Tiểu luận triết học
LUẬN VĂN
Đề tài: CÁCH MẠNG KHOA HỌC -
CÔNG NGHỆ - VẤN ĐỀ CÓ TÍNH
CHẤT THỜI ĐẠI
1
Th nh ph H Chí Minh, tháng n m à ố ồ ă …
Th nh ph H Chí Minh, tháng n m à ố ồ ă …
Tiểu luận triết học
Mục lục
I. L I M UỜ ỞĐẦ 3
II. PH N N I DUNGẦ Ộ 5
1. NGUYÊN LÝ TRI T H C C A TÀIẾ Ọ Ủ ĐỀ 5
1.1. Cách m ng khoa h c - Công ngh c th c hi n trên c s lý lu n khoa ạ ọ ệđượ ự ệ ơ ở ậ
h c phát tri n không ng ng:ọ ể ừ 5
1.2. Nguyên lý phát tri n c a KHCNể ủ 5
2. CÁCH M NG KHOA H C - CÔNG NGH - V N CÓ T NH CH T TH I I.Ạ Ọ Ệ Ấ ĐỀ Í Ấ Ờ ĐẠ
8
2.1. Nguyên nhân c a cu c cách m ng Khoa h c - Công ngh :ủ ộ ạ ọ ệ 8
2.2. N i dung ch y u c a cu c cách m ng khoa h c công nghộ ủ ế ủ ộ ạ ọ ệ 10
2.3. Quan i m c a ng c ng s n Vi t Nam v khoa h c v công ngh .để ủ Đả ộ ả ệ ề ọ à ệ 13
2.5. Quá trình i m i chính sách KHCN n c ta:đổ ớ ở ướ 18
2.6. D báo phát tri n KHCN u th k XXI.ự ể đầ ế ỷ 20
III. PH N K T LU NẦ Ế Ậ 22
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 23
2
Tiểu luận triết học
I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp CNH - HĐH hiện nay KHCN đang chiếm một vị trí đặc
biệt quan trọng. Bởi vì nước ta tiến lên CNXH từ một nền kinh tế phổ biến là sản
một yếu tố có ý nghĩa quyết định chống lại "nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so
với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới". Sự nghiệp XDCNXH ở nước ta
3
Tiểu luận triết học
chỉ thực sự thành công chừng nào thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH
đất nước. KHCN nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng
lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường, XD năng lực công nghệ quốc gia.
Do đó việc nghiên cứu, tìm tòi phát triển KHCN là một vấn đề rất quan trọng.
Đề tài của em được chia làm ba phần:
I. Lời mở đầu
II. Phần nội dung
III. Phần kết luận
Do phạm vi đề tài rộng mà tầm hiểu biết của em còn hạn chế nên không
tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự đóng góp chân thành của thầy
giáo và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn !
4
Tiểu luận triết học
II. PHẦN NỘI DUNG
1. NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cách mạng khoa học - Công nghệ được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa
học phát triển không ngừng:
Đó là điểm khác biệt quan trọng nhất của cuộc cách mạng Khoa học - Kỹ
thuật lần này (Cách mạng Khoa học - công nghệ mới đối với chủ nghĩa tư bản
hiện đại) với các lần trước. Nhìn lại lịch sử phát triển của Khoa học - Kỹ thuật có
thể thấy rằng, tuy hai cuộc cách mạng trước cũng dựa trên sự đột phá về mặt lý
luận của Khoa học tự nhiên, lấy đó để dẫn đường, như nhiệt lực học và lực học
của NiuTơn xuất hiện trước cuộc cách mạng Khoa học - Kỹ thuật lần thứ nhất và
điện học xuất hiện trước cuộc cách mạng KHKT lần hai, nhưng khoảng cách
giữa sự đột phá lý luận và sáng tạo kỹ thuật cũng như ứng dụng kỹ thuật vào
thực tế là rất dài, mối quan hệ giữa những yếu tố đó không trực tiếp lắm, rất
dựa trên công nghệ riêng của mình. Tuy nhiên, một nguyên lý mang tính
phương pháp luận chung cũng như sự phân tích so sánh quốc tế có thể cung cấp
thông tin có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà lập kế hoạch
trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân.
