Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, nghề trồng ngô trên thế giới đã có những bước phát
triển kỳ diệu nhờ áp dụng khoa học khác về di truyền giống và kỷ thuật nông
học. Hiện nay, trong ba cây ngũ cốc chính của loài người: lúa nước, lúa mì, và
ngô, thì cây ngô phát triển nhanh chóng về quy mô, tỷ lệ và hiệu quả sử dụng ưu
thế lai cũng như công dụng của nó.
Cây ngô (Zea mays.L) là một trong những cây ngũ cốc có năng suất và có
giá trị kinh tế lớn của loài người. Cây ngô bắt nguồn từ một cây hoang dại có tên
là teosinte ở Miền Trung Mexico, trên độ cao 1500 m của vùng bán hạn có mưa
mùa hè khoảng 350mm. Trải qua 7 ngàn năm tiến hoá, phát triển thông qua quá
trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo, ngô đã có sự đa dạng di truyền rất rộng và
khả năng thích ứng có lẽ không cây nào sánh kịp [1].
Từ ngô, người ta có thể chế ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các
ngành công nghiệp lương thực, thực phẩm, công nghiệp dược và công nghiệp
nhẹ. Có thể nói ngô là loại cây trồng có tiềm năng to lớn hiếm thẩy trên cả hai
quá trình tạo năng suất sơ cấp và năng suất thứ cấp, là nguồn liệu quan trọng cho
nhiều ngành sản xuất hàng hoá của xã hội. Nhiều dự đoán đã khẳng định cây ngô
có đầy triển vọng, là cây "báo hiệu ấm no" của thế kỷ XXI[2].
Ngô thuộc nhóm cây quang hợp theo chu kỳ C
4
nên có ưu thế tạo được
sinh khối lớn hơn so với cây quang hợp theo chu trình C
3
. Những loài cây quang
hợp theo chu trình C
4
có hiệu suất sử dụng ánh sáng cao (5-6%), trong khi các
loại cây quang hợp theo chu trình C
3
trọng duy để duy trì các nguồn gen quý hiếm để đưa vào sản xuất. Đó cũng là
mục đích của các thầy cô trong khoa nông học của Trường Đại học Nông Lâm
Huế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:"Kiểm tra một số tổ hợp ngô nếp mới được lai tạo trong vụ Xuân 2007 tại xã
Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế"
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Kiểm tra sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp nhằm so sánh, đánh giá,
chọn lọc các dòng tự phối có thời gian sinh trưởng ngắn, phẩm chất thơm ngon,
chống chịu khoẻ với điều kiện tự nhiên và các loại sâu bệnh hại.
2
1.3. YÊU CẦU
Theo dõi thí nghiệm, quan sát các đặc trưng đặc tính độ đồng đều, năng
suất để lựa chọn những tổ hợp tốt làm vật liều nghiên cứu tiếp theo.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. NGUỒN GỐC VÀ VAI TRÒ CỦA CÂY NGÔ
2.1.1. Nguồn gốc cây ngô
2.1.1.1. Vùng và thời điểm phát sinh cây ngô
Cây ngô là cây cho năng suất, sản lượng cao và nó có giá trị kinh tế cao
của loài người. Việc tìm ra nguồn gốc cây ngô đến nay con nhiều điều cần
nghiên cứu.
Nghiên cứu của Vavilov (1926) đã cho rằng: Mexico và Peru là những
trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền của ngô. Mexico là trung tâm thứ nhất
(trung tâm phát sinh) ,vùng Andet (Peru) là trung tâm thứ hai, nơi cây ngô đã trải
qua quá trình nhanh chóng. Nhận định này của Vavilov được nhiều nhà khoa học
chia sẻ: (Galinat, 1977; Wilkes,1980; Kato, 1984, 1988)[3].
Vào những năm 500-1000 năm trước công nguyên, những dân tộc sống
bằng nghề nông ở hai nước trên đã giao tiếp với nhau và ngô đã được phổ biến
một số nhà nghiên cứu bác bỏ vì thiếu bằng chứng tồn tại của ngô tiền Colomb ở
châu Âu và loài sorgham với 2n =10 nhiễm sắc thể có hình thái hoàn toàn khác
ngô.
