NGÔ VĂN ĐẠT ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU
QUẢ KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei Boon, 1931) QUY MÔ NHỎ TẠI MÓNG CÁI -
QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nha Trang, 2010
i LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của thầy giáo TS Ngô Anh Tuấn. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn này là trung thực và chưa được công bố hay bảo vệ trong một học vị nào.
Tác giả luận văn
Ngô Văn Đạt
Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện tốt nhất
trong quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sĩ nuôi trồng thủy sản!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Ngô Anh Tuấn, người
đã định hướng và tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Lời cảm ơn xin được gửi tới các Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê Thành phố
Móng Cái và Ủy Ban nhân dân các xã, phường: Vạn Ninh, Trà Cổ, Hải Hoà, Hải
Xuân, Ninh Dương, Bình Ngọc, Hải Yên, Hải Tiến, Hải Đông, Quảng Nghĩa đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập. Xin được gửi lời cảm ơn tới các hộ
gia đình đã sắp xếp thời gian và cung cấp thông tin trong luận văn này!
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình cùng các bạn đồng nghiệp đã đóng góp
những ý kiến chia sẻ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Nha Trang, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Ngô Văn Đạt iii
3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 22
3.1.1.1. Vị trí địa lý 22
3.1.1.2. Khí hậu 22 iv 3.1.1.3. Địa hình và đất đai 22
3.1.1.4. Hệ thống sông ngòi 23
3.1.1.5. Đặc điểm thuỷ triều 23
3.1.1.6. Các tài nguyên thiên nhiên 24
3.1.2. Kinh tế - xã hội 27
3.1.2.1. Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Móng Cái 27
3.1.2.2. Dân số và lực lượng lao động 27
3.1.2.3. Cơ cấu kinh tế 28
3.1.2.4. Hệ thống cơ sở hạ tầng 31
3.2. HIỆN TRẠNG NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG TẠI MÓNG CÁI 32
3.2.1. Tình hình chung 32
3.2.1.1. Diện tích 32
3.2.1.2. Sản lượng 33
3.2.1.3. Năng suất 34
3.2.1.4. Khả năng cung ứng con giống 36
3.2.1.5. Dịch bệnh 37
3.2.1.6. Cơ cấu mùa vụ nuôi 37
3.2.2. Hiện trạng nuôi tôm chân trắng ở cấp hộ 39
3.2.2.1. Hệ thống ao nuôi 39
3.2.2.2. Hệ thống cấp thoát nước 40
3.2.2.3. Phương thức nuôi 41
3.2.2.4. Cải tạo ao 41
3.3.4.3. Một số vấn đề khác 57
3.4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM CHÂN
TRẮNG BỀN VỮNG TẠI MÓNG CÁI 57
3.4.1. Giải pháp về chất lượng con giống 57
3.4.2. Mật độ nuôi 58
3.4.3. Ao chứa, xử lý nước 58
3.4.4. Vấn đề vốn 58
3.4.5. Thị trường tiêu thụ sản phẩm 59
3.4.6. Công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền 59
3.4.7. Quy hoạch vùng nuôi 59
3.4.8. Kiểm soát, hạn chế dịch bệnh nâng cao chất lượng sản phẩm nuôi 60
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 61
4.1. Kết luận 61
4.2. Đề xuất ý kiến 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC vi DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2. 1: Phân bổ phiếu điều tra theo xã/phường 19
Bảng 3. 1: Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Móng Cái 27
Bảng 3. 2: Dân số và số hộ dân của TP Móng Cái 27
Bảng 3. 3: Diện tích tôm chân trắng bị thiệt hại do dịch bệnh từ 2003 đến 2009 37
Bảng 3. 4: Kết quả nuôi tôm chân trắng vụ Xuân Hè ở Móng Cái 2003 – 2009 38
Bảng 3. 5: Kết quả nuôi tôm chân trắng vụ Thu Đông ở Móng Cái 2003 – 2009 38
Bảng 3. 6: Trình độ văn hoá và học vấn của các chủ hộ nuôi tôm 47
Bảng 3. 7: Những khó khăn gặp phải trong nuôi tôm chân trắng hiện nay 48
