BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ ĐỨC TÂM
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
ĐÀO TẠO VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ ĐỨC TÂM
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
ĐÀO TẠO VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN DANH GIANG
ThS. PHẠM THÀNH THÁI
Khánh Hòa - 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh với đề tài: “Mối quan hệ giữa chất lượng
dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Trung” là
công trình do chính bản thân tôi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài
nghiên cứu này.
Khánh Hòa, tháng 08/2012
Lê Đức Tâm
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5. Phương pháp nghiên cứu 4
1.6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
1.7. Kết cấu của luận văn 4
Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1. Giới thiệu chương 6
2.2. Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 6
2.2.1. Khái niệm về dịch vụ 6
2.2.2. Khái niệm về chất lượng dịch vụ 6
2.2.3. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ 7
2.2.4. Sự hài lòng của khách hàng 11
2.3. Chất lượng đào tạo đại học – sự hài lòng của sinh viên 12
2.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu 19
2.4.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20
2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.5. Mô hình đánh giá chất lượng đào tạo của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
thông qua mức độ hài lòng của sinh viên 23
2.5.1. Cơ sở áp dụng mô hình 23
2.5.2. Mô hình nghiên cứu 25
2.5.3. Giả thuyết nghiên cứu 26
2.6. Tóm tắt chương 2 30
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1.
3.2.
Giới thiệu chương 31
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 31
3.2.1. Tổng quan về Trường Đại học Xây dựng Miền Trung 31
3.2.2. Thực trạng của Nhà trường 34
3.2.3. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 36
3.3. Qui trình nghiên cứu 37
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1. Kết luận 77
5.2. Kiến nghị giải pháp 80
5.2.1. Đối với đội ngũ giảng viên 80
5.2.2. Đối với chương trình đào tạo 82
5.2.3. Đối với cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 83
5.2.4. Đối với sự quan tâm của nhà trường tới sinh viên 84
5.2.5. Đối với công tác hỗ trợ hành chính 84
5.3. Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu mới 85
5.3.1. Hạn chế của đề tài 85
5.3.2. Đề xuất hướng nghiên cứu mới 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng
Nội dung bảng
Trang
2.1
Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan
22
3.1
Tỷ lệ sinh viên phân bố theo khoa và ngành học
36
3.2
Thang đo nháp
38
3.3
Thang đo sơ bộ (đã hiệu chỉnh so với thang đo nháp)
40
2.1
Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos
8
2.2
Cấu trúc thứ bậc các tiêu chí sự hài lòng của sinh viên
24
2.3
Mô hình nghiên cứu đề xuất
1
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của nghiên cứu
Trong bất kỳ thời đại hay quốc gia nào, chất lượng giáo dục luôn là vấn đề quan
tâm hàng đầu vì nó là tiền đề cho sự phát triển của xã hội. Một đất nước muốn phát
triển cần phải có nguồn nhân lực chất lượng. Do đó, giáo dục – đào tạo luôn là đề tài
lôi kéo được nhiều sự chú ý của báo giới, công luận xã hội cũng như các chuyên gia và
các nhà lãnh đạo.
Trước đây, giáo dục – đào tạo được xem như một hoạt động sự nghiệp đào tạo
con người mang tính phi thương mại, phi lợi nhuận nhưng dưới sự tác động của nền
kinh tế thị trường đã khiến cho tính chất của hoạt động này không còn thuần túy là một
hoạt động phúc lợi công mà dần thay đổi thành “dịch vụ giáo dục”. Theo đó, giáo dục
trở thành một loại dịch vụ mà khách hàng (sinh viên, phụ huynh) có thể bỏ tiền ra để
đầu tư và sử dụng dịch vụ mà họ cho là tốt nhất.
Cùng với xu thế phát triển chung của xã hội, nhiều cơ sở giáo dục đã ra đời để
đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng với nhiều mô hình đào tạo khác
nhau: từ chính quy, vừa làm vừa học, đào tạo từ xa…Từ đó nảy sinh các vấn đề như:
chất lượng đào tạo kém; sinh viên ra trường không đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
và xã hội; sự xuống cấp đạo đức học đường; chương trình và nội dung ít được cập
nhật, không phù hợp với thực tế…đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn trên các chương
trình thời sự, trên các mặt báo và trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác.
Điều này dẫn đến sự hoang mang đối với công chúng, đặc biệt là đối với các bậc phụ
vụ giáo dục đào tạo là rất khó khăn. Công việc này đòi hỏi công cụ đo lường phù hợp
và được thực hiện thường xuyên.