- Giả thuyết là con lai giữa ngô bọc teosinte và trisacum tạo nên ngô Trung và
Bắc Mỹ, rằng teosinte là cây lai giữa ngô Nam Mỹ với trisacum Trung Mỹ. Gần
đây Mangelssdorf (1958) đã cải tiến thuyết ba phần và cho rằng ngô nguyên
thuỷ là bắt nguồn từ con lai giữa ngô bọc và ngô nổ.
- Giả thuyết coi ngô, Teosinte và trisacum bắt nguồn từ một tổ tiên chung được
Weather War đề xuất đầu tiên vào năm 1955. Hiện nay, ba loài này vẫn được tồn
tại ở châu Mỹ, trisacum và teosinte dưới dạng cỏ dại.
5
Thuyết teosinte (Bealle, 1939; Langham, 1940; Langley 1941) cho rằng
một hoặc nhiều đột biến xẩy ra với cây teosinte đã làm thay đổi một vài cấu trúc
mà tạo nên cây ngô nguyên thuỷ, thực tế có rất nhiều điểm tương đồng giữa ngô
và teosinte về hình thái, tế bào di truyền, chúng có thể lai với nhau và cho con lai
hữu hiệu.
Tuy nhiên cũng còn nhiều câu hỏi phải trả lời, đặc biệt về các bằng chứng
khảo cổ để khẳng định teosinte là tổ tiên của ngô.
2.1.2. Vai trò của ngô
Ngày nay, cây ngô được trồng rất phổ biến một phần nhờ sản lượng cũng
như năng suất của ngô cao có thể đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm. Về giá
trị trong hạt ngô có đầy đủ cho con người và gia súc như các loại cây lương thực
khá, thậm chí còn cao hơn bao gồm hàm lượng protêin chiếm 9-12%, tinh bột
69,2%, lipit 4,3% cao hơn nhiều so với lúa gạo và còn nhiều vitamin: A, C, B
1
,
B
2
, đặc biệt là Vitamin F và các chất khác chiếm 1,32%.
Bảng 1: Thành phần hoá học của các phần chính của hạt ngô (%)
Như vậy giá trị của cây ngô trong đời sống của chúng ta là hết sức quan
trọng. Cho nên, chúng ta cần chú ý dùng các biện pháp kỷ thuật, tạo một số
giống có năng suất phẩm chất cao để nó trở thành sản phẩm hàng hoá xuất khẩu
để tăng thu lợi nhuận cho nền kinh tế.
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
2.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô được trồng trên những địa bàn rộng lớn trên trái đất, từ vĩ độ 58
0
Bắc
đến 38
0
Nam, từ độ cao 1-2 m đến khoảng 3600 m so với mặt biển từ khí hậu
vùng xích đạo nóng,mưa nhiều đến vùng lạnh ôn đới. Ngô là cây lương thực
7
quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Trên thế giới cây ngô đứng thứ 3 về diện
tích, đứng thứ 2 về sản lượng và đứng thứ 1 về năng suất.
Những năm1960-1961 sản lượng ngô trên thế giới đạt 224,2 triệu tấn (Fao
1961) trong 10 năm (từ 1970-1980) hàng năm đạt 3,8% trên năm và đạt 434
triệu tấn, thì đến năm 1990 – 1992 trên thế giới đã gieo trồng 129.804.000 ha
ngô và năng suất bình quân là 3,8 tấn tấn/ha và cho sản lượng gần 500.000.000
tấn.
Bảng 2: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ năm 2000-2006.
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn)
2000 138.44 4.28 593.60
2001 139.11 4.41 641.73
2002 138.49 4.38 602.93
2003 144.33 4.45 642.47
2004 146.93 4.92 724.23
2005 147.01 4.70 692.03
(nguồn: Fao 2006)
triệu tấn, tổng sản lượng ngô sẽ lên khoảng 837 triệu tấn năm 2010.
9
2.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ngày nay ngô đã chiếm một vị thế hết sức quan trọng trong phát triển
nông nghiệp của cả nước. Cây ngô có thể trồng được nhiều vùng, nhiều vụ khác
nhau và nó đã trở thành cây quan trọng của cả đồng bằng, trung du và miền núi
về cả hai mặt: lương thực thực phẩm cho con người và thức ăn gia súc.
