1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành phố của khu vực đồng bằng sông Cửu Long,
thuộc khu vực tam giác châu hệ thống sông Tiền, hợp thành bởi 3 cù lao (Cù lao An
Hoá, cù lao Bảo và cù lao Minh) trên 4 nhánh sông lớn (Sông Tiền, sông Hàm Luông,
sông Ba Lai và sông Cổ Chiên). Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.356,85km
2
, chiếm
5,84% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long với đường bờ biển kéo dài trên 65km
và gần 20.000km
2
vùng biển đặc quyền, trữ lượng thủy sản khu vực ven bờ ước từ
19.000 tấn đến 24.000 tấn, trữ lượng thủy sản xa bờ (khu vực biển Đông Nam bộ) từ 1
triệu đến 1,2 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác từ 540.000 đến 630.000 tấn/năm
[20]. Vì vậy, trong nhữ ng năm qua Tỉnh ủy Bến Tre đã xác định kinh tế thủy sản
là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Trong đó, nguồn khai thác từ
biển đóng vai trò quan trọng.
Trong 5 năm qua nghề khai thác thủy sản có bước chuyển biến rõ rệt, cơ cấu ngành
nghề dịch chuyển theo hướng xa bờ, số lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ tăng nhanh
đáng kể. Hoạt động khai thác thủy sản đã góp phần cho ngành kinh tế thủy sản tỉnh
nhà phát triển khá mạnh, trong giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất
thủy sản đạt trên 10%/năm, chiếm 42% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp. Kinh
tế thủy sản đã vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh nhà [20].
Theo thống kê đến 31 tháng 12 năm 2008, tỉnh Bến Tre có 4.422 tàu đã đăng ký và
có hồ sơ tại Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Trong đó, tàu có công suất máy từ
90CV trở lên là 1.226 chiếc; với sản lượng khai thác đạt 175.000 tấn/năm.
Tuy nhiên hiện nay, việc tổ chức khai thác thuỷ sản tỉnh Bến Tre nói riêng cũng
như của nhiều tỉnh ven biển khác trên cả nước còn chưa hợp lý, chưa có nhiều phương
án mở rộng các ngư trường để vừa nhằm cải thiện kết quả sản xuất vừa giảm mâu
thuẫn giữa các nghề nghiệp khai thác cũng như giảm mức độ rủi ro vốn khá cao đối
trữ lượng khai thác có xu hướng giảm, lãi suất tăng cao, thì kết quả kinh tế khi phát
triển đánh bắt xa bờ sẽ như thế nào?
Mặt khác, các đội tàu đánh bắt xa bờ tập trung ở các bến cá thuộc hai huyện Bình
Đại và Ba Tri. Ngư trường đánh bắt không cố định, các cảng cá của Bến Tre chưa thật
sự mạnh để thu hút tàu thuyền cập cảng để tiêu thụ sản phẩm, do đó việc tiêu thụ sản
phẩm khai thác được ở các địa phương khác nằm ngoài khu vực quản lý hành chính
tỉnh là phổ biến, chính vì thế việc thu thập dữ liệu phục vụ cho việc xác định các kết
quả kinh tế cho việc quản lý gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng nhanh
số lượng và công suất tàu thuyền khai thác đánh bắt xa bờ ảnh hưởng đáng kể đến các
3
chỉ số kinh tế của ngành khai thác. Do vậy, việc cung cấp một cách hệ thống các chỉ
tiêu kinh tế của một nghề khai thác hải sản thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và thực
tiễn trong công tác quản lý nghề cá.
Đứng trước những thách thức đó, là một cán bộ trẻ đang công tại Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tôi muốn đem khả năng và kiến thức đã học được từ nhà
trường cũng như kinh nghiệm thực tiễn để góp phần hoàn thiện công tác quản lý nghề
cá, đề tài được chọn cho luận văn tốt nghiệp là: “Đánh giá kết quả kinh tế của đội
tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Điều tra đánh giá kết quả kinh tế của đội tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre và đề
xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao kết quả kinh tế đội tàu này.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá kết quả kinh tế của ngành khai thác
hải sản mà cụ thể là loại hình đánh bắt xa bờ, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải
pháp về mặt chính sách phù hợp cho mục tiêu phát triển ngành một cách bền vững.