Việc xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ phải bằng sự lựa
chọn chứ không phải là ngẫu nhiên. Điều đó có thể đạt được bằng sự thuyết
phục, tính quyết định, sự quyết tâm và hơn hết phải là ý trí chính trị mãnh liệt - ý
trí kiến tạo tương lai của một quốc gia sử dụng công nghệ như một công cụ để
phát triển.
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng hiện nay, công nghệ
là một biến số chiến lựơc sống còn cho sự phát triển nhanh chóng kinh tế - xã
hội. Nếu có một kế hoạch sử dụng công nghệ thích hợp, nó có thể là một chiếc
chìa khoá cho một xã hội phồn vinh, cho toàn thể nhân loại. Do đó, công nghệ là
hi vọng lớn nhất để nâng mức sống của một số lớn những người nghèo trên thế
giới. Mặc dù những vấn đề mà các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình
Dương phải đối phó là ít trầm trọng hơn so với những khu vực khác, nhưng
chúng vẫn đủ nghiêm trọng để gây ra những căng thẳng xã hội đáng kể. Vì vậy,
cần thiết phải có một hành động khẩn cấp để tìm cách giải quyết những vấn đề
căng thẳng như: Tăng dân số, thất nghiệp tăng, giảm mức sống, suy kiệt tài
nguyên và huỷ hoại môi trường. Mục tiêu là phát triển kinh tế xã hội bền vững
thông qua việc áp dụng khôn ngoan công nghệ sao cho các thế hệ hiện tại và
tương lai sẽ được hưởng một cuộc sống tốt đẹp.
6
Tiểu luận triết học
SƠ ĐỒ LẬP KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ
Cấp công ty
Giá trị
kinh tế
gia tăng
Cấp ngành
Hàm lượng
xuất khẩu
Hàm lượng
nhập khẩu
Các thành phẩm
của công nghệ
Cấp bậc tinh xảo
ĐÁNH GIÁ
HÀM LƯỢNG
CÔNG NGHỆ
So sánh
Hệ thống
đóng góp
của công
nghệ
T. hợp các
đóng góp
của công
nghệ
Mức độ
đổi mới
Các chuỗi
phát triển
công nghệ
Các tác
nhân thúc
đẩy công
nghệ
Các mặt của
CS hạ tầng
CÔNG NGHỆ
7
Tiểu luận triết học
2. CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - VẤN ĐỀ CÓ TÍNH CHẤT THỜI ĐẠI.
2.1. Nguyên nhân của cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ:
2.1.1. Tác dụng và ảnh hưởng của chiến tranh thế giới:
Chiến tranh thế giới thứ hai là một tai hoạ to lớn chưa từng có trong lịch
sử loài người, nhưng lại có tác dụng thúc đẩy nhất định đối với sự phát triển của
KHKT. Để dành thắng lợi trong chiến tranh các nước đế quốc đã dốc sức và
nghiên cứu KHKT quân sự. Các bên tham chiến cạnh tranh kịch liệt trong việc
phát minh và sử dụng các vũ khí và trang bị mới như: Ra đa, tên lửa, máy bay
phản lực, bom nguyên tử Trong chiến tranh Đức là nước đầu tiên dùng tên lửa
mang đầu đạn có điều khiển, còn Mỹ là nước đầu tiên sử dụng bom nguyên tử.
Việc phát minh và sử dụng vũ khí, trang thiết bị mới không quyết định thắng bại
cuối cùng, song quả thực nó ảnh hưởng quan trọng đối với cuộc chiến. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, rất nhiều bộ môn KHKT quân sự được ứng dụng vào
ngành công nghiệp dân dụng, điều đó không những mở ra rất nhiều ngành công
nghiệp mới, mà còn nâng cao nhanh chóng năng suất lao động của toàn bộ nền
kinh tế quốcdân. Chỉ riêng điểm này có thể thấy rằng những thành tựu KHKT
giành được sau chiến tranh, là do loài người đã phải trả cái giá rất đắt mới có
được.