Chữ viết tắt Diễn giải nghĩa
BTC Bán thâm canh
Ctv cộng tác viên
DS Dân số
DT Diện tích
ĐVT Đơn vị tính
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
FAO Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp của Liên hiệp Quốc
GDP Thu nhập quốc nội bình quân
HPV Bệnh Parvovirus gan tuỵ tôm he
HQ Hiệu quả
IHHNV Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu ở tôm he
KTXH Kinh tế xã hội
Max Giá trị lớn nhất
Min Giá trị nhỏ nhất
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NSBQ Năng suất bình quân
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
PL Post Larvae
SL Sản lượng
TB Trung bình
TC Thâm canh
TP Thành phố
Tr.đ Triệu đồng
TSCĐ Tài sản cố định
TSV Hội chứng bệnh virus taura trên tôm chân trắng
USD Đô la Mỹ
WSSV Hội chứng bệnh đốm trắng
WTO Tổ chức thương mại thế giới
sở hạ tầng và đặc biệt là vấn đề quy hoạch vùng nuôi, quản lý môi trường và dịch bệnh
còn nhiều bất cập, nghề nuôi tôm chân trắng đang bộc lộ tính thiếu bền vững [20].
Với câu hỏi nghiên cứu đặt ra là Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng quy mô
nhỏ tại Quảng Ninh đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội như thế nào? Và nhằm có một cái
nhìn tổng quát, đánh giá đúng mức về hiện trạng và vai trò của nuôi tôm chân trắng
quy mô nhỏ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Điều tra hiện trạng kỹ thuật và
đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại
Móng Cái - Quảng Ninh 2 Ý nghĩa của đề tài
Thành công của đề tài sẽ góp phần cho các nghiên cứu về quy hoạch vùng nuôi,
định hướng chiến lược phát triển nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ninh.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Điều tra thực trạng nghề nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ nhằm đánh giá hiệu
quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi tôm chân trắng tại thành phố Móng Cái - tỉnh
Quảng Ninh.
Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá được hiện trạng của việc nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại Móng
Cái - Quảng Ninh.
Đánh giá được hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi tôm chân trắng tại Móng
Cái - Quảng Ninh.
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển các mô hình nuôi tôm chân trắng quy
mô nhỏ tại Móng Cái - Quảng Ninh.
Nội dung nghiên cứu
Điều tra hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại Móng Cái
rộng sang các quốc gia khác, đặc biệt phát triển mạnh ở các nước châu Á. Các nước nuôi
nhiều tôm chân trắng hiện nay là Thái Lan, Trung Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Philippin,
Êcuađo, Mêhicô, Panama, Hundurat, Braxin, Mỹ, Columbia [97,75,80].
Do có khả năng kháng bệnh cao nên loài tôm này đã được phát triển nuôi mạnh
ở châu Mỹ từ cuối thập kỷ 80, nhưng đến năm 1989 dịch bệnh IHHNV bùng phát trên
tôm chân trắng ở các nước Nam Mỹ, gây thiệt hại lớn cho các quốc gia này [82,83]. Tới
những năm 90 tôm chân trắng đã chiếm ưu thế với trên 70% tổng sản lượng tôm nuôi tại
các quốc gia châu Mỹ. Cũng trong thập kỷ 90 ngành nuôi tôm chân trắng ở châu Mỹ
phải trải qua hai đợt dịch bệnh đó là dịch Taura và đại dịch đốm trắng, trong đó hội
chứng Taura đã gây thiệt hại cho ngành nuôi tôm chân trắng ở châu Mỹ Latinh trong
thập niên 1999 khoảng 1 - 1,3 tỷ USD [70]; Ecuador thiệt hại khoảng 30% sản lượng
tôm chân trắng nuôi năm 1992 [73]. Tới năm 2002, tình hình nuôi tôm chân trắng ở
châu Mỹ dần ổn định trở lại và đã đem lại sản lượng đạt 213.000 tấn [70].
