá cùng lọi xuất khẩu sang thị trường ngoại tệ tự
do chuyển đổi từ 1,5 đến 2 lần. Dođó, trị giá thực của kim ngạch xuất khẩu
Đồ gỗ mỹ nghệ bao gồm tranh gỗ , tượng gỗ , hàng sơn mài , đồ gỗ gia dụng
có chạm, khảm, sơn mài là nhóm hàng hiện nay đang có tỷ trọng xuất khẩu
cao nhất trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và cũng là mặt hàng có thế
mạnh trong tương lai. Nếu năm 2002 kim ngạch các loại hàng này đạt được
30 triệu USD, thì năm 2005 đã đạt được gần 60 triệu USD. Dự tính trong 5
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
năm 2006-2010 với mức tăng trưởng trung bình 15 - 20% có thể đạt mục tiêu
cho kim ngạch xuất khẩu cho năm 2010 vào khoảng 150 triệu USD.
Chúng ta cũng nên xếp các sản phẩm đồ gỗ gia dụng vào nhóm hàng thủ
công mỹ nghệ. Bởi vì, đồ gỗ gia dụng có nhiều loại, chủ yếu là những sản
phẩm của lao động thủ công có tay nghề truyền thống, các khâu sản xuất
công nghiệp có sử dụng thiết bị máy móc chế biến gỗ là khâu xử lý nguyên
liệu đầu vào, tương tự như khâu công nghiệp xử lý đất sét, cao lanh trong
ngành đồ gốm. Mặt khác đồ gỗ gia dụng nếu được sản xuất chế biến thêm các
khâu trạm, khảm, sơn mài thì lại trở thành đồ gỗ mỹ nghệ.
Xuất khẩu đồ gỗ gia dụng năm 2002 đạt kim ngạch gần 70 triệu USD
tăng gần 19% so với năm 2001, năm 2005 đạt được 90 triệu USD, năm 2006
ước tính đạt được khoảng 120 - 130 triệu USD. Dự tính với tốc độ tăng trung
bình như hiện nay (khoảng 25%/năm) đến năm 2010 kim ngạch riêng của
mặt hàng này có thể đạt khoảng 350 - 400 triệu USD.
Như vậy đối với nhóm sản phẩm gỗ, (bao gồm cả đồ gỗ gia dụngvà gỗ
mỹ nghệ) có thể tính kim ngạch khoảng 200 triệu USD trong năm 2005 và dự
tính năm 2010 sẽ dạt khoảng 500-550 triệu USD
2.2.2. Nhóm hàng gốm, sứ mỹ nghệ
Đây cũng là nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam hiện đang được
thị trường nước ngoài ưa chuộng và có nhiều khả năng phát triển nhanh trong
hiện tại, cũng như trong tương lai.
Năm 2002 trong tổng kim ngạch xuất khẩu 121triệu USD hàng thủ công
mỹ nghệ (không kể đồ gỗ gia dụng) thì trên 50% là hàng gốm sứ mỹ nghệ
USD/năm, Inđônêxia xuất khẩu khoảng 50 triệu USD/năm, Trung quốc xuất
khẩu nhóm hàng thảm len và sản phẩm đan từ các loại cây đạt kim ngạch
trên dưới 1 tỷ USD/năm.
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
Nếu chúng ta làm tốt công tác tiếp thị , xúc tiến thương mại và thực hiện
tốt các chính sách hỗ trợ của nhà nước thì việc các doanh nghiệp có thể trở lại
thị trường cũ và còn có cơ hội chinh phục các thị trương mới. Thực tế đã cho
ta thấy mục tiêu phấn đấu năm 2005 trở lại mức 30 - 40 triệu USD kim ngạch
xuất khẩu của nhóm hàng này đã đạt được và hiện nay chúng ta đang đặt ra
mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 sẽ đạt được mức kim ngạch khoảng 60 - 80
triệu USD/năm.
2.2.4 Một số mặt hàng khác
Nhóm hàng thảm các loại: (thảm len , thảm đay – cói , thảm xơ dừa …)
Mặt hàng thảm trước năm 1990 Việt nam xuất khẩu với khối lượng
tương đối lớn ( mỗi năm xuất khẩu khoảng 3 triệu m2 thảm đay, gần 2,5 triệu
m2 thảm cói, gần nửa triệu m2 thảm len …). Sau năm 1990 ta gần như mất
hẳn thị trường xuất khẩu các loại hàng hoá này, số lượng xuất khẩu hàng năm
giảm mạnh gây nhiều khó khăn cho sản xuất và lực lượng lao động trong
ngành này. Vài năm gần đây ngành này đã có dấu hiệu hồi phục : Thái Bình
đã có thị trường xuất khẩu mặt hàng đệm ghế cói ( gần 500 nghìn chiếc với
giá 0,7 USD/chiếc , dự kiến sẽ tăng lên 1 triệu chiếc/năm, ngoài ra còn xuất
khẩu được loại thảm cói đay với giá 1,5 USD/m2 ); Nam Định cũng xuất khẩu
được mỗi nam khoảng 1 triệu sản phẩm đay, 300 nghìn sản phẩm cói; Hải
Phòng, Nam Định, Hà Tây vẫn có xuất khẩu thảm len mỗi năm khoảng 15 -
25 nghìn m2/năm. Ngoài ra còn có sản phẩm thảm xơ dừa của Bình Định
cũng rất phát triển
Nhìn chung, thị trường xuất khẩu nhóm hàng này hiện nay vẫn còn khó
khăn. Nếu làm tốt công tác thị trường, xúc tiến thương mại và có chính sách
hỗ trợ của nhà nước thì trong những năm tới ngành này sẽ phát triển thêm một
180 - 220 triệu USD) và mục tiêu phấn đấu đạt kim ngạch khoảng 900 - 1000
triệu USD vào năm 2010 (nếu không tính đến đồ gỗ gia dụng thì chỉ khoảng
550 - 600 triệu USD), với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 25%/năm.