2.1.2. Sự thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang giữa các siêu cường quốc
Sau chiến tranh, do thế giới hình thành cơ cấu hai cực Mỹ và Liên Xô, sự
đối lập và đối kháng Đông - Tây rất nghiêm trọng, khiến các quốc gia này chiến
tranh ác liệt trong cuộc chạy đua vũ trang. Chi phí cho chạy đua vũ trang hàng
năm của họ chiếm khoảng trên dưới 10% giá trị tổng sản phẩm quốc dân, thậm
chí còn hơn nữa trong lịch sử loài người, chưa bao giờ có cuộc chạy đua vũ trang
ác liệt như vậy trong thời bình. Chỉ riêng nước Mỹ, để chiếm ưu thế trong chạy
đua vũ trang, đã đề ra kế hoạch "Chiến tranh giữa các vì sao" nếu thực hiện tất cả
họ sẽ phải chi khoảng 1000 tỷ đô la. Với sự thúc đẩy của hai siêu cường Mỹ và
nó càng mạnh mẽ.
Ngoài phương diện kinh phí nghiên cứu KHKT, chính phủ các nước tư
bản ngày nay còn có tác dụng rất to lớn trong việc bồi dưỡng nhân tài để phát
triển nghiên cứu khoa học. Một vấn đề then chốt của tiến bộ KHCN hiện nay là
phải có một loại nhân tài KHKT phù hợp và có chất lượng cao, ngay cả những cá
nhân bình thường cũng cần nâng cao trình độ KHKT mới có thể đáp ứng được
yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
Tác dụng thúc đẩy tiến bộ KHCN của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà
nước còn thể hiện ở chỗ nó làm cho sự hợp tác quốc tế về KHKT ngày càng mở
rộng.
9
Tiểu luận triết học
2.1.4. Cạnh tranh độc quyền ác liệt vẫn là một nhân tố quan trọng thúc
đẩy tiến bộ KHKT.
Bước vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước, độc quyền
càng không thể tiêu diệt được cạnh tranh, quy mô của cạnh tranh mở rộng, mức
độ cạnh tranh ác liệt. Cạnh tranh càng ác liệt, càng buộc các nhà tư bản độc
quyền không ngừng nghiên cứu kỹ thuật công nghệ mới, sử dụng công nghệ mới
để làm ra các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh
tranh. Do đó, cạnh tranh vẫn như trước đây, là một sức mạnh bên ngoài thúc đẩy
tiến bộ KHCN.
Các xí nghiệp tư bản độc quyền ở các nước tư bản ngày nay không tiếc
của, bỏ ra những lượng tiền khổng lồ để xây dựng bộ máy nghiên cứu khoa học
riêng, hoặc uỷ thác cho các cơ quan học thuật nghiên cứu kỹ KHKT, rõ ràng
không phải là xếp vào ngăn kéo. các xí nghiệp Mỹ bỏ ra những khoản kinh phí
cho nghiên cứu khoa học trong những năm 80 lớn gấp 22 lần so với những năm
50, còn các xí nghiệp ở Cộng hoà Liên bang Đức, kinh phí đó trong cùng một
thời gian này tăng lên tới 83 lần, điều đó nói lên một cách đầy đủ rằng, cuộc
cạnh tranh giữa các xí nghiệp độc quyền đã ngày càng cuộc cạnh tranh trong lĩnh
vực KHCN.
hiện đại.
Sự phát triển của công nghệ thông tin được đo bằng chỉ tiêu: Tỷ số giá cả/
Hiệu suất. Ở các OECD, người ta ước tính đã thu được 20% lợi nhuận từ công
nghệ thông tin. Trong 10 năm tới, giá cả của công nghệ thông tin sẽ giảm nhanh
và hiệu quả của thông tin sẽ càng lớn hơn. Tại Mỹ, nước chiếm 20% thị trường
sản phẩm công nghệ thông tin thế giới đang bùng nổ cuộc cách mạng thông tin.
Một số công ty lớn đang thử nghiệm việc xây dựng "Hệ thống thông tin cao
cấp". Đây là hệ thống liên kết giữa máy điện thoại + Máy thu hình + Máy vi tính
cho phép truyền thông 2 chiều và đa chiều, làm cho việc truyền tin và lưu tin
được nhanh chóng, tự do hơn. Cuộc cách mạng về thông tin đang làm cho nhiều
ngành công nghiệp phát triển vượt bậc, trong đó đặc biệt là ngành vật liệu mới.