Trước năm 1975, do chiến tranh đất nước bị chia cắt nền sản xuất nông
nghiệp nói chung và sản xuất ngô nói riêng phát triển không bền vững và không
đều giữa các vùng. Năm 1935 diện tích ngô nước ta là: 181.000ha, năng suất là
9,7tạ/ha với tổng sản lượng 175.000 tấn thì đến năm 1945 diện tích trồng ngô
giảm còn 101.000 ha năng suất chỉ đạt 8,6 tạ/ha và cho sản lượng 87.000 tấn. Từ
giai đoạn 1955-1974, diện tích trồng ngô 209.200 ha với năng suất 10,75 tạ/ha
và sản lượng đạt 224.600 tấn.
Sau khi hoà bình lập lại, Đảng và chính phủ coi trọng nông nghiệp là mặt
trận hàng đầu nên đã có nhiều chủ trương chính sách thúc đẩy phát triển nông
nghiệp. Đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất và đặc biệt đã
đưa giống ngô lai năng suất chất lượng tốt.
Tốc độ phát triển ngô lai ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được
nhiều bước tiến lớn vào năm 1990 diện tích ngô lai cả nước mới chỉ là vài chục
hecta trồng thử nghiệm thì đến năm 2004, khoảng gần 80% diện tích ngô của cả
nước trên 700 nghìn ha được trồng bằng giống ngô lai. Điều này được thể hiện
rõ: Năm 1990 diện tích cả nước 434.800 ha, năng suất đạt 15,5 tạ/ha, sản lượng
671.000 tấn, đến năm 2005 thì diện ngô lai đã đạt đến 90%, năng suất là 35,5
tạ/ha, sản lượng 3756300 tấn.
Hiện nay, năng suất bình quân ngô của Việt Nam đã vượt qua Indonexia
(2,6 tấn/ha), Phipipin (1,6 tấn/ha), Ấn Độ (1,7 tấn/ha) và các nước châu Âu khác.
Trong 10 năm qua, tỷ lệ tăng trưởng ngô của Việt Nam là khá cao về diện tích là
3,7 %/năm, năng suất là 5,5%/năm, tổng sản lượng là 9,2%/năm.
10
Đến năm 2004 đạt 30,6 tạ/ha đây là một bước nhảy vọt. Ngoài chú trọng thâm
canh thì Tỉnh còn chú trọng mở diện tích trồng (năm 2005 đạt 1,8 nghìn ha). Đến
năm 2005 năng suất có giảm xuống còn 28,4 tạ/ha. Nhưng nhìn chung năng suất
mỗi năm tăng lên một cách rõ rệt thể hiện là năm 2006 năng suất tăng là 35,1
tạ/ha đã thể hiện được phương thức canh tác của người dân đã có bước phát triển
nhanh chóng, không còn hình thức canh tác lạc hậu nữa.
2.3. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Những năm gần đây, nhu cầu về ngô nếp ăn tươi, luộc, nấu chè… ngày
một tăng. Cây ngô đã được các nhà khoa học chú ý và tập trung lai tạo, cải tạo
giống mới, cho năng suất cao đáp ứng nhu cầu sử dụng hiện nay.
Ngô Hữu tình và CTV đã lai tạo giống ngô nếp hỗn hợp qua ba giai đoạn:
năm 1976 lai giữa các dòng từ các nguồn nếp trắng tạo ra các quần thể nền: năm
1984 đưa vào quần thể nền thêm 12 nguồn gen của một số giống ngô nếp địa
phương, sau đó chọn lọc theo phương pháp bắp trên hàng cải tiến qua 3 chu kỳ.
Đặc điểm của giống ngô nếp tổng hợp là thời gian sinh trưởng từ 95-120 ngày,
năng suất đạt 25-30tạ/ha, được công nhận vào năm 1989[7].
