HOÀN THIỆN CÔNG tác kế TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ tại CÔNG TY cấp THOÁT nước CÔNG TRÌNH đô THỊ hậu GIANG - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
====== NGUYỄN THANH MAI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CẤP THOÁT NƯỚC
CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ HẬU GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHA TRANG –NĂM 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu này là do chính tôi thực hiện, các số
liệu thu thập và kết quả phân tích được trong đề tài là trung thực, đề tài không
trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào.

Nha Trang, tháng 10 năm 2012
Tác giả

NGUYỄN THANH MAI

iiLỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn quí thầy cô Trường Đại học Nha Trang, đặc
biệt là thầy Trương Bá Thanh (Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng) đã tận tình
dạy, giúp đỡ và hướng dẫn cho em trong suốt hơn hai năm qua.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban lãnh đạo Công ty Cấp
thoát nước – Công trình đô thị Hậu Giang, cùng các cô, chú, anh, chị, em,…
trong Công ty đã cung cấp thông tin và tài liệu giúp tôi thực hiện đề tài.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến quí thầy, cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã tạo mọi điều kiện và động viên tôi trong suốt thời gian qua.
Trân trọng!

1.2.2. DỰ TOÁN CHI PHÍ 13
1.2.2.1. Dự toán: 13
1.2.2.2. Định mức chi phí 14
1.2.2.3. Quy trình kỹ thuật dự toán 16
1.2.3. Tổ chức thực hiện kế toán chi phí 17
1.2.3.1. Xét dưới góc độ chức năng công tác KTQT trong doanh nghiệp 17
1.2.3.2. Phân bổ chi phí 18
1.2.4. Kiểm soát chi phí 20
1.2.4.1. KTQT và việc ra quyết định đầu tư của nhà quản trị 21
1.2.4.2. Phân tích mối liên hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận 22
1.2.4.3. Phân tích biến động chi phí 25
1.2.4.4. Trung tâm quản lý chi phí 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

iv

CHƯƠNG 2:
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI
CÔNG TY CẤP THOÁT
NƯỚC - CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ HẬU GIANG
TRONG THỜI GIAN QUA 30
2.1. Tổng quan về
Công ty Cấp thoát nước - Công trình đô thị Hậu Giang
30
2.2 Thực trạng tổ chức công tác KTQT 36
2.2.1. Phân loại chi phí 36
2.2.2. Công tác dự toán chi phí 37
2.2.2.1. Công tác xây dựng định mức 37
2.2.2.2. Công tác hạch toán chi phí và tính giá thành 40
2.2.2.3. Quy trình kỹ thuật dự toán 41


v

3.3. Giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí tại Công ty CP Cấp thoát nước – Công
trình đô thị Hậu Giang 68
3.3.1. Hoàn thiện mô hình KTQT chi phí 68
3.3.1.1. Chức năng, nhiệm vụ của từng phần hành 70
3.3.1.2. Mối liên hệ thông tin cung cấp giữa KTQT với KTTC 71
3.3.1.3. Mối liên hệ thông tin cung cấp giữa KTQT với các phòng ban khác
trong doanh nghiệp 71
3.3.2. Phân loại chi phí 72
3.3.2.1. Biến phí 73
3.3.2.2. Định phí 73
3.3.2.3. Hỗn hợp 73
3.3.3. Tổ chức công tác hạch toán kế toán phục vụ cho công tác KTQT chi phí 75
3.3.4. Tổ chức thu thập và phân tích thông tin 76
3.3.5. Hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí 77
3.3.5.1. Hoàn thiện hệ thống định mức chi phí tiêu chuẩn sản xuất 77
3.3.5.2. Hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí 78
3.3.6. Kiểm soát chi phí 80
3.3.6.1. Phân tích Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận (C-V-P) 80
3.3.6.2. Phân tích biến động giá và lượng 81
3.3.7. Tổ chức sử dụng thông tin KTQT chi phí phục vụ cho việc ra quyết định 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 89 vi