Nghiên cứu sẽ tập trung đánh giá kết quả kinh tế của hoạt động đánh bắt xa bờ tỉnh
Bến Tre dựa trên việc khảo sát điều tra các thành phần liên quan đến chi phí sản xuất
và doanh thu của sản phẩm khai thác và qua đó xác định các nhân tố chính có ảnh
hưởng đến kết quả kinh tế đội tàu đánh bắt xa bờ của tỉnh. Trên cơ sở này, nghiên cứu
sẽ đề xuất các gợi ý chính sách để có thể khuyến khích gia tăng kết quả kinh tế của
1. Hiện trạng về đầu tư và kết quả kinh tế của đội tàu đánh bắ
t
xa bờ tại tỉnh Bến Tre.
2. Sự tác động của các nhân tố đến doanh thu nghề đánh bắt xa
bờ tỉnh Bến Tre.
Cơ sở lý thuyết
1. Lý thuyết về kết quả kinh tế hoạt động đánh bắt hải sản.
2. Mô hình kinh tế lượng về sự tác động của các nhân tố đế
n
doanh thu khai thác.
Thiết kế nghiên cứu
1. Nguồn số liệu.
2. Phương pháp thu thập thông tin.
Phương pháp xử lý số liệu
1. Phương pháp thống kê mô tả.
2. Phương pháp phân tích hồi quy đa biến (OLS).
Báo cáo kết quả - khuyến nghị
1. Đánh giá kết quả kinh tế loại hình đánh bắt xa bờ tại tỉnh
Bến Tre
2. Kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu
khai thác.
3. Kết luận và Khuyến nghị.
6
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
4.1.1. Nguồn số liệu
Số liệu thứ cấp: Thu thập và cập nhật từ Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến
Tre, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, các trang Web Trung tâm
sản tỉnh Bến Tre (trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bến Tre), thu thập dữ liệu
về số lượng tàu đang hoạt đánh bắt xa bờ tại tỉnh Bến Tre.
- Tiến hành phân loại danh sách, địa chỉ hộ gia đình có tàu khai thác hoạt động
đánh bắt xa bờ.
- Chọn địa bàn tiến hành điều tra: Căn cứ vào số lượng tàu đánh bắt xa bờ phân bố
theo từng huyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tác giả nhận thấy mặc dù trong tỉnh có rải
rác các bến cá truyền thống ở khắp 3 huyện biển, nhưng các đội tàu khai thác đánh bắt
xa bờ chủ yếu tập trung ở 3 xã: An Thủy (huyện Ba Tri); Tân Thủy (huyện Ba Tri) và
Bình Thắng (huyện Bình Đại). Vì vậy, việc điều tra được thực hiện chủ yếu trên địa
bàn 3 xã nêu trên.
Phương pháp chọn mẫu
Dùng mẫu thuận tiện, dựa trên thông tin thu thập từ 3 địa điểm: xã An Thủy, Tân
Thủy của huyện Ba Tri, xã Bình Thắng của huyện Bình Đại. Mẫu được điều tra một
cách thuận tiện ở những hộ gia đình chủ tàu có địa chỉ biết trước (từ danh sách tàu
thuyền đã đăng ký và có lưu hồ sơ tại Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre), dễ
tìm và sẵn lòng cung cấp thông tin, không quan tâm hoàn cảnh gia đình, thu nhập, kết
quả khai thác của ngư dân.
Tuy nhiên, việc điều tra vẫn chú ý đến sự phân bố địa bàn ngư dân theo những khu
vực khác nhau: khu vực Cảng cá Bình Thắng thuộc xã Bình Thắng huyện Bình Đại,
khu vực Cảng Ba Tri (Tiệm Tôm) thuộc xã An Thủy, khu vực Bãi Ngao thuộc xã An
Thủy, khu vực Đường Tắt thuộc xã Tân Thủy của huyện Ba Tri. Do vậy, mẫu điều tra
xét đến sự phân bố của tổng thể.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng những câu hỏi mở để
thu thập thông tin từ ngư dân.