Nếu tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 20% thì kim ngạch 2010 chỉ đạt
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
khoảng 780-800 triệu USD, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 15% thì kim
ngạch chỉ còn 600-700 tiệu USD. Nhưng thực tế về xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ trong những năm qua cho ta thấy mục tiêu có tốc độ tăng trưởng
trung bình 25% một năm là hoàn toàn có cơ sở đạt được.
Nếu đạt được mục tiêu phấn đấu năm 2010 kim ngạch xuất khẩu hàng
thủ công mỹ ngệ khoảng 900-1000 triệu USD sẽ có một ý nghĩa quan trọng.
Mục tiêu đó sẽ tương đương với việc chúng ta có thêm khoảng 4 triệu tấn gạo
để xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ năm 2005 và mục tiêu phấn đấu đến
năm 2010
Đơn vị: triệu
USD
Kim ngạch xuất khẩu Năm 2005 Năm 2010
- Đồ gỗ gia dụng 120-130 350-400
- Đồ gỗ mỹ nghệ 50- 60 120-150
- Gốm, sứ mỹ nghệ 100-120 250-300
- Mây, tre đan 30-40 60-80
- Thảm các loại 10 20-25
- Thêu ren, thổ cẩm 10 20-25
- Các loại khác 10 20-30
Tổng 330-380 840-1010
(Nguồn: vụ Kế hoạch và Thống kê Bộ TM)
2.3 Thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam
Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam đến nay đã có mặt trên 50 nước và
hứa hẹn giúp đỡ đầu tư mở rộng sản xuất tăng lượng hàng cung ứng cho thị
trường này lên 2-3 lần so với hiện nay .
Các mặt hàng như mây, tre, lá đan , các sản phẩm bàn ghế, trang trí
nội thất bằng nguyên liệu song mây, hàng thêu ren cũng được thị trường này
ưa chuộng và chúng ta đã thực hiện xuất khẩu được khối lượng đáng kể như
hàng mây tre xuất sang Tây Âu; thảm cói, đệm cói sang Hà Lan, Tây Ban
TrÇn V¨n Th¾ng KTNT TC21B Khãa LuËn tèt
nghiÖp
Nha, Ý…; hàng thêu ren, thảm dệt sang thị trường Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Áo,
Đức
Trong khu vực thị trường này , hầu hết các nước đều nhập hàng thủ
công mỹ nghệ của ta, trong đó có một số thị trường nhập khẩu với kim ngạch
tương đối lớn. Riêng 8 tháng đầu năm 2004, ta đã xuất khẩu sang Đức 7,6
triệu USD; Bỉ 6,2 triệu USD; Hà Lan 5,9 triệu USD; Anh 4,2 triệu USD
hàng thủ công mỹ nghệ.
Nhưng thực tế cho ta thấy, nhu cầu của thị trường này về hàng thủ công
mỹ nghệ Việt nam là rất lớn nhưng do các cơ sở sản xuất hiện nay mới hồi
phục nên chưa đáp ứng đủ cho khách hàng.
Thực tế trên chứng minh nếu phát hiện, nắm bắt được nhu cầu thị hiếu
của từng thị trường và có giải pháp thích hợp để đáp ứng thì mở rộng được thị
trường tiêu thụ, phát triển được sản xuất, tạo được việc làm và thu nhập cho
dân.
Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường gần và có nhu cầu lớn về nhiều loại hàng xuất
khẩu của ta, và nếu xét thị trường theo từng nước thì Nhật Bản là thị trường
xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam từ 1991 đến nay. Nhật cũng là thị trường
tiêu thụ lớn đối với nhiều chủng loại hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.
Thị trường Nhật có nhu cầu lớn về hàng gốm sứ , trong những năm gần
đây nhập khẩu mặt hàng này của Nhật tăng mạnh (riêng năm 2001 kim ngạch
nhập khẩu đạt 1tỷ USD). Tuy nhiên, thị phần mặt hàng gốm sứ Việt nam trên
Hồng Kông sau đó sẽ được tái xuất sang các thị trường khác như Châu Âu,
Châu Mỹ
* Một số thị trường tiềm năng khác