Sơ đồ số 3.4: Đề xuất cơ cấu tổ chức HAWASUCO 72

viii

DANH MỤC TÊN VIẾT TẮT

BCTC : Báo cáo tài chính
CCDC : Công cụ dụng cụ
CNTT : Công nhân trực tiếp
CP NCTT : Chi phí nhân công trực tiếp
CP NVLTT : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CP SXC : Chi phí sản xuất chung
CTĐT : Công trình đô thị
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
HAWASUCO : Công ty Cổ phần Cấp thoát nước - Công trình đô thị Hậu Giang
KD : Kinh doanh
KH-VT : Kế hoạch - Vật tư
KTQT : Kế toán quản trị
KTTC : Kế toán tài chính
NVL : Nguyên vật liệu
P.TGĐ : Phó Tổng Giám đốc
PAC : Polyme Aluminium Chloride (chất kết tủa poli nhôm clorua)
PVC : Polyvinyl Clorua
QLDN : Quản lý doanh nghiệp
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TGĐ : Tổng giám đốc
TLK : Thuỷ lượng kế (đồng hồ nước)
TSCĐ : Tài sản cố định
tại Công ty Cấp thoát nước – Công trình đô thị Hậu Giang” nhằm góp phần nhỏ
vào sự hoàn thiện công tác kế toán trong công ty tại tỉnh nhà cùng phát triển theo xu
hướng hội nhập kinh tế hiện nay trong giai đoạn công ty nhà nước chuyển sang
công ty cổ phần. 2

2.
Ý nghĩa của đề tài:
Luận văn trình bày và làm rõ sự cần thiết, cơ sở lý luận và thực tiễn việc tổ
chức công tác KTQT chi phí trong Công ty Cấp thoát nước
– Công trình đô thị Hậu
Giang.

Qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng KTQT chi phí tại Công ty cấp thoát
nước - công trình đô thị Hậu Giang, luận văn phân tích những vấn đề còn hạn chế,
nguyên nhân của những hạn chế đó và đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức công
tác KTQT chi phí tại đơn vị nghiên cứu.
3. Mục tiêu của đề tài:
3.1. Mục tiêu tổng quát:
- Xây dựng một mô hình lý thuyết về KTQT cho Công ty cấp thoát nước -
công trình đô thị Hậu Giang.
3.2. Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Xác định tầm quan trọng và cấp thiết của công tác kế toán quản
trị chi phí trong Công ty Cấp thoát nước - công trình đô thị.
- Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cấp
thoát nước - công trình đô thị Hậu Giang.
- Mục tiêu 3: Một số giải pháp chủ yếu để hoàn thiện Kế toán quản trị chi phí
tại Công ty nghiên cứu.

Trước đây, người ta chỉ đơn thuần định nghĩa kế toán như là một công việc
giữ sổ sách của nhân viên kế toán. Năm 1941, việc các giám định viên kế toán
(Anurican Institute of Certified Public Accountants - AICPA) đã định nghĩa: "Kế
toán là một nghệ thuật của việc ghi chép, phân loại và tổng hợp bằng một phương
pháp riêng và ghi bằng tiền các nghiệp vụ, sự kiện có tính chất tài chính và giải
thích kết quả của nó". Cách định nghĩa này về kế toán dù sao cũng được phổ biến
rộng rãi.
Năm 1970, tổ chức AICPA xác định chức năng của kế toán là cung cấp
thông tin, nhất là thông tin về tài chính có ích để các tổ chức kinh tế thực hiện việc
ra quyết định (mỗi đơn vị kinh tế là một đơn vị hạch toán độc lập).
Vậy có thể hiểu, kế toán là khoa học và nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung
cấp thông tin ở doanh nghiệp mà thông tin đó có bản chất về kinh tế. Trong các
doanh nghiệp, thông tin kế toán không những cần thiết cho những người ra quyết
định quản lý bên trong đơn vị như: Ông chủ, các nhà quản trị… mà còn cần thiết
cho các đối tượng bên ngoài như: Chủ đầu tư, bạn hàng, ngân hàng, cơ quan quản lý
chức năng… Do mục đích sử dụng thông tin của các đối tượng khác nhau nên thông
tin do kế toán cung cấp cũng đa dạng và khác nhau về nội dung, phạm vi, mức độ,