2.2.3. Công nghệ vật liệu mới.
Công nghệ vật liệu mới là công nghệ thông qua phương pháp khoa học để
chế tạo ra các vật liệu thay thế cho vật liệu thiên nhiên. Sự xuất hiện của các lọai
vật liệu mới không những giảm bớt sự phụ thuộc của con người vào tài nguyên
thiên nhiên, mà còn làm cho sự nghiên cứu chế tạo và phát triển các loại sản
phẩm có trình độ KHKT cao trở thành hiện thực. Trong các loại kỹ thuật vật liệu
mới, hiện nay những thứ phát triển nhanh nhất và có triển vọng nhất là vật liệu
11
Tiểu luận triết học
cho thông tin, vật liệu tổng hợp và nguyên liệu năng lượng mới Trong những
kỹ thuật vật liệu mới, đáng chú ý nhất là vật liệu năng lượng mới là cơ sở quan
trọng để phát triển kỹ thuật năng lượng mới.
Trong thời gian tới, nhu cầu của vật liệu mới sẽ tăng nhanh hơn nhiều so
với các vật liệu truyền thống. Trong thời kỳ 1986 - 2000 các vật liệu siêu dẫn sẽ
tăng 32%, Gali tăng 10,1% gồm cấu trúc định sẵn tăng 30% trong khi bạc chỉ
tẳng 0,8%, thiếc 1,2%. nhu cầu vật liệu mới của Mỹ sẽ tăng từ 243 tỷ đô la
(1970) lên 379 tỷ đô la (2000). Nhật Bản do phụ thuộc nặng vào nguồn nguyên
liệu từ bên ngoài, từ lâu đã tích cực phát triển công nghệ vật liệu mới. Thị trường
vật liệu của Nhật Bản dự tính tăng từ 2,2 tỷ đô la (1981) lên 24 tỷ đô la (2000).
Tổ quốc. Các quan điểm của Đảng về KHCN được thể hiện cụ thể và phát triển
qua mỗi thời kỳ, nhằm giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng, đồng
thời XD tiềm lực khoa học cho những bước phát triển kế tiếp của đất nước. Cho
đến nay, hệ quan điểm đó đã phát triển qua 5 thời kỳ.
2.3.1. Thời kỳ 1945 - 1954:
Ngay sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước VNDCCH đã phải
đương đầu với vô vàn những khó khăn nghiêm trọng: Kinh tế kiệt quệ, văn hoá
GD hết sức lạc hậu, thù trong giặc ngoài âm mưu bóp chết nền cộng hoà non trẻ
và xâm chiếm nước ta một lần nữa. Trong tình thế hiểm nghèo ấy ĐCSVN đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân vận động một phong trào toàn dân
chống nạn thất học, coi "Chống giặc dốt" là một trong 3 nhiệm vụ lớn của cách
mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
Nhận rõ vai trò của kiến thức trong việc bảo vệ độc lập dân tộc và kiến
quốc, ĐCSVN đã tỏ ra quan điểm quý trọng và xác định đúng đắn vị trí trí thức
trong XH mới, trong nước Việt Nam mới "Trí thức là vốn quý của một dân tộc,
không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và
sự nghiệp XD một nước Việt Nam mới không hoàn thành được".Do đó Chính
phủ đã tuyển chọn và gửi đi đào tạo một lực lượng khá đông cán bộ khoa học.
Năm 1954, hoà bình lập lại ở miền Bắc, lớp cán bộ khoa học đầu tiên lần lượt trở
về và cùng với lớp trí thức tham gia kháng chiến phục vụ công cuộc khôi phục
và XD đất nước.
2.3.2. Thời kỳ 1954 - 1964.
Hoà bình lập lại năm 1954, đất nước tạm chia làm 2 miền. Miền Bắc bước
vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế và bắt đầu thực hiện kế hoạch 5
13
Tiểu luận triết học
năm lần thứ nhất. Lần đầu tiên trong văn kiện của ĐCSVN khẳng định vai trò
của KHCN trong sự nghiệp XD đất nước "Khoa học và kỹ thuật là một điều kiện
không thể thiếu được trong công cuộc XDCNXH". Tháng 9-1960 Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng quyết định "Đưa miền Bắc tiến lên CNXH
14
Tiểu luận triết học
kém, thì càng phải chú trọng đầu tư cho các hoạt động khoa học và kỹ thuật, cho
công tác đào tạo cán bộ khoa học và công nhân kỹ thuật - Chính đó là con đường
góp phần nhanh chóng nâng cao năng suất lao động XH và giải quyết triệt để
những khó khăn trong sản xuất và trong nền kinh tế hiện nay".