Ở châu Á, tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) được đưa vào nuôi trên cơ sở
thử nghiệm vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước [23], đến năm 1996 L.vannamei
được nhập vào Châu Á để nuôi thương phẩm, bắt đầu là tại Trung Quốc đại lục, Đài
Loan và sau đó được mở rộng tới các quốc gia khác [25]. Tổng sản lượng tôm chân
trắng năm 2002 của châu Á đạt xấp xỉ 316.000 tấn. Năm 2003, chỉ tính riêng quốc gia
Trung Quốc sản lượng tôm chân trắng là 605.259 tấn [4, 64]. Đến năm 2004 tôm chân
trắng đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở những quốc gia châu Á và đã đưa tổng sản
lượng tôm chân trắng thế giới tăng lên nhanh chóng, đạt 1.297.935 tấn. Đến năm 2006
đạt trên 2.090.935 tấn [87]. Sản lượng tôm chân trắng của Thái Lan là 500.000 tấn 4 (2006) và 700.000 tấn (2007). Theo FAO năm 2007, 85% sản lượng tôm chân trắng
nuôi thế giới tập trung ở các nước Đông Nam Á [4].
Qua các năm phát triển nuôi sản lượng tôm chân trắng trên thế giới không ngừng
4484169
5857430
7720509
8815854
0
1000000
2000000
3000000
4000000
5000000
6000000
7000000
8000000
9000000
10000000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Năm
Giá trị (USD)
(Nguồn: Fao 2007, Fishery and Aquaculture Statistics)
Biểu đồ 1. 2: Diễn biến giá trị tôm chân trắng thế giới 2001 - 2007 5 Mặc dù tôm chân trắng không phải là loài tôm bản địa ở các nước trong khu vực
châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, …song các quốc gia này cũng đã có rất
nhiều tiến bộ trong lĩnh vực phát triển công nghệ, kỹ thuật nuôi và đạt được những
thành tựu đáng kể như thu được sản lượng, năng suất cao, ổn định và đang hướng tới
6 đổi để quản lý môi trường ao nuôi tốt hơn, nhằm hạn chế dịch bệnh. Ngoài ra các quốc
gia khác cũng đang phát triển nuôi tôm chân trắng như Malaysia, Ấn độ, Philippin,
Tuy nhiên, các quốc gia châu Á này vẫn luôn cảnh giác với các vấn đề về môi trường,
dịch bệnh, con giống, thức ăn,…và thực tế nhiều nước đã và đang phải đối phó, giải
quyết những vấn đề đó nhằm xây dựng và phát triển lĩnh vực sản xuất, nuôi tôm chân
trắng bền vững.
Cùng với nghề nuôi tôm chân trắng phát triển một cách nhanh chóng, hoạt động
chế biến tôm chân trắng trên thế giới cũng đạt mức khá cao. Nếu như năm 1993, tổng
sản lượng tôm chân trắng chế biến của thế giới chỉ đạt 109.397 tấn thì đến năm 2003
con số này là 723.858 tấn, trong đó châu Á đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng
trưởng này. Những quốc gia có sản lượng tôm chân trắng chế biến lớn nhất phải kể đến
là Trung Quốc, Thái Lan, Brazil và Ecuador [80]. Mặc dù tôm chân trắng mang lại hiệu
quả cao cả về mặt kinh tế và xã hội trên toàn cầu, song để đạt được điều này nhiều quốc
gia đã phải đối mặt với không ít khó khăn các vấn đề về môi trường nuôi, thiên tai và
bệnh dịch. Đặc biệt, những năm 90 của thế kỷ trước, khi tôm sạch bệnh (SPF) chưa ra
đời, bệnh dịch đã tràn lan gây thất thu nghiêm trọng [29].