4

tính chất và thời gian cung cấp, kể cả về mặt gía trị pháp lý của thông tin. Chính vì
lý do này mà kế toán doanh nghiệp được chia thành KTTC và KTQT.
KTQT đưa ra tất cả các loại thông tin kinh tế đã được đo lường, xử lý và
cung cấp cho nội bộ sử dụng để ra quyết định và quản lý; KTTC đưa ra những
thông tin kế toán mà ngoài việc nó được sử dụng trong nội bộ ban quản lý, còn
được cung cấp cho các tổ chức bên ngoài. Thông tin kế toán cung cấp, về bản chất,
thường là thông tin kinh tế - tài chính định lượng và thông tin này giúp cho các nhà
quản trị hoàn thành các chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra
quyết định. Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin trong công
tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những thay đổi nhanh

những người khác trong tổ chức.
Tóm lại, dù các khái niệm có khác nhau về mặt câu chữ nhưng thâu tóm lại
có thể hiểu, KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung, đồng thời là một
công cụ không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp thông
qua KTQT, các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp được
trình bày, diễn giải một cách cụ thể, tỉ mỉ, đáp ứng yêu cầu quản lý theo từng chỉ
tiêu chi tiết và quản lý từng bộ phận doanh nghiệp. KTQT là loại kế toán dành cho
người làm công tác quản lý. Nó được coi như một hệ thống trợ giúp cho các nhà
quản lý và quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh
nghiệp.
Mục đích quan trọng của việc nghiên cứu kế toán là để có một kiến thức và
một khả năng chuyên môn hầu tham gia vào những quyết định kinh tế quan trọng.
Thông tin do kế toán cung cấp làm nền tảng của những quyết định. Để có thể làm
một quyết định khôn ngoan và thi hành quyết định đó có hiệu quả, người làm quyết
định phải trả lời câu hỏi sau đây:
- Bước 1: Mục tiêu phải thực hiện là gì ?
- Bước 2: Các phương tiện khác nhau sẵn có để đạt được mục tiêu đó ?
- Bước3: Phương pháp dự phòng nào tạo điều kiện thuận lợi nhất để đạt mục
tiêu đó.
- Bước 4: Cần có biện pháp hành động nào?
- Bước 5: Mục tiêu đề ra có thực hiện được không? [2, 5-6]

6

Để trả lời các câu hỏi trên, ta thực hiện sơ đồ quy trình sau:
phương án
Bước 2
Ra quy
ết định

Bước 3
Th
ực hiện

Bước 4
Báo cáo ph
ản hồi

Bước 5

7

Thông thường, các nhà quản trị thừa hành thường đánh giá từng phần trong
phạm vi kiểm soát của họ. Các nhà quản trị cấp cao hơn không tham gia trực tiếp
vào quá trình hoạt động hàng ngày mà đánh giá và kiểm tra dựa vào các báo cáo
thực hiện của từng bộ phận thừa hành do kế toán quản trị cung cấp.
- Ra quyết định
Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết định
của nhà quản trị. Đây là một chức năng quan trọng xuyên suốt các khâu quản trị doanh
nghiệp, từ khâu lập kế hoạch tổ chức thực hiện, cho đến kiểm tra và đánh giá.
KTQT giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng
cách cung cấp thông tin phù hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích
vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, ra quyết định thích
hợp nhất.
1.2. Nội dung Kế toán quản trị

Bao gồm giá phí gắn liền với dịch vụ từ bên ngoài cung cấp cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như dịch vụ điện nước, bảo hiểm tài sản,
thuê nhà xưởng…
a6. Chi phí khác bằng tiền
Bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinh doanh bằng tiền mà doanh nghiệp
thường hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí trong kỳ.
b. Phân loại theo công dụng kinh tế (chi phí trong sản xuất và chi phí ngoài sản xuất)
b1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (Direct Materials cost)
Bao gồm toàn bộ những chi phí liên quan đến chi phí nguyên vật liệu sử
dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
là những chi phí phát sinh hình thành giá thành sản phẩm, nếu không có chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp thì không thể tạo ra sản phẩm.
b2. Chi phí nhân công trực tiếp: (Direct labour cost)
Bao gồm tiền lương nhân công trực tiếp thực hiện qui trình sản xuất, các
khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất của nhân công trực tiếp thực hiện
quá trình sản xuất.
Tương tự chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp là
những chi phí phát sinh hình thành giá thành sản phẩm, nếu không có chi phí nhân
công trực tiếp thì sẽ không tạo ra sản phẩm.
b3. Chi phí sản xuất chung (Factory overhead costs)
Bao gồm tất cả các chi phí không thuộc hai khoản mục trên. Chi phí sản xuất
chung thường bao gồm:

9

- Chi phí lao động gián tiếp phục vụ, quản lý sản xuất tại phân xưởng.
- Chi phí nguyên vật liệu dùng trong máy móc thiết bị.
- Chi công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất.
- Chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định khác dùng trong hoạt động
sản xuất.

c. Phân loại chi phí theo mức độ hoạt động
Nếu xét trong mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động của doanh
nghiệp, người ta phân chia chi phí ra thành các loại:
c1. Biến phí (variable cost): là các khoản chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ
với những biến đổi của mức độ hoạt động. Biến phí có thể chia làm 2 loại: Biến phí
thực thụ và biến phí cấp bậc.
Biến phí thực thụ: là biến phí biến đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động
nhưng không thay đổi cho mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất ra. Biến phí này gồm các
khoản: nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp,
Biến phí cấp bậc: là các khoản chi phí tăng lên hoặc giảm đi khi biến động
nhiều hay ít.
Ví dụ, một tổ sửa chữa bảo trì có thể làm việc với tốc độ thông thả khi ít việc
nhưng phải tăng cường lên khi có nhiều việc.
c2. Định phí (Fixed cost)
Định phí là các chi phí không thay đổi về tổng số dù có sự thay đổi về mức
độ trong một phạm vi nhất định, hoặc trong những giới hạn bình thường.
Định phí bao gồm các khoản: Khấu hao thiết bị sản xuất, chi phí quảng cáo,
tiền lương của bộ phận quản lý phục vụ, Định phí được chia làm hai loại: Định phí
bắt buộc và định phí tùy ý (hay còn gọi là định phí không bắt buộc).
Định phí bắt buộc: là định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng vì
chúng thường liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc cơ bản của doanh nghiệp.
Ví dụ: như khấu hao tài sản cố định, tiền lương của các thành viên trong cơ
cấu tổ chức cơ bản của doanh nghiệp. Đặc điểm của định phí bắt buộc là có bản
chất sử dụng lâu dài và không thể giảm bớt tới bằng 0.
Định phí tùy ý hay còn được xem như định phí quản trị. Chi phí này phát
sinh từ các quyết định hàng năm của nhà quản trị.
d. Phân loại chi phí theo các căn cứ khác nhau
d1. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ tính kết quả
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí với thời kỳ tính kết quả chi phí có thể
chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.

d4. Chi phí trên báo cáo tài chính
Chi phí trên bảng cân đối kế toán là các chi phí sản phẩm tương ứng với các
thành phần hay hàng hoá chưa được bán sẽ được thể hiện trên bảng cân đối kế toán.
Chi phí trên báo cáo thu nhập là các chi phí về hàng hoá, thành phẩm đã bán
trong kỳ và các chi phí thời kỳ sẽ được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh. [3, 76]

12

d5. Chi phí lặn
Chi phí lặn là những chi phí không thể thay đổi được trong tương lai. Chi phí
lặn chỉ xuất hiện khi chúng ta có sự lựa chọn của một hay một vài cơ hội kinh doanh
hay phương án kinh doanh trong số hai hay nhiều phương án kinh doanh hiện có
sẵn. Chi phí lặn ám chỉ những chi phí đã thực sự phát sinh trong quá khứ mà không
thể thay đổi được khi đem vào các phương án kinh doanh trong tương lai. Chi phí
lặn đều giống nhau khi chúng ta thể hiện nó trong phương án kinh doanh tương lai.
[2, 19]