Tháng 3/1982 Đại hội lần thứ V của Đảng đã nêu rõ phương hướng nhiệm
vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế và XH năm 1981 - 1985, trong đó nhấn
mạnh: "Trước hết khoa học và kỹ thuật phải phục vụ tốt nhất cho việc đưa nông
nghiệp một bứơc lên sản xuất lớn XHCN trong cơ cấu công - nông nghiệp hợp
lý". Đối với nhiệm vụ lâu dài của khoa học và công nghệ Nghị quyết Đại hội lần
thứ V của Đảng đã chỉ ra: "XD từng bứơc nền khoa học và kỹ thuật tiên tiến của
nước CHXHCNVN có cơ cấu phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá và
XH, có khả năng giải quyết những yêu cầu trước mắt và những mục tiêu lâu dài
của nền sản xuất, đời sống và quốc phòng, đón trước và mở ra cho nền kinh tế
và XH những phương hướng phát triển mới, chú trọng phát triển những ngành
khoa học và kỹ thuật gắn liền với thế mạnh về tài nguyên, điều kiện nhiệt đới và
con người Việt Nam.
2.3.5. Thời kỳ 1986 đến nay.
Sau hơn 10 năm thông nhất đất nước nền kinh tế XH gặp nhiều khó khăn
do cơ chế quản lý tập trung bao cấp. Đại hội lần thứ VI của ĐCSVN tháng
12/1986 đã mở ra một bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của nước ta, đề ra
đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới trong lĩnh vực kinh tế với nội dung chủ
yếu là chuyển nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang sản xuất hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước,
theo định hướng XHCH. Đại hội khẳng định khoa học và công nghệ là động lực
thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và chỉ rõ phương hướng hành
động "Nhằm trước hết phục vụ cho 3 chương trình mục tiêu": Lương thực - thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Tháng 6/1991 Đại hội ĐCSVN lần thứ VII khẳng định quan điểm: "Khoa
phát triển KT - XH càng nhanh hơn, tốt hơn. Lấy việc phát minh và ứng dụng
máy hơi nước làm ví dụ: Năm 1705, người ta đã phát minh ra máy hơi nước cớ
lớn, năm 1925 Stivenson mới phát minh ra xe lửa chạy bằng máy hơi nước. Từ
khi phát minh ra máy hơi nước đến khi nó được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất
và vận tải, phải tới hơn 100 năm. Việc phát minh ra động cơ đốt trong, quá trình
rút ngắn còn lại 80 năm. Còn việc tìm ra và ứng dụng năng lượng nguyên tử chỉ
cần đến 40 năm. Lại lấy ví dụ như máy điện thoại từ khi phát minh ra đến khi sử
dụng rộng rãi phải mất 60 năm, còn vô tuyến truyền hình phức tạp hơn rất
nhiều, nhưng quá trình đó chỉ có 14 năm. Máy tính điện tử chỉ trong vòng thời
gian ngắn (14 năm) đã trải qua 4 thế hệ. Có thể thấy rõ là, từ KHKT chuyển
thành sức sản xuất, đúng như một số nhà khoa học đã kết luận, có xu hướng phát
triển "Tăng tốc".
16
Tiểu luận triết học
2.4.3. Cách mạng KHCN trở thành nguyên tố trực tiếp quyết định sự
phát triển của lực lượng sản xuất XH của các nước tư bản sau chiến tranh.
Nó được uỷ nhiệm chủ yếu trên các mặt sau đây:
Các ngành công nghiệp mới dựa trên cơ sở KHKT công nghệ hiện đại ra
đời và phát triển rất nhanh, trở thành những ngành tiên phong, chủ đạo của sự
phát triển KT - XH.