Trước năm 2000-2002, nhiều nước châu Á đã tìm cách hạn chế phát triển nuôi
tôm chân trắng do lo sợ lây bệnh cho tôm sú. Nhưng sau đó, lợi nhuận cao và những
ưu điểm rõ ràng nên các nước đều phát triển nuôi tôm chân trắng tự phát và rồi mới
chính thức cho phép. Một số bệnh nguy hiểm chủ yếu đã gây thiệt hại lớn đối với tôm
chân trắng như: Hội chứng Taura (TSV), bệnh được phát hiện đầu tiên tại các trại nuôi
tôm chân trắng dọc bờ sông Taura (Ecuador) năm 1992, tại Peru năm 1993; Colombia,
Honduraz, El Salvadoz, Hawaii, Florida and Brazil năm 1994; Mexico, Texas, và Nam
Carolina năm 1995-96 [61,72] và tại một số nước vùng Châu Á như Trung Quốc năm
1999; Đài Loan, Thái Lan và Indonesia năm 2003; Malaysia và Việt Nam năm 2004
[69]. Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu (IHHNV) được phát hiện đầu tiên trên tôm chân
trắng tại khu vực Châu Mỹ năm 1981, ở Châu Á-Thái Bình Dương bệnh đã xuất hiện
cỡ trung bình 0,2-1,0 ha/ao. Đây là kích cỡ phù hợp để việc quản lý ao nuôi có hiệu quả
và giảm được chi phí đầu tư ban đầu. Theo thống kê của Văn phòng quốc gia Thái Lan
cho thấy 37% hộ nuôi tôm là ở quy mô nhỏ với diện tích nuôi nhỏ hơn 0,8 ha, 28% có
diện tích từ 0,8 - 1,6 ha, 24% là 1,6 - 4,8 ha và trên 4,8 ha chiếm 11% [78].
Ở Indonesia nuôi tôm chân trắng bán thâm canh và thâm canh được tiến hành ở
cả 3 dạng quy mô: nhỏ, vừa và quy mô lớn. Quy mô nhỏ với diện tích trang trại trung
bình khoảng 5 ha/trang trại. Mỗi trang trại trung bình chỉ có 3 ao và đa số được quản
lý bởi một số người chung vốn với nhau. Những người chủ thực sự của trang trại nuôi
thường là người ở nơi khác. Đa số các trang trại nuôi bán thâm canh sẽ có một số diện
tích nuôi theo công nghệ thâm canh. Đối với quy mô vừa có diện tích ao khoảng 5-40
ha/trang trại. Các ao nuôi thâm canh trong trang trại thường được thả giống ở mật độ 8 trên 25 PL/m
2
và quá trình nuôi đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ môi trường nước ao, mật
độ động vật phù du, thực vật phù du và lượng thức ăn để đảm bảo môi trường nuôi tối
ưu nhất nhằm giảm tối đa các yếu tố bất lợi cho động vật nuôi. Thức ăn công nghiệp
được sử dụng ngay sau khi thả giống và ban đêm có sục khí. Tuy nhiên, việc đầu tư
bài bản và khép kín từ khâu sản xuất và ương giống, cung ứng thức ăn và mua sắm
trang thiết bị cho các trang trại nuôi thâm canh và bán thâm canh thường chỉ được tiến
hành ở các trang trại quy mô vừa và lớn còn với các trang trại quy mô nhỏ ít có điều
kiện để đầu tư [61].
2.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam
Tôm chân trắng là loài tôm he ngoại lai duy nhất được nhập vào Việt Nam,
lần đầu tiên nhập từ Đài Loan vào nuôi thử ở Bạc Liêu từ tháng 1 năm 2001. Năm
2003 diện tích tôm chân trắng cả nước đạt 691 ha [54], năm 2004 là 1.600 ha, sản
hoặc hiệu quả kinh tế thấp đã làm cho hoạt động nuôi loài tôm này đã giảm hẳn như
Ninh Bình, Cà Mau [55,86].
4002
691
1600
1598
5446
14895
16611
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000
18000
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Năm
Diện tích (ha)
Nguồn [22,54,55]
Biểu đồ 1. 3: Diễn biến diện tích nuôi tôm chân trắng cả nước 2003 - 2009
Kể từ khi du nhập tôm chân trắng vào nuôi thương phẩm tại Việt nam cho tới năm
2007 nuôi tôm chân trắng phát triển chủ yếu tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung [56].