1.2.1.3. Cách ứng xử của chi phí
Sự biến động của một khoản mục chi phí khi mức độ hoạt động tăng (giảm)
được gọi là sự ứng xử của chi phí theo mức độ hoạt động đó. Hình thức ứng xử của
chi phí được thể hiện theo ba loại: Chi phí khả biến, Chi phí bất biến và Chi phí hỗn
hợp.
a. Chi phí khả biến
Một khoản mục được xem là loại chi phí khả biến khi căn cứ ứng xử của nó
biến động thì tính theo tổng số tiền nó thay đổi theo, còn tính theo một đơn vị căn
cứ ứng xử nó lại không thay đổi.
Ví dụ: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tính cho một sản phẩm là 10.000
đồng không đổi và tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh trong kỳ sẽ tăng
(giảm) theo số lượng sản phẩm cần sản xuất tăng (giảm).
b. Chi phí bất biến

các nhà quản trị quan tâm.
Trong một thị trường cạnh tranh khốc liệt, khi mà các biện pháp nhằm tăng
lợi nhuận bằng cách gia tăng khối lượng hay gia tăng giá bán là vô cùng khó khăn
và rất ít khả thi, không muốn nói rằng đôi khi chạy theo sự tăng trưởng qui mô là
một việc làm đầy mạo hiểm, thì việc kiểm soát chi phí và tiết kiệm chi phí được
xem như một con đường duy nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động của một doanh
nghiệp.
Việc đánh giá biến động chi phí được căn cứ vào các định mức chi phí hay
kế hoạch chi phí.

14

1.2.2.2. Định mức chi phí
a. Chi phí định mức:
Chi phí định mức là chi phí được tính toán từ trước trong một số điều kiện làm
việc cụ thể. Hay nói cách khác hệ thống tính giá thành theo định mức là hệ
thống sử dụng các định mức cho chi phí (và có thể cả doanh thu) và hệ thống này
sẽ cho phép chúng ta kiểm soát chi tiết các biến động. Sử dụng các chi phí
định mức sẽ cho chúng ta biết kết quả hoạt động sẽ có thể như thế nào trong những
hoàn cảnh nhất định. Từ đó, ta có thể xác định được những biến động và kiểm soát
được hiệu quả hoạt động thực tế.
Định mức là căn cứ để lập dự toán, đồng thời là căn cứ để tập hợp, phân tích
đánh giá kết quả thực hiện chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nắm bắt và
am hiểu định mức chi phí là một yêu cầu quan trọng đối với kế toán quản trị. Hiện
nay các doanh nghiệp thường sử dụng các loại định mức chi phí do ngành qui định,
đó là những định mức được quy định trong điều kiện chung nhất. Tuy nhiên trong
quá trình hoạt động, mỗi doanh nghiệp là một thực thể khách quan có những đặc
điểm riêng, để đảm bảo khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường, để có cơ sở
phấn đấu thực hiện và tiết kiệm chi phí phù hợp với đặc điểm của mình, các doanh
nghiệp cần xây dựng cho mình hệ thống định mức chi phí trên cơ sở định mức của

trước các loại nguyên vật liệu hoặc phương pháp sản xuất tối ưu.
- Giúp doanh nghiệp chỉ tập trung vào những các biến động nào vượt quá một
phạm vi nào đó thay vì phải tập trung vào nghiên cứu tất cả các biến động, dù là
nhỏ.
- Có lẽ chúng ta cũng cần tổng kết lại bằng cách nhấn mạnh rằng, không cần
phải thực hiện việc tính giá thành theo định mức để có thể kiểm soát thực hiện ngân
sách. Tuy nhiên, nếu thực hiện tính giá thành theo định mức, việc kiểm soát sẽ đạt
được hiệu quả nhiều hơn.
c. Phương pháp xác định chi phí định mức
- Phương pháp kỹ thuật
Phương pháp này đòi hỏi sự kết hợp của các chuyên gia kỹ thuật để nghiên cứu
thời gian thao tác công việc nhằm mục đích xác định lượng nguyên vật liệu và lao
động hao phí cần thiết để sản xuất sản phẩm trong điều kiện về công nghệ, khả năng
quản lý và nguồn nhân lực hiện có tại doanh nghiệp.
- Phương pháp phân tích số liệu lịch sử
Xem lại giá thành đạt được ở những kỳ trước như thế nào, tuy nhiên phải xem
lại kỳ này có gì thay đổi và phải xem xét những chi phí phát sinh các kỳ trước đã

Trích đoạn Phân tích sự biến động của chi phí Sự cần thiết phải tổ chức cơng tác KTQT Căn cứ đề xuất giải pháp tổ chức cơng tác KTQT trong Cơng ty Cấp thốt Nội dung cơ bản tổ chức KTQT trong Cơng ty Cấp thốt nước – Cơng Chức năng, nhiệm vụ của từng phần hành
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status