Xác định kích thước mẫu
Tác giả lựa chọn kích thước mẫu là 123 hộ ngư dân tương ứng 11,20% tổng thể
dùng cho cả phân tích hồi quy và đánh giá thực trạng kết quả kinh tế đánh bắt xa bờ.
Cụ thể số lượng mẫu cho từng nghề đánh bắt như sau: cào đơn (44 mẫu/704), cào đôi
(37 mẫu/302) và lưới vây ánh sáng (42 mẫu/92).
8
gọi là nghề lưới kéo đôi, nghề giã đôi.
9
• Khai thác/đánh bắt hải sản: hoạt động của con người sử dụng tàu thuyền và
lưới, … và các trang thiết bị hàng hải khác để bắt các loại thuỷ sản biển.
• Ngư trường: vùng mặt nước các tàu thuyền của các ngư dân tập trung khai
thác thuỷ sản.
• Đội tàu: là tất cả các tàu thuyền cùng loại nghề nghiệp khai thác, cùng nhóm
công suất; các đội tàu cũng có thể được chia theo các đơn vị hành chính như quốc gia,
tỉnh, huyện…
• Công suất: ở đây được hiểu là công suất máy của tàu được sử dụng cho tàu
khai thác thuỷ sản, đơn vị tính là mã lực. 10
Chương 1
Trong lĩnh vực khai thác hải sản, xác định kết quả kinh tế là việc xác định những
yếu tố đầu vào nào cần cho quá trình khai thác và những kết quả đạt được trong quá
trình sử dụng các yếu tố đầu vào đó. Vận dụng những tương quan so sánh giữa các kết
quả đạt được và những yếu tố đầu vào để phân tích toàn bộ quá trình hoạt động khai
thác. Các yếu tố đầu vào cụ thể của hoạt động khai thác hải sản gồm: vốn đầu tư cho
tàu (bao gồm vỏ tàu và máy tàu), vốn đầu tư cho ngư cụ, vốn đầu tư trang thiết bị trên
tàu, nhiên liệu, các chất bảo quản sản phẩm sau khai thác (đá cây, muối), lương thực
thực phẩm phục vụ ăn uống và sinh hoạt của thủy thủ, lương của thủy thủ và vốn bằng
tiền khác (dùng để sửa chữa tàu, đóng bảo hiểm, nộp thuế nhà nước, trả lãi vay và các
chi phí khác). Kết quả đạt được chủ yếu là các sản phẩm thu hoạch được trong hoạt
động khai thác sau khi được đem đi tiêu thụ như cá, tôm, mực, cua … [17].
Tóm lại, xác định kết quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản là xác định những
chi phí bỏ ra cho những yếu tố đầu vào gồm: chi phí khấu hao của giá trị đầu tư (đầu
tư cho tàu, ngư cụ và trang thiết bị), chi phí nhiên liệu, chi phí tiền lương thủy thủ, chi
phí bảo quản, chi phí lương thực thực phẩm, chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí sửa chữa
lớn, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí lãi vay; đồng thời xác định kết quả thu
được mà chủ yếu là doanh thu của sản phẩm sau khai thác. Cuối cùng, việc xác định
lợi nhuận bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí cũng như sử dụng những chỉ tiêu này
để xác định tỷ suất sinh lợi của hoạt động khai thác hải sản mang lại cao hay thấp.
Quá trình khai thác hải sản phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào khác nhau như tiền
vốn, máy móc, trang thiết bị, lao động, dầu, dụng cụ đánh bắt. Do vậy, đánh giá kết
quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản trước tiên được xác định bằng kết quả thu được
trên một tàu. Đồng thời, để đảm bảo tính toàn diện khi đánh giá kết quả kinh tế cần xét
đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào khác nhau để tạo ra kết quả đó [17].
Kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan
bên ngoài như thời tiết, khí hậu, sự biến động của trữ lượng cá … do vậy để đánh giá
đúng và đủ cần phải tiến hành trong một thời gian đủ dài.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động khai thác hải sản
Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào xác định kết quả kinh tế
đội tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre, nên tác giả chủ yếu tập trung xây dựng các chỉ
+ Chi phí khấu hao: là khoản chi phí bù đắp sự giảm dần giá trị của tài sản cố định
do quá trình sử dụng, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của kỹ thuật … Chi phí
khấu hao là giá trị phân bổ của nguyên giá tài sản cố định qua thời gian sử dụng. Đối
13
với nghề khai thác hải sản nói chung và loại hình đánh bắt xa bờ nói riêng, chi phí
khấu hao bao gồm các khoản khấu hao: vỏ tàu, máy tàu, thiết bị cơ khí, thiết bị điện tử,
ngư cụ, thiết bị bảo quản, thiết bị khác.
+ Chi phí sửa chữa lớn: là những khoản chi phí sửa chữa phục hồi, thay thế những
bộ phận bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng tài sản cố định. Những khoản chi
phí này chủ yếu phát sinh trong khi tàu ngưng hoạt động và bao gồm: chi phí sửa chữa
vỏ tàu, sửa chữa ngư cụ, sửa chữa lớn máy tàu và trang thiết bị trên tàu.
+ Chi phí lãi vay: là khoản chi trả cho chi phí sử dụng vốn vay dài hạn. Ngư dân
thường được vay vốn đầu tư cho tài sản cố định, nên các khoản vốn vay này thường là
vay dài hạn, do vậy các khoản chi phí lãi vay được xem là chi phí cố định.
+ Thuế phải nộp nhà nước: là những khoản đóng góp ngân sách nhà nước, bao
gồm: thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp. Các khoản thuế trên
đối với hoạt động khai thác hải sản chủ yếu là thuế khoán, ngư dân thường đóng một
khoản nhất định cho dù hoạt động khai thác có thay đổi.
- Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về
mức độ hoạt động. Khoản chi phí này phát sinh trong quá trình hoạt động và bằng 0
khi tàu không tham gia khai thác. Trong khai thác hải sản loại hình đánh bắt xa bờ, chi
phí biến đổi bao gồm chi phí chuyến biển và chi phí tiền lương.
+ Chi phí chuyến biển: Trong khai thác hải sản chi phí chuyến biển thường được
tính bằng khoản chi phí bỏ ra để mua nhiên liệu, bảo quản, lương thực, các chi phí sửa
chữa nhỏ tàu…chi phí này được bù đắp bằng doanh thu trước khi chia lương cho thủy
thủ. Chi phí chuyến biển bao gồm:
Chi phí nhiên liệu: gồm chi phí dầu diesel, nhớt phục vụ cho hoạt động của máy tàu.
Chi phí bảo quản: chủ yếu chi phí mua đá, muối dùng để bảo quản sản phẩm khai
thác.
Chi phí lương thực, thực phẩm: bao gồm những chi phí phục vụ ăn uống trong quá
= Dòng tiền thu được
- Khấu hao
- Lãi vay
= Lợi nhuận khai thác
Primary Industries and Resource South Australia [34]
15
Tỷ suất lợi nhuận/Vốn chủ sở hữu-Return on equity ratio (ROE): là chỉ tiêu phổ
biến dùng để đánh giá kết quả hoạt động của người chủ doanh nghiệp, nó được tính
bằng lợi nhuận chia cho vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu ROE có ý nghĩa quan trọng đối với
người chủ doanh nghiệp trong đánh giá kết quả kinh tế là do nó đo lường kết quả của
đồng vốn do chủ sở hữu bỏ ra. Nó xem xét lợi nhuận trên mỗi đồng tiền vốn chủ sở
hữu mang đi đầu tư hay nói cách khác, đó là phần trăm lợi nhuận thu được của người
chủ trên vốn đầu tư của mình. Tóm lại, nó đo lường tiền lời của mỗi đồng tiền vốn bỏ
ra [1].