Nhóm nghiên cứu Phan Xuân Hào và CTV đã chọn tạo giống ngô nếp
ngắn ngày VN-2 từ các nguồn gen S-2, ngô nếp Tây Ninh, ngô nếp Thanh Sơn
(Vĩnh Phú), ngô nếp Quảng Nam Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu từ năm 1993-
1996, cho thấy ngô nếp VN-2 có chất lượng ngon dẻo, thơm, hạt trắng đục, bắp
12
to, hàm lượng protein cao, khả năng chống chịu tốt, năng suất cao nên được
trồng phổ biến[8].
Trần Thị Lâm, Trần Hồng Uy, nghiên cứu loại phụ ngô nếp trong tập đoàn
ngô địa phương Việt Nam (1997) gồm 72 mẫu ngô nếp được thu thập ở tất cả 6
vùng trong cả nước, thuộc 3 biến chúng :
-Var.albroceratina kulsh.et kaưu thế laihuh (nếp trắng):48 mẫu chiếm 66,7%
-Var.albroceratina kulsh.et kaưu thế laihuh (nếp vàng): 8 mẫu, chiếm 11,1%
-Var.albroceratina kulsh.et kaưu thế laihuh (nếp tím): 16 mẫu, chiếm 22,2%
Kết quả cho thấy: biến chúng ngô nếp tím sinh trưởng khoẻ hơn các biến
mức độ dị hợp thể giảm xuống nên các gen lặn có hại chuyển thành trạng thái
đồng hợp tử, khi đó chúng mới phát huy tác dụng. Kết quả là các dòng có độ
đồng đều cao, nhưng hậu quả là sự sống giảm mạnh, biểu hiện rõ nhất là sự suy
giảm các đặc trưng hình thái và năng suất, xuất hiện các dị hợp hình thoái hóa.
Ngày nay, các nhà tạo giống trên thế giới bằng nhiều phương pháp như
: lai xa, lai kép, lai thuận nghịch, nuôi cấy mô… đã tạo nhiều giống ngô lai có
nhiều đặc trưng đặc tính tốt những phương pháp tự thụ phấn cưỡng bức dòng
thuần vẫn được chú ý và cách làm đơn giản và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
2.5. HIỆN TƯỢNG ƯU THẾ LAI
Ưu thế lai là hiện tượng cây lai có sức sống khỏe hơn, tính chống chịu cao
hơn, năng suất cao hơn, phẩm chất tốt hơn so với bố mẹ của chúng.
Hiện tượng ưu thế lai không nhất thiết phải biểu hiện ra đồng thời ở tất cả
các tính trạng của cây lai nó có thể biểu hiện rất mạnh, yếu, hoặc không có. Theo
Xôcôlốp (1955) chỉ có 37% số tổ hợp lai cho năng suất cao hơn bố mẹ , 46% số
tổ hợp bằng mức trung gian của bố mẹ, 17% số tổ hợp cao thấp hơn bố mẹ[12].
Ưu thế lai đã được phát hiện và sự dụng rộng rãi trong chọn giống cây
trồng . Tuy nhiên các nhà khoa học chưa đưa ra được học thuyết duy nhất để
14
chấp nhận hiệu ứng ưu thế lai. Có nhiều giả thuyết tập trung lại người ta chấp
nhận các giả thuyết sau đây:
*Thuyết siêu trội:
Thuyết này do East (1912) và Hull (1945) đưa ra. Thuyết này cho rằng
bản thân dị hợp là nguyên nhân gây nên ưu thế lai. Cơ sở lý luận của giả thuyết
siêu trội là các gen trội và gen lặn thuộc cùng một locus giữa chức năng khác
nhau trong quá trình sống của sinh vật, nó sản sinh vật chất khác nhau, tất cả các
vật chất này bổ sung lẫn nhau có ảnh hưởng đến sức sống vượt xa đến bất cứ tác
dụng của một loài alen đồng hợp thể nào.
Hiệu ứng tạo ra do sự tác động bổ sung cho nhau giữa các alen trái dấu
cùng trên một locus gọi là hiệu ứng siêu trội.
a
trí ở trong bộ nhiễm sắc thể co tác động hỗ trợ lẫn nhau cho sự phát triển của
một tính trạng nào đó tốt hơn khi và chỉ khi có một gen trội hoặc hình thành nên
một tính trạng mới. Hiệu ứng cộng là cơ sở của việc sử dụng ưu thế lai khi lai
các giống với nhau A B.