Mặt khác, lãnh đạo Trường Đại học Xây dựng Miền Trung cũng luôn nhận thức
rằng: sinh viên luôn là đối tượng trực tiếp của quá trình đào tạo và cũng là “sản phẩm”
chính vì vậy ý kiến phản hồi của sinh viên về sự hài lòng đối với chất lượng đào tạo
của nhà trường luôn có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới chất lượng đào tạo của
Nhà trường trong tương lai. Và đây cũng là chủ trương chung của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về việc hướng dẫn tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học đối với hoạt động
giảng dạy tại các trường đại học.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn của Trường Đại học Xây dựng
Miền Trung tác giả đã chọn đề tài “Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ đào tạo và sự
hài lòng của sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Trung” làm đề tài nghiên cứu.
3
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ đào tạo tại
Trường Đại học Xây dựng Miền Trung và tìm hiểu một số yếu tố tác động đến kết quả
này. Từ đó tìm ra được các giải pháp giúp cho nhà trường nâng cao chất lượng dịch vụ
đào tạo.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định các nhân tố chất lượng dịch vụ đào tạo có ảnh hưởng đến sự hài lòng
của sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Trung.
- Đo lường mức độ tác động của các nhân tố dịch vụ đào tạo đó đến sự hài lòng
của sinh viên tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung.
- Đánh giá sự khác biệt về sự hài lòng của sinh viên theo các yếu tố: giới tính,
khoa, kết quả học tập.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo Trường Đại
học Xây dựng Miền Trung.
1.3.Câu hỏi nghiên cứu
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Xây
Nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng đào tạo tại một trường Đại
học góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn việc vận dụng lý thuyết về sự hài lòng
của khách hàng (sinh viên) vào việc đánh giá chất lượng dịch vụ đào tạo đại học. Đồng
thời, mở rộng việc áp dụng một cách linh hoạt các mô hình nghiên cứu sự hài lòng của
khách hàng trong kinh doanh vào các hoạt động thuộc lĩnh vực giáo dục đại học.
1.6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu đề tài làm cơ sở cho Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của sinh viên, mức độ hài
lòng của sinh viên về các yếu tố đó. Từ đó, có những giải pháp phù hợp để cải thiện
chất lượng dịch vụ đào tạo của nhà trường.
Từ mô hình đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào
tạo tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung có thể áp dụng cho các trường thuộc Bộ
Xây dựng cũng như nhiều trường đại học khác tại Việt Nam.
1.7.Kết cấu của luận văn
- Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu.
5
- Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn nhu cầu và
các mô hình nghiên cứu sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; từ đó đưa ra mô hình
nghiên cứu đề xuất để đo lường mức độ thỏa mãn của sinh viên đối với chất lượng đào
tạo tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung.
- Chương 3 giới thiệu đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên
cứu sử dụng để đánh giá các thang đo lường các khái niệm nghiên cứu và kiểm định
mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đã đề ra.
- Chương 4 trình bày những phân tích và thảo luận về các kết quả nghiên cứu.
- Chương 5 đưa ra kết luận và đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng đào
tạo cho Trường Đại học Xây dựng Miền Trung.
6
Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1.Giới thiệu chương
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 này sẽ trình
gần đây và được nhiều người đồng ý.
Theo TCVN và ISO 9000, chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch
vụ so với các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua.
Parasurman và cộng sự (1985, 1988) định nghĩa chất lượng dịch vụ là khoảng
cách giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và cảm nhận của họ khi đã sử dụng
qua dịch vụ.
Theo Asubonteng và cộng sự (1996), chất lượng dịch vụ là một dịch vụ đáp ứng
được sự mong đợi của khách hàng và làm thỏa mãn nhu cầu của họ.
Như vậy ta có thể đưa ra một khái niệm chung về chất lượng dịch vụ là khoảng
cách giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ.
Trong nhiều phân tích về chất lượng dịch vụ thì chúng ta thấy rõ một số đặc điểm
về chất lượng dịch vụ như sau:
(1). Chất lượng dịch vụ khó đánh giá hơn chất lượng sản phẩm hữu hình.
(2). Nhận thức về chất lượng dịch vụ là kết quả của quá trình so sánh giữa mong
đợi của khách hàng với những hoạt động cụ thể của tổ chức nhằm đáp ứng những
mong đợi đó.