Nhờ KHCN hiện đại, các ngành công nghiệp truyền thống phần lớn là các
ngành công nghiệp cơ sở, không thể thiếu đối với tái sản xuất XH, đã được cải
tạo không ngừng, năng suất lao động tăng liên tục.
Cơ cấu ngành thay đổi, chuyển dịch nâng cấp lên trình độ mới phù hợp với
nền sản xuất hiện đại, kỹ thuật cao, hàm lượng trí tuệ lớn.
Phân công lao động phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Chuyên môn
hoá chi tiết trong từng ngành, phân công chuyên môn hoá chi tiết giữa các
ngành, phân công liên kết chuyên môn hoá giữa các nước, trong một số ngành đã
xuất hiện dây chuyền sản xuất quốc tế.
Tái sản xuất mở rộng ngày càng phát triển theo chiều sâu lấy đầu tư
Một quá trình hoàn thiện lý luận hướng tới chân lý khách quan: KHCN là động
lực phát triển KT - XH đất nước.
2.5.1. Các giai đoạn cải cách chính sách KHCN trong tiến trình cải
cách KT - XH.
Căn cứ bản chất nội dung từng chặng đường phát triển của chính sách
KHCN trong tương lai, chúng ta có thể phân chia quá trình cải cách trong chính
sách KH và CN ở nước ta theo 3 giai đoạn với những nội dung khá đặc trưng.
2.5.1.1. Giai đoạn I (1975 - 1980): Cải cách trong khuôn khổ Nhà nước
tổ chức mọi hoạt động KH và CN với một hệ thống chỉ huy tập trung.
Nội dung cải cách trong giai đoạn này ở nước ta cũng như hàng loạt nước
XHCN là nhằm vào việc hoàn thiện hệ thống kế hoạch hoá, hình thành phương
thức kế hoạch hoá theo chương trình các mục tiêu sao cho Nhà nước có khả năng
tập trung các nguồn lực thực hiện được các mục tiêu KH đã đề ra.
Tuy nhiên, các biện pháp cải cách trong giai đoạn này không đạt được
những kết quả mong muốn do gặp phải những hạn chế không trực tiếp bắt
nguồn từ bản thân các biện pháp, chính sách KH và CN.
2.5.1.2. Giai đoạn II (1981 - 1986): Phi tập trung hoá hệ thống chỉ huy
nhưng vẫn trong khuôn khổ Nhà nước tổ chức các hoạt động KH và CN.
Quyết định này đã tạo điều kiện cho cơ quan KH và CN được mở rộng
quan hệ hợp tác với nhau và với sản xuất thông qua các hợp đồng nghiên cứu,
18
Tiểu luận triết học
triển khai, dịch vụ KH và KT, dẫn đến việc đa dạng hoá các hoạt động của cơ
quan KH và CN; Và do vậy, đa dạng hoá các nguồn kinh phí đi vào các cơ quan
này, cũng từ đây làm xuất hiện nhu cầu tự chủ tài chính đối với các cơ quan KH
và CN.
2.5.1.3. Giai đoạn III (1987 - nay): Thừa nhận các sáng kiến cá nhân và
sự tồn tại những tổ chức và hoạt động KH và CN trong các thành phần kinh
tế và các tổ chức XH không thuộc Nhà nước.
Nghị định 35 - HĐBT ban hành năm 1992 đã ghi một mốc hết sức quan
những thử tách trước nhu cầu tồn tại và đang trải qua những diễn biến của trình
tự sắp xếp mạng lưới nghiên cứu và triển khai trong quá trình chuyển đổi cơ chế
quản lý KT ở Việt Nam.
2.5.2.1.3. Các Viện Quốc gia
Khuynh hướng tổ chức các Viện Quốc gia theo mô hình Viện Hàn lâm
Liên Xô (cũ) đã từng tồn tại trong 1 thời gian dài ở nước ta. Hiện nay khuynh
hướng này hầu như không còn nữa. Nhà nước đã có quyết định thành lập một số
Trung tâm KH Quốc gia để nghiên cứu những vấn đề phục vụ các nhiệm vụ ưu
tiên của nhà nước, hoặc những vấn đề tuy không phục vụ nhiệm vụ ưu tiên của
Nhà nước, nhưng được Nhà nước dành cho sự quan tâm ưu tiên.