*Thuyết cân bằng di truyền:
Nhằm liên kết các giả thuyết khác nhau để giải thích sự tổng hợp sự phát
sinh ưu thế lai.Theo thuyết này thì mỗi cơ thể sinh vật có một trạng thái cân bằng
di truyền do các gen nằm trong nhân và tế bào chất quyết định. Khi lai các cá
thể khác nhau thì cân bằng cũng bị phá vỡ tạo nên một cân bằng mới. Cân bằng
mới tạo nên kiểu hình tốt hơn hoặc xấu hơn cân bằng cũ. Nếu kiểu hình tốt hơn
thì xuất hiện ưu thế lai.
2.5.1. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới
Lịch sử phát triển ngô bắt đầu cùng với nguồn gốc của trồng trọt và đã
được trên 5000 năm. Cây ngô đã được cải lương với phát triển trồng trọt. Trong
quá trình ngô chuyển thành cây trồng (con người giúp đỡ những dạng đó sinh ra
và tồn tại), công tác lai tạo có vai trò quan trọng nhất[13].
Người đầu tiên nghiên cứu và phát triển ưu thế lai ở ngô là Chales Darwin.
Đó là năm 1871, từ một thí nghiệm nhỏ trong nhà kính ông nhận thấy những cây
giao phối phát triển cao hơn các cây tự phối 20%. Năm 1876 Darwin đã công bố
những kết quả thu được trong tác phẩm “ Những tác động của giao phấn và sự tự
phối trong thế giới thực vật”[14]
Năm 1904 ở Lang-Island nhà nghiên cứu Mỹ G.shell đã áp dụng sự giao
phối bắt buộc ở ngô để thu dòng thuần. Thí nghiệm này được quyết định tiến
hành dưới ảnh hưởng của các nhà thực nghiệm cổ điển Johanxen về di truyền
quần thể và dòng thuần. Ông nhận thấy thụ phấn cưỡng bức thì năng suất và sản
phẩm của cây bị giảm hai lần. Năm 1906, ông còn tiến hành một thí nghiệm
16
giao phối và tự phối, trên một hàng, một nửa ông cho tự phối, còn nửa kia được
lai với phần của nửa đối diện.
Ngoài việc theo dõi số hàng hạt ông thấy rằng chỉ tiêu này biến động từ
, D
3
,
D
4
, D
5
, D
6
, D
10
nhận thấy một số dòng, chúng có khả năng kết hợp cao nên đã sử
dụng vào giống lai tổng hợp và giống thụ phấn tự do. Còn dòng có khả năng kết
hợp riêng cao thì sử dụng lai đơn để đưa vào sản xuất [15].
Phạm Thị Tài, Trương Đích, Phạm Đồng Quảng (1996) đã nghiên cứu
tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất với năng suất của các dòng tự
phối S
1
, S
2
và F
1
của chúng, nhận xét việc chọn lọc các dòng tự phối theo các yếu
tố cấu thành năng suất ở quần thể đang phân ly S
1
, S
2
ở ngô có thể cải thiện được
năng suất cao, chống chịu lại không cao lắm[17].
Nguyễn Thị Bính, Trần hồng Uy đã áp dụng phương pháp lai luân phiên,
thử 2 (dòng thuần) cao hơn cây thử 1(lai đơn )[19].
Tỉnh Thừa Thiên Huế trồng diện tích ngô lai chưa cao chỉ chiếm 25-30%
mà hầu hết là cây trồng các giống địa phương, qua nhiều năm đã bị thoái hóa. Để
khắc phục tình tràng này chúng tôi tiếp tục tuyển chọn các dòng ngô nếp Cồn
Hến trong vụ Xuân 2007, nhằm phục hồi lại nguồn gen quý, chọn ra dòng tốt để
lai, vật liệu khởi đầu, nhằm tạo ra những giống ngô lai có triển vọng, phù hợp
với điều kiện Miền Trung.