1.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1. Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt nam hiện nay, các cuộc điều tra chủ yếu xoay quanh vấn đề xác định
nguồn lợi và đa dạng sinh học biển. Giai đoạn đầu của Dự án Đánh giá nguồn lợi sinh
vật biển (ALMRV-I) được thực hiện từ năm 1996, đã xây dựng được một cơ sở dữ liệu
có giá trị về sinh học cá, hoạt động và kết quả khai thác hải sản, số liệu kinh tế đội tàu.
Tuy nhiên, về số liệu kinh tế, mới chỉ thu thập được các dữ liệu về chi phí biến đổi (chi
phí chuyến biển và chi phí tiền lương) cho đội tàu chứ chưa thu thập dữ liệu về chi phí
cố định. Do vậy, kết thúc giai đoạn đầu Dự án chưa thể đánh giá kết quả kinh tế cuối
cùng cho một đội tàu khai thác thuỷ sản.
Giai đoạn 2 của dự án ALMRV-II bắt đầu từ năm 2001, yêu cầu phải đưa ra được
các tư vấn cho các nhà quản lý của địa phương cũng như Bộ Thuỷ sản về hoạt động
của ngành khai thác hải sản, đồng thời tiến hành xây dựng hồ sơ dữ liệu nghề khai thác
hải sản cho các tỉnh ven biển. Vì vậy, cuối năm 2001, Dự án đã phối hợp với Viện
Kinh tế và Quy hoạch thủy sản thực hiện xây dựng bộ chỉ số cho việc đánh giá kết quả
kinh tế đội tàu và chương trình thu mẫu chi phí cố định để bổ sung cho cơ sở dữ liệu.
định hướng phát triển ngành thuỷ sản Bến Tre đến năm 2010. Tuy nhiên, công trình
nghiên cứu này chưa đánh giá kết quả kinh tế trong khai thác hải sản và đề cập các giải
pháp nâng cao kết quả kinh tế của các nghề khai thác ở Bến Tre [20].
1.3.2. Các nghiên cứu nước ngoài
Một trong những nghiên cứu kinh tế đầu tiên trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản là
của tác giả Huvanandana được thực hiện vào năm 1973. Ông đã nghiên cứu và so sánh
doanh thu chi phí của 2 đội tàu lưới vây rút chì (purse seine) và lưới vây nổi (encirling)
của Thái Lan và Trung Quốc khai thác cá thu ở vùng biển Ấn Độ Dương. Kết quả cho
thấy ngư cụ nghề vây nổi mang lại lợi nhuận cao hơn nghề vây rút chì [29].
Domingo và Baun đã nghiên cứu doanh thu chi phí của tàu lưới kéo và lưới vây ở
ven biển phía bắc Java, Indonesia. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận của hai tác giả
17
khác nhau. Domingo thu thập dữ liệu trong tháng 5 năm 1978, và xem như tháng 5 là
tháng có hoạt động và sản lượng khai thác trung bình trong năm, từ đó ngoại suy
doanh thu và chi phí của năm. Trong khi đó, Baun lại chủ yếu sử dụng nguồn thông tin
thứ cấp để làm cơ sở tính doanh thu chi phí cho hai đội tàu này. Bên cạnh đó cách tính
khấu hao, tính chi phí cơ hội khác nhau dẫn đến kết quả phân tích khác nhau. Theo
Baun, lợi nhuận ở cả hai đội tàu lưới vây và lưới kéo thấp hơn nhiều so với kết quả của
Domingo. Nhưng cả hai tác giả đều kết luận rằng lợi nhuận mà nghề lưới vây mang lại
cao hơn so với nghề lưới kéo. Đồng thời nghiên cứu này đã chỉ ra những khác biệt
trong việc xác định lợi nhuận khai thác giữa các nghề khác nhau. Sự khác biệt này do
nguyên nhân của việc tính toán khác nhau về chi phí cố định cũng như phương pháp
ăn chia giữa chủ tàu và thủy thủ [25].
Kumpa đã phân tích cấu trúc chi phí và khả năng sinh lợi của các đội tàu khai thác
quy mô nhỏ ở thành phố Chumphon. Tác giả thấy rằng các loại ngư cụ tầng nổi như
lưới vây, lưới rê thường đem lại kết quả cao hơn so với các loại ngư cụ tầng đáy như
lưới kéo [30].