Tuy nhiên, bước sang năm 2008 tôm chân trắng được phép nuôi trên phạm vi cả nước
[2,3] đã làm diện tích nuôi tôm chân trắng tăng lên nhanh chóng và đạt 16.611 ha vào
năm 2009 [21].
nghị, hội thảo. Theo kết quả báo cáo khoa học đề tài đánh giá và phân tích cơ sở khoa
học của phát triển nuôi bền vững tôm chân trắng ở Việt Nam [26] cho thấy vốn đầu tư,
chất lượng con giống và kỹ thuật nuôi là khó khăn lớn nhất người nuôi gặp phải .
Đánh giá về trình độ công nghệ nuôi tôm ở Việt Nam so với các nước trong
khu vực như trung Quốc, Thái Lan, Indonesia Báo cáo của Cục NTTS (2009) cho
rằng, trình độ công nghệ nuôi tôm (bao gồm các tiêu chí như: cơ sở hạ tầng, thiết bị
công nghệ, quy trình công nghệ, nhân lực, hiệu quả kinh tế) của các địa phương mới ở
mức trung bình, và trung bình khá. Tuy nhiên, để nâng cao năng suất tôm nuôi, nhiều
diện tích nuôi tôm sú kém hiệu quả đã chuyển sang nuôi tôm chân trắng [22]. Từ
những thông tin trên cho thấy, tôm chân trắng đang dần trở thành đối tượng tôm nuôi
chủ lực xuất khẩu ở Việt Nam, điều này cũng phù hợp với nhu cầu phát triển của thị
trường trong khu vực và quốc tế.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tại các khu vực nuôi tôm chân trắng vẫn
luôn phải đối phó với những khó khăn trong việc quản lý môi trường, dịch bệnh. Bộ
Thuỷ Sản (trước đây) cảnh báo từ năm 2004 khi nuôi tôm chân trắng sẽ có thể mắc hội
chứng Taura và các bệnh thường gặp ở tôm sú như WSSV, YHV, MBV… và có thể lây 11 nhiễm sang đối tượng tôm nuôi khác sẽ làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất thuỷ sản
và môi trường tự nhiên [10].
Năm 2004, dịch bệnh đốm trắng trên tôm chân trắng đã xảy ra và gây chết tôm
hàng loạt ở nhiều địa phương như: Quảng Nam (20 ha), Bình Định (20 ha), Quảng
Ngãi (16 ha), Phú Yên (49 ha). Năm 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng bị thiệt hại do
bệnh là 2.196 ha, chiếm 13,2% tổng diện tích nuôi tôm chân trắng của cả nước, cao
hơn 9,5% so với cùng kỳ năm 2008 (470 ha, chiếm 3,7%). Qua đó đã gây thiệt hại
khoảng 243 triệu con giống với giá trị khoảng 7 tỷ đồng. Trong đó Khánh Hòa và
Quảng Ninh là hai tỉnh bị thiệt hại nhiều nhất với 1.732 ha, chiếm 83,4 % tổng diện
từ 150-300 con/m
2
, cỡ giống thả PL8-10, kích cỡ tôm thu hoạch 100-150 con/kg, hệ số
thức ăn (FCR) 1,2-1,4. Năng suất nuôi không ổn định, có thể đạt đến 18-20 tấn/ha/vụ
nhưng nhiều khi mất trắng, năng suất bình quân năm dao động từ 3,5-5,5 tấn/ha [54].
Như vậy,nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ có thể được hiểu là các hệ thống nuôi
có mức đầu tư hạn chế về tài sản cũng như chi phí hoạt động, bao gồm ở đó phần lớn
là sử dụng lao động gia đình. Các hệ thống nuôi thuỷ sản quy mô nhỏ là nguồn sống
chủ yếu của người dân. Họ đã đã đầu tư phần tài sản, sinh kế đáng kể (về thời gian, lao
động, cơ sở hạ tầng và vốn) vào hệ thống nuôi tuy nhiên về phương diện quản lý chưa
được tổ chức một cách chuyên nghiệp, chính thức như một doanh nghiệp.