18
PHẦN 3
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm gồm 10 tổ hợp giữa các dòng ngô nếp Cồn Hến. Vật liệu tham
gia thí nghiệm:
Số
TT
Tổ hợp
Số
TT
Tổ hợp
1 D2 x D6 6 D6 x D8
2 D2 x D11 7 D8 x D11
3 D2 x D20 8 D8 x D23
4 D6 x D12 9 D8 x D23
5 D6 x D23 10 D11 x D12
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ mục đích của đề tài, chúng tôi nghiên cứu những nội dung sau:
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai
- Nghiên cứu khả năng đặc trưng hình thái của các tổ hợp lai
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của các tổ hợp lai
- Nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai
Đất được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, xới xáo và san đất bằng phẳng, có
rãnh thoát nước. Dùng thước dây cắm cọc để chia ô, mỗi luống rạch 3 hàng với
khoảng cách 70 x 30/1cây.
3.3.2.2. Phân bón
-Mức bón cho 1 ha:
10 tấn phân chuồng 140 kg N + 0 kg P
2
0
5
+ 60 kg K
2
0
-Cách bón:
* Bón lót: bón toàn bộ phân chuồng đã ủ hoai mục, phân lân và 1/3 lượng đạm.
Bón đều vào rãnh rồi lấp một lớp đất mỏng trước khi gieo.
* Bón thúc: chia làm hai đợt bón.
+ Đợt 1(lúc ngô được 4-5 lá): bón 1/3 lượng đạm +1/2 lượng kali kết hợp với xới
xáo và vun gốc nhẹ.
+ Đợt 2 (lúc ngô 9- 10 lá): Bón 1/3 lượng đạm +1/2 lượng kali kết hợp với xới
xáo vun gốc cao.
3.3.2.3. Thời vụ gieo trồng
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Xuân 2007, ngày gieo 31-1-2007.
3.3.2.4. Chăm sóc
-Dặm hạt, tỉa cây,định cây:
Sau khi ngô mới một tuần,kiểm tra và dặm lai cá cây khuyết bằng hạt đã
đã được xử lý nảy mầm hoặc bứng bầu cây ở chỗ dày.
21
Khi cây ở giai đoạn 4-5 lá và 7- 9 lá thì tỉa dần và cuối cùng dể 1 cây /1 hốc
- Làm cỏ, xới xáo: chia làm 2 lần
• Lần 1: khi cây 4 - 5 lá. Dùng cuốc xới xáo nhẹ kết hợp bón thúc lần 1 và
2 22,8 33,3 13,2 87 50 1 3,0 18,4
3 24,7 36,7 18,2 90 56 8
100,
4
136
4* 22,9 37,0 18,5 88 48 6 12,5 22
22
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thuỷ văn Thừa Thiên Huế)
Chú thích: (4*) là lấy số liệu khí tượng trong 10 ngày đầu tháng 4
- Về nhiệt độ: Nhìn chung nhiệt độ tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ. Nhiệt độ
tăng dần rất thích hợp cho quá trình sinh trưởng của ngô.
Tháng 2: Nhiệt độ biến động từ 13,2 – 33,3
0
c, nhiệt độ trung bình là 22,8
0
c. Vào
đầu tháng nhiệt độ thấp, sau đó tăng nhanh rất ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm
của ngô.
Tháng 3: Nhiệt độ biến động từ 18,2 -36,7
0
c, nhiệt độ trung bình là 24,7
0
c. Nhiệt
độ tháng 3 tăng dần so với tháng 2 do tháng này có nhiều đợt nắng nóng xẩy ra,
nên cũng thuận lợi cho ngô phát triển.
Tháng 4: mới trong 10 ngày nhiệt độ cũng tăng rất nhanh 18,5 – 37
0
c, trung bình
là 22,9
0
Sự sinh trưởng của ngô có thể chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn sinh
trưởng sinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực. Giai đoạn sinh trưởng sinh
dưỡng được bắt đầu từ khi ngô cây mọc cho đến khi ngô trổ cờ và râu ngô bắt
đầu phun là kết thúc giai đoạn này. Giai đoạn trưởng sinh thực bắt đầu từ sự thụ
tinh của hoa cái, tăng trọng lượng hạt và kết thúc khi hạt chín sinh lý.
Qua nghiên cứu chỉ tiêu này chúng tôi thu được kết quả ở bảng 1.
25