Ola Flaaten, Knut Heen, và Kjell G. Salvanes đã so sánh sự khác biệt lợi nhuận của
đội tàu khai thác lưới vây sử dụng giấy phép miễn phí và đội tàu khai thác lưới vây
mua giấy phép theo giá thị trường tại Nauy. Các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi
cũng như phương thức xâm nhập thị trường thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Trường hợp một số tàu đã qua nhiều năm sử dụng tuy trước đây hoạt động kết quả
nhưng giờ đây chịu thua lỗ chủ yếu là vì vẫn tiếp tục đánh bắt trên nguồn lợi vốn đã bị
khai thác quá mức [17].
Theo báo cáo của Bộ Thủy Sản Eritrea cho thấy sản lượng khai thác bền vững
trong năm 2000 là 70.000 tấn, nhưng thực tế khai thác chỉ đạt 13.000 tấn, Michael
Habteyonas Z. và Frank Scrimgeour đã nghiên cứu những nhóm nhân tố tác động đến
sản lượng khai thác, từ đó đưa ra những khuyến nghị quản lý đối với Bộ Thủy sản
Eritrea trong việc phát triển nghề khai thác hải sản, nâng cao sản lượng khai thác, đồng
thời bảo vệ nguồn lợi thủy sản đảm bảo phát triển bến vững. Những nhóm nhân tố
được tác giả dùng phân tích gồm: nỗ lực khai thác (fishing effort), vốn lao động
(human capital), tình hình kinh tế xã hội (socio-economic situation), đồng thời tác giả
sử dụng mô hình phân tích hồi quy theo phương pháp OLS để nghiên cứu tác động các
nhóm nhân tố trên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giới hạn trong nỗ lực khai thác như
sử dụng tàu có công suất nhỏ, sử dụng ngư cụ không kết quả, thiếu hụt yếu tố đầu vào,
thiếu kinh nghiệm khai thác của ngư dân là những nhân tố làm cho sản lượng khai thác
không đạt kết quả như mong muốn. Hơn nữa, kết quả chỉ rỏ đặc điểm tình hình kinh tế
19
xã hội như sử dụng vốn không hợp lý, thiếu thị trường đầu ra và lao động có trình độ
đào tạo thấp cũng ảnh hưởng đến sản lượng khai thác. Từ đó tác giả đã đưa ra những
khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu để nâng cao sản lượng khai thác đạt mức sản
lượng bền vững, các khuyến nghị gồm: đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị nghề cá,
cho vay vốn đầu tư tàu và ngư cụ, đào tạo nghề cho lao động nghề cá, phổ biến luật
khai thác và quản lý thủy sản để giúp ngư dân sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền
vững [28].
Sbrana Mario, Sartor Paolo và Belcari Paola đã nghiên cứu xác định những nhân tố
chính ảnh hưởng đến sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực (CPUE)
(kg/ngày/tàu) của nghề lưới kéo tại vùng biển Bắc Tyrrhenian Sea (Phía Tây
Mediterranean). Dữ liệu sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực của một số loài
tôm và cá (deep water rose shrimp, Parapenaeus longirostris, Norway lobster,
doanh thu. Xây dựng các biến cụ thể đưa vào mô hình kinh tế lượng dựa trên những lý
thuyết cơ bản về các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế hoạt động khai thác của đội
tàu như sau:
Có 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh tế hoạt động đánh bắt của tàu khai
thác hải sản [38].