2.5.2.2. Cải cách chính sách và thể chế.
Các vấn đề đang thu hút sự quan tâm đáng kể là.
2.5.2.2.1. Sửa đổi chế độ tuyển dụng nhân công kỹ thuật.
2.5.2.2.2. Đổi mới chính sách tiền lương của nhân lực KH và KT.
2.5.2.3. Quản lý Nhà nước về KH.
2.6. Dự báo phát triển KHCN đầu thế kỷ XXI.
Trong thế kỷ XXI sự phát triển tiếp diễn như vũ bão của cuộc cách mạng
KHCN hiện đại, dựa trên cơ sở các cuộc cách mạng lớn trong các lĩnh vực: Vật
lý điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,
công nghệ năng lượng mới, công nghệ chế tạo cấp siêu vi mô đang mở đường
cho nhân loại tiến vào kỷ nguyên lớn về KH và CN như sau:
20
Tiểu luận triết học
2.6.1. Kỷ nguyên thông tin (bắt đầu vào khoảng năm 2010 - 2015) - Tiếp
theo 2 kỷ nguyên - Kỷ nguyên nông nghiệp (hơn 17 thế kỷ) và kỷ nguyên công
nghiệp ( khoảng 3 thế kỷ) - Với nền kinh tế tri thức là cốt.
2.6.2. Kỷ nguyên sinh học - Với cuộc cách mạng sinh học là then chốt,
kể từ sau khi phát hiện ra mã ADN vào nửa sau thế kỷ XX.
2.6.3. Kỷ nguyên vật liệu mới - Với sự phát hiện ra các vật liêụ siêu dẫn
ở nhiệt độ thấp và nhiệt độ cao cùng các vật liệu đặc biệt khác.
Tiểu luận triết học
các nước tư bản phát triển đưa tới. Mặc dù các nước đã vận dụng những phát
minh sáng chê của nước ngoài rồi biến thành bí quyết công nghệ của riêng mình
đã mở ra nhiều khả năng vận dụng cho các nước đi sau. Song, trong điều kiện
của CNTB, số nước vận dụng được cơ may như trên khó có thể trở thành phổ
biến. Khoảng cách giàu - nghèo, tiên tiến và lạc hậu trên thế giới vẫn là vấn đề
nan giải của CNTB ngày nay.
III. PHẦN KẾT LUẬN
Tóm lại ! KHCN có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nhân
loại nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong sự nghiệp CNH - HĐH hiện nay,
KHCN càng thể hiện rõ vai trò của nó đối với Việt Nam như: Cấu trúc lại nền
kinh tế, thay đổi và chuyển hướng các cơ sở hạ tầng của sản xuất, tăng cường các
xu thế toàn cầu hoá nhiều lĩnh vực hoạt động quan trọng của đất nước. Việt Nam
chúng ta còn nghèo KHKT còn lạc hậu, thô sơ nên cần áp dụng các thành tựu
KHCN mà nhân loại tạo ra. Ngoài ra, chúng ta còn phải không ngừng nghiên
cứu, sáng tạo, tìm tòi để cho ra những phát minh khoa học của riêng mình.
Nhà nước ta cần có những chính sách ưu tiên, khuyến khích để phát triển
KHCN: Đào tạo những cán bộ có chuyên môn cao về KHKT, ưu đãi những nhà
khoa học có tài tạo điều kiện cho họ có khả năng phát triển hết khả năng của
mình, nâng cao cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học, tăng cường hợp tác với
các Viện nghiên cứu trên thế giới.
Với thế hệ sinh viên trẻ - Lực lượng nòng cốt của sự nghiệp CNH - HĐH
ngày nay, mỗi chúng ta cần phải tự mình trau dồi thêm kiến thức về KHCN nói
riêng và về mọi mặt nói chung không chỉ trong trường học mà còn cả trong thực
tiễn cuộc sống để có thể đưa nước ta vững bước đi lên con đường XHCN đúng
như mong muốn của Bác Hồ vĩ đại "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay
không chính nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu".
22
Tiểu luận triết học
TÀI LIỆU THAM KHẢO