(3). Chất lượng dịch vụ không chỉ được đánh giá từ bản thân dịch vụ, mà nó còn
được thể hiện thông qua quá trình chuyển tải dịch vụ đó đến với khách hàng.
2.2.3. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ
Một trong những khó khăn của quá trình quản lý chất lượng dịch vụ là đo lường
chất lượng của dịch vụ. Khác với chất lượng sản phẩm hữu hình được đo lường bằng
những thông số, đặc tính kỹ thuật, chất lượng dịch vụ như đã phân tích ở những phần
trên, được xác định bởi khách hàng. Khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ thông
qua cảm nhận chủ quan của họ đối với quá trình thực hiện dịch vụ.
Để đánh giá, đo lường chất lượng dịch vụ các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều
mô hình khác nhau để đánh chất lượng dịch vụ ở nhiều lĩnh vực và phạm vi khác nhau.
Để có cái nhìn tổng quan về các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ đã được sử dụng
tác giả sẽ trình bày sơ lược một số mô hình tiêu biểu được sử dụng nhiều trong các
nghiên cứu về đánh giá chất lượng dịch vụ như sau:
Mô hình chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật Gronroos
Mô hình này được ứng dụng nhằm đo lường sự thỏa mãn của khách hàng đối với
các ngành, các doanh nghiệp, dịch vụ… Từ đó có thể biết được vị thế, sự đánh giá của
khách hàng đối với doanh nghiệp, dịch vụ để hoạch định các mục tiêu và chiến lược
cải tiến chất lượng hoạt động.
Chỉ số hài hài lòng của khách hàng bao gồm các nhân tố (biến), mỗi nhân tố được
cấu thành từ nhiều yếu tố cụ thể (indicators, items) đặc trưng của sản phẩm hoặc dịch
vụ. Sự hài lòng khách hàng (customer satisfaction) được định nghĩa như là một sự
9
đánh giá toàn diện về sự sử dụng một dịch vụ hoặc hoạt động sau bán của doanh
nghiệp và đây chính là điểm cốt lõi của mô hình CSI. Xung quanh biến số này là hệ
thống các mối quan hệ nhân quả (cause and effect) xuất phát từ những biến số khởi tạo
như sự mong đợi (expectations) của khách hàng, hình ảnh (image) doanh nghiệp và
sản phẩm, chất lượng cảm nhận (perceived quality) và giá trị cảm nhận (perceived
value) về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo đến các biến số kết quả của sự hài lòng như
sự trung thành (customer loyalty) hay sự than phiền của khách hàng (customer
complaints). (Lê Văn Huy, 2007).
Mô hình SERVQUAL
Lấy ý tưởng lý thuyết trong mô hình của Gronroos (1984), Parasuraman (1985)
đã xây dựng một công cụ đo lường hỗn hợp, gọi là SERVQUAL, sử dụng thang điểm
Likert để đo lường khoảng cách giữa kỳ vọng và cảm nhận thực tế của khách hàng về
chất lượng dịch vụ. Trong đó, phần thứ nhất xác định “kỳ vọng” của khách hàng đối
với dịch vụ nói chung; phần thứ hai nhằm xác định “cảm nhận” của khách hàng đối
với việc thực hiện dịch vụ. Kết quả nghiên cứu nhằm nhận ra các khoảng cách giữa
cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ do doanh nghiệp thực hiện và kỳ vọng của
khách hàng đối với chất lượng dịch vụ đó.
Như vậy, chất lượng dịch vụ = mức độ cảm nhận – giá trị kỳ vọng. Đây là một
trong những mô hình được sử dụng khá phổ biến để đánh giá chất lượng dịch vụ trong
nhiều lĩnh vực khác nhau. Mô hình SERVQUAL gồm 10 thành phần: (1) Phương tiện
hữu hình; (2) Sự tin cậy; (3) Sự đáp ứng; (4) Năng lực phục vụ; (5) Tiếp cận; (6) Ân
cần; (7) Thông tin; (8) Sự tín nhiệm; (9) An toàn; (10) Sự thấu hiểu.
Các biến tổng hợp xác định được ở bước trên được sử dụng làm các biến độc lập
và cùng với một biến phụ thuộc từ số liệu điều tra (thể hiện đánh giá chung về chất
lượng dịch vụ) được đưa vào mô hình phân tích hồi qui bội. Thông qua phân tích này
ta có thể đánh giá được vai trò của từng nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.
Mô hình SERVPERF
Trên cơ sở mô hình SERVQUAL của Parasuraman, Cronin và Taylor (1992) đã
khắc phục và cho ra đời mô hình SERVPERF, một biến thể của SERVQUAL.
Theo mô hình SERVPERF, chất lượng dịch vụ = mức độ cảm nhận. Bộ thang đo
SERVPERF cũng có hai mươi hai phát biểu với năm thành phần cơ bản tương tự như
phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, tuy nhiên bỏ qua
phần hỏi về kỳ vọng, năm thành phần cơ bản, đó là:
- Tin cậy (Reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng
thời hạn ngay từ lần đầu tiên.
11
- Đáp ứng (Responsiveness): thể hiện qua sự mong muốn, sẵn sàng của nhân viên
phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
- Năng lực phục vụ (Assurance) thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách
phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng.
- Sự cảm thông (Empathy): thể hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng cá nhân,
khách hàng.
- Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân
viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ.
2.2.4. Sự hài lòng của khách hàng
2.2.4.1. Khái niệm về sự hài lòng
Có nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng như: Sự hài lòng là sự phản ứng
của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn
trước đó và cảm nhận của họ sau khi sử dụng sản phẩm (Tse và Wilton 1988); Sự hài
lòng theo Parasuraman (1994) là kết quả tổng hợp của Chất lượng dịch vụ, Chất lượng
sản phẩm và Giá; Theo Spreng và cộng sự (1996) thì sự hài lòng khách hàng là trạng
thái cảm xúc tồn động trong tâm trí của họ sau khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ; Hay
hàng thỏa mãn thì có xu hướng sử dụng dịch vụ nhiều và thường xuyên hơn những
khách hàng không thỏa mãn. Hơn nữa, khi thỏa mãn, thì họ có xu hướng tiếp tục mua
và còn truyền miệng về dịch vụ đó cho những người quen. Do đó, thương hiệu nào tạo
được lòng trung thành của người tiêu dùng càng cao thì lợi nhuận đem lại cho công ty
càng cao. (trích trong Huỳnh Đoàn Thu Thảo, 2010).
- Tiếp tục mua thêm sản phẩm: một khách hàng có mức độ hài lòng cao gần như
chắc chắn sẽ tiếp tục mua thêm sản phẩm.
- Giới thiệu cho người khác: một khách hàng có mức độ hài lòng cao sẽ kể cho gia
đình và bạn bè về sản phẩm dịch vụ đó.
- Duy trì sự lựa chọn: một khách hàng có mức độ hài lòng cao ít có khả năng thay
đổi nhãn hiệu.
- Giảm chi phí: một khách hàng có mức độ hài lòng cao tốn ít chi phí để phục vụ
hơn một khách hàng mới.
- Giá cao hơn: một khách hàng có mức độ hài lòng cao sẵn sàng trả nhiều hơn cho
sản phẩm dịch vụ đó.
2.3.Chất lượng đào tạo đại học – sự hài lòng của sinh viên
2.3.1. Quan niệm về chất lượng đào tạo
13
Chất lượng đào tạo là mục tiêu hàng đầu mà bất kỳ cơ sở đào tạo nào cũng hướng
tới. Và việc phấn đầu nâng cao chất lượng đào tạo đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm của
các trường đại học. Tuy có vai trò rất quan trọng, nhưng cũng giống như khái niệm
chất lượng dịch vụ nói chung, chất lượng đào tạo cũng là một khái niệm tương đối,
động, đa chiều và với những người ở các cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên
khác nhau khi xem xét nó. Có nhiều quan điểm khác nhau khi tranh luận để đưa ra
khái niệm cho chất lượng đào tạo. Khái niệm này thay đổi khi có sự thay đổi về khía
cạnh tiếp cận và đối tượng tiếp cận. Sau đây là một vài quan điểm về chất lượng giáo
dục đào tạo.
2.3.1.1. Chất lượng đào tạo đại học được đánh giá bằng “Đầu vào”:
Một số quan điểm cho rằng chất lượng của một trường đại học phụ thuộc vào
chất lượng đầu vào của trường đó. Quan điểm này cho rằng điểm trung bình của thí
chất lượng “đầu vào, “đầu ra”, tìm được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của
trường đó là rất khó khăn. Bởi vì, các trường trong hệ thống giáo dục nước ta rất đa
dạng, không thể dùng một bộ công cụ duy nhất để đo lường chất lượng “đầu vào” và
“đầu ra” cho tất cả các trường đại học.
2.3.1.4. Chất lượng đào tạo đại học được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”:
Đây là quan điểm của nhiều trường đại học phương Tây, đánh giá chất lượng đào
tạo chủ yếu dựa vào năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong trường đại
học đó. Có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông; đội ngũ giảng
viên giảng dạy có trình độ chuyên môn cao, có uy tín khoa học thì được xem là trường
có chất lượng cao.
Quan điểm này có ưu điểm là năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy có
thể đánh giá khách quan; nhưng rất khó để có thể đánh giá khách quan, công bằng giữa
các trường đại học về uy tín khoa học trong môi trường giáo dục nước ta chịu sự chi
phối nhiều bởi yếu tố chính trị.
2.3.1.5. Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng”:
Quan điểm này được lĩnh hội từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Quan điểm
này bao hàm các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức. Quan
điểm chất lượng giáo dục đại học này dựa vào nguyên tắc các trường đại học phải tạo
ra được “Văn hóa tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng. Vì
vậy, một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “Văn hóa tổ chức
riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
15
Chất lượng giáo dục là một phạm trù rất khó định nghĩa. Tuy nhiên theo các
chuyên gia đầu ngành về chất lượng giáo dục, chất lượng có thể nhìn nhận qua 5 khía
cạnh như sau:
- Khía cạnh 1: Chất lượng được ngầm hiểu là chuẩn mực cao.
- Khía cạnh 2: Chất lượng đề cập đến sự nhất quán trong thực thi một công tác
không có sai sót.
- Khía cạnh 3: Chất lượng là hoàn thành những mục tiêu đề ra trong kế hoạch
của trường.
phải có diễn viên giỏi. Để phục vụ cho một giảng viên đứng lớp, phải kèm theo một
đội ngũ phục vụ từ khâu lên chương trình, thời khóa biểu, chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết
bị giảng dạy,…Tức là có cả một đội ngũ phục vụ trong toàn hệ thống. Trình độ chuyên
môn của giảng viên, năng lực nghiệp vụ của cán bộ phục vụ là then chốt. Những con
người đó có chuyên nghiệp, có nỗ lực lao động không, điều kiện làm việc của họ có tốt
không sẽ tác động quan trọng đến chất lượng đào tạo.
- Nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy: đây là những yếu tố có ảnh
hưởng quan trọng đến đầu ra của nền giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học khi mà coi
việc tự học của sinh viên là chính. Nội dung chương trình đạt chuẩn quốc gia và khu
vực, phương pháp giảng dạy tích cực sẽ kích thích sinh viên học tập, sáng tạo, hăng
hái phát biểu, tham gia vào bài giảng và ngược lại. Thiết kế nội dung chương trình và
vận dụng phương pháp giảng dạy phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực đội ngũ
giảng viên, năng lực tổ chức quản lý của nhà trường.
- Cơ sở vật chất: để thực hiện chương trình đào tạo tốt cần phải có cơ sở vật chất
đi kèm, bao gồm hệ thống giảng đường được trang bị các thiết bị dạy - học đồng bộ và
hiện đại; các phòng thí nghiệm, thực hành được trang bị thiết bị nghiên cứu và thực
hành loại công nghệ mới; Thư viện có các dịch vụ đáp ứng nhu cầu người tìm kiếm
thông tin. Đào tạo trình độ đại học yêu cầu vận dụng vào thực tiễn đòi hỏi cao hơn hẳn
so với bậc phổ thông. Người học gần như bước vào “thực tế” nghề nghiệp ngay trên
giảng đường. Do vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật đầy đủ và tiên tiến sẽ ảnh hưởng rất
nhiều đến việc đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.3.3. Phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo đại học
Đánh giá chất lượng đào tạo là một khâu quan trọng trong công tác quản lý giáo
dục. Kết quả đánh giá tạo cơ sở để các nhà quản lý giáo dục nhận dạng điểm mạnh,
điểm yếu, tìm ra các biện pháp để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, xác định
các mục tiêu ưu tiên, xây dựng kế hoạch phát triển phân bổ nguồn lực và hoạch định
chính sách đào tạo cho phù hợp với yêu câu thực tế khách quan trong từng thời kỳ.