2.3 Tình hình nuôi tôm chân trắng và một số vấn đề kinh tế xã hội Quảng Ninh
* Tình hình nuôi tôm chân trắng ở tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc với 250 km bờ biển kéo dài từ Móng
Cái tới Yên Hưng, tạo ra hàng vạn ha diện tích vùng triều để phát triển nuôi trồng thuỷ
sản, đặc biệt là nuôi tôm vùng nước lợ.
Nghề nuôi tôm nước lợ ở tỉnh Quảng Ninh bắt đầu phát triển từ những năm 90
của thế kỷ trước. Tuy nhiên, hình thức chủ yếu là quảng canh và quảng cải tiến với đối
tượng nuôi chính là tôm Sú và tôm Rảo. Đến năm 2000 nghề nuôi tôm đã phát triển
mạnh trên địa bàn toàn Tỉnh. Cũng bắt đầu từ năm này đối tượng tôm chân trắng đã
được du nhập vào nuôi tự phát tại mô số hộ nuôi nhỏ ở khu vực Móng Cái sau đó tôm
chân trắng đã phát triển nhân rộng trong toàn tỉnh cho đến nay [20].
Trong khoảng thời gian từ năm 2002 - 2004, nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh
bước đầu có nhiều khởi sắc về năng suất, sản lượng, tuy nhiên cũng giống như nhiều
vùng nuôi tôm chân trắng trên cả nước, các cơ sở nuôi tại đây cũng gặp nhiều vấn đề
về vốn đầu tư, công nghệ kỹ thuật, hình thức nuôi, quy hoạch và thuỷ lợi cho vùng
nuôi, Năm 2002 tổng diện tích nuôi tôm chung toàn tỉnh là 9.821 ha, nuôi tôm chân
trắng lúc này mới chỉ khoảng trên 30 ha tập trung ở một số mô hình nuôi công nghiệp
với năng suất đạt từ 5 - 12 tấn/ha. Đến năm 2003, các mô hình nuôi tôm chân trắng
tiếp tục được phát triển nuôi mở rộng và cũng cho hiệu quả cao hơn với năng suất đạt
Năm
Diện tích (ha)
Tổng DT tôm nuôi Diện tích TCT
Nguồn [24,48, 49, 50, 51]
Biểu đồ 1. 4: Diện tích nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh từ 2005 – 2009
Qua việc tổng hợp số liệu báo cáo của ngành Thuỷ sản từ năm 2005 đến năm
2009 cho thấy diện tích nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh đã tăng lên rất nhanh so với
diện tích nuôi tôm chung. Nếu trong năm 2005 diện tích nuôi tôm chân trắng là 1.350 ha
chiếm 13,67% thì chỉ qua bốn năm, đến năm 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng đã đạt
4.050 ha chiếm 42,9% diện tích tôm nuôi của toàn tỉnh. Việc diện tích tôm chân trắng
tăng nhanh chóng trong khoảng thời gian ngắn do đã có nhiều hộ nuôi tôm sú và nhiều
ruộng đất cấy lúa kém hiệu quả được chuyển đổi sang nuôi tôm chân trắng [20].
Song song với việc mở rộng diện tích, sản lượng tôm chân trắng nuôi cũng liên
tục tăng lên qua các năm.
6368
4310
5300
6690
7000
4772
4500
4340
2670
2500
0
1000
2000
3000
4000
những vùng miền khác trong cả nước. Những vấn đề về quản lý, con giống, nguồn
vốn, môi trường - bệnh và công nghệ kỹ thuật nuôi vẫn là vấn đề luẩn quẩn, là nguyên
nhân của mọi kết quả không thành công. Trong khi đó, nuôi tôm chân trắng quy mô
lớn thường giữ được sự ổn định về năng suất và sản lượng [20].
Nghề nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh đã và đang phát triển nhanh mạnh,
hàng năm tạo ra lượng sản phẩm lớn phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, giải quyết
việc làm và tạo thu nhập cho nhiều lao động nông, ngư dân. Song, bên cạnh ưu điểm
đem lại lợi nhuận cao thì rủi ro trong nghề nuôi tôm chân trắng cũng rất lớn. Do từ ban
đầu tôm chân trắng được du nhập vào Quảng Ninh nuôi thương phẩm đã phát triển
theo hướng tự phát, thiếu quy hoạch. Các vấn đề về kỹ thuật nuôi, nguồn cung ứng con
giống hạn chế chưa phù hợp; việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng nuôi không
đồng bộ, do đó nguồn nước thải không được xử lý triệt để. Hậu quả môi trường bị ô
nhiễm, dịch bệnh xẩy ra làm cho năng suất và sản lượng không ổn định, hiệu quả sản
xuất bấp bênh, nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp nuôi bị thua lỗ kéo dài [20].
Năm 2004, do ở nhiều địa phương người dân thả giống sớm, gặp thời tiết lạnh
nên tôm bị chết; một số vùng do hệ thống kênh mương cấp và thoát nước quá ít và bố trí
chưa phù hợp nên đã xuất hiện dịch bệnh, chết hàng loạt (Tiên Yên 70 ha, Móng Cái
145 ha,…). Đến năm 2005, 2006, thời tiết diễn biến khá phức tạp: trời rét, nắng nóng và 15 mưa lớn kéo dài làm ảnh hưởng các vùng nuôi gây chết tôm nuôi hàng loạt ở nhiều địa
phương như Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Vân Đồn, nhiều hộ dân phải thu
hoạch sớm trước thời gian, sản lượng thấp, năng suất nuôi bình quân đạt thấp, doanh thu
kém. Năm 2006 theo số liệu thống kê, toàn tỉnh có khoảng 150 ha tôm chân trắng nuôi
bị bệnh, chủ yếu là bệnh đốm trắng, vàng mang, nhiễm bệnh Vibrio … tôm chết tập
trung ở giai đoạn từ 1,5 - 2 tháng tuổi, một số hộ dân phải thu hoạch sớm trước thời gian
[45,46,47,48,49]. Sở Thuỷ sản Quảng Ninh chỉ đạo các cơ quan chức năng phối với các
* Một số vấn đề kinh tế, xã hội tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam; phía Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn,
Bắc Giang; phía Đông và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ và Thành phố Hải Phòng; phía
Bắc giáp nước Trung Quốc với đường biên giới chung dài 132,8 km với 3 cửa khẩu
thương mại, trong đó có Cửa khẩu Quốc tế Móng Cái, với chiều dài toàn tỉnh là 268 km
và chiều rộng 84 km.
Quảng Ninh có diện tích tự nhiên 611.081,3 ha chiếm 1,85% diện tích đất tự
nhiên toàn quốc. Quảng Ninh là một tỉnh gồm cả vùng núi và hải đảo, có bờ biển dài
250 km, diện tích các hải đảo 980 km, diện tích vùng nội thuỷ rộng trên 6.000 km
2
; có
vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long được tạo bởi gần 2.000 hòn đảo lớn nhỏ. Tổng
diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản tính đến năm 2007 là 19.041 ha, với bình quân
GDP/đầu người của tỉnh năm 2004 vào khoảng 605 USD [24].
Vị trí địa lý thuận lợi với nguồn lợi tự nhiên phong phú và đa dạng để Quảng
Ninh phát triển kinh tế- xã hội; trong đó có phát triển kinh tế thuỷ sản. Gắn với Thủ đô
Hà Nội và các thành phố lớn của khu vực kinh tế trọng điểm Bắc bộ như Hải Phòng, Hải
Dương, Quảng Ninh là “cửa ngõ” của vùng Đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi
phía Bắc ra biển và nối vùng duyên hải Nam Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái.
Hoạt động kinh tế địa phương gồm: lâm nghiệp, các hoạt động kinh tế biển, có
hệ thống giao thông thuận tiện, có các cửa khẩu quốc gia và quốc tế, và du lịch. Vịnh
Hạ Long và một số danh lam thắng cảnh khác hiện đã được khai thác triệt để để phát
triển du lịch.
Tổng dân số của tỉnh khoảng 1.113.000 người, trong đó tổng số lao động nghề
cá trong tỉnh hiện có 27.800 người, trong đó lao động khai thác là 4.159 người (1.267
hộ), lao động nuôi trồng là 1.959 người (958 hộ), còn lại là lao động chế biến