Nhóm nhân tố về đặc điểm kĩ thuật của tàu
- Đặc điểm về vỏ tàu
- Đặc điểm máy tàu
- Đặc điểm trang thiết bị trên tàu
- Tuổi tàu
Nhóm nhân tố về đặc điểm ngư cụ
- Loại ngư cụ tham gia khai thác
- Nghề chính
- Nghề phụ
Nhóm nhân tố về quản lí nhà nước
- Các loại thuế
- Các chương trình, dự án
Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm về trữ lượng và sinh học
- Đặc điểm về ngư trường
- Đặc điểm về thời tiết
- Đặc điểm về mùa vụ
21
Nhóm nhân tố về lao động và quản lý
- Đặc điểm về chủ tàu
- Đặc điểm về thuyền trưởng
- Đặc điểm về nhân công
Nhóm nhân tố về thị trường
- Thị trường đầu vào
- Thị trường đầu ra
- Đặc điểm về chủ tàu
- Đặc điểm về thuyền trưởng
- Đặc điểm về nhân công
Đ
ặ
c đi
ể
m k
ĩ thu
ậ
t c
ủ
a tàu
- Vỏ tàu
- Máy tàu
- Trang thiết bị trên tàu
- Tuổi tàu
Đặc điểm ngư cụ
- Ngư cụ tham gia khai thác
- Nghề chính
- Nghề phụ
Điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm trữ lượng và sinh học
- Đặc điểm về ngư trường
- Đặc điểm về thời tiết
- Đặc điểm về mùa vụ
Qu
ả
fishery) [36].
Diana Tinley, Sean Pascoe, Louisa Coglan đã sử dụng phương pháp SPF và
phương pháp DEA nghiên cứu các nhân tố tác động đến sản lượng khai thác, các nhân
tố gồm: số ngày khai thác, công suất tàu, tuổi chủ tàu, kinh nghiệm thuyền trưởng, đặc
trưng mùa vụ, loại nghề khai thác và một số trang thiết bị khai thác [42].
Mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu này được xây dựng trên giả định kết quả
kinh tế đội tàu đánh bắt xa bờ Bến Tre chịu tác động bởi các yếu tố là nhân tố chiều
dài tàu, nhân tố về công suất máy, nhân tố về ngư cụ, nhân tố về trang thiết bị, nhân tố
về kinh nghiệm của thuyền trưởng, nhân tố về kinh nghiệm của máy trưởng, nhân tố
về mô hình tổ chức sản xuất trên biển và nhân tố tuổi của tàu.
Trên cơ sở là mô hình lý thuyết với 6 nhóm nhân tố tác động, tác giả đề nghị mô
hình kinh tế lượng cụ thể như sau: 23
Công suất máy
Chiều dài tàu
Hình thức tổ chức sản xuất
Tuổi của tàu
24
Chương 2
KẾT QUẢ KINH TẾ
CỦA ĐỘI TÀU ĐÁNH BẮT XA BỜ TỈNH BẾN TRE
2.1. Giới thiệu khái quát về ngành khai thác hải sản tỉnh Bến Tre
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý Hình 2.1. Bản đồ địa lý hành chính Bến Tre
Tỉnh Bến Tre thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích tự
nhiên 2.356,82m
Quá trình phân tích và đánh giá phải gắn với vùng xa bờ của khu vực biển Đông thuộc
Bến Tre và vùng phụ cận.
Phân bố và ước tính trữ lượng một số chủng loại hải sản xa bờ: Tổng trữ lượng hải
sản xa bờ (không kể Trường Sa) là 1.0650.000 – 1.195.000 tấn, khả năng khai thác là
543.000 – 631.000 tấn/năm; trong đó ngư trường miền Trung (không kể cá nổi vùng
khơi) là trên 180.000 tấn, khả năng khai thác trên 71.000 tấn/năm; ngư trường Đông
Nam Bộ (không kể cá nổi vùng khơi) là 710.000 – 840.000 tấn, khả năng khai thác
412.000 – 500.000 tấn/năm. Trữ lượng cá nổi vùng khơi Trung Bộ và Đông Nam Bộ
trên 175.000 tấn, khả năng khai thác là 60.000 tấn/năm.
Bảng 2.1: Bảng ước trữ lượng và khả năng khai thác một số chủng loài hải sản ở
ngư trường xa bờ
Đvt: 1.000 tấn
Nội dung
Vùng
biển
Trung
Bộ
Vùng
biển
Đông
Nam Bộ
Vùng
biển
Trường
Sa
Ghi chú
1. Trữ lượng cá đáy, gần đáy(Không
tính cá Khế và Bạc Má)
80 260-340
2. Khả năng khai thác cá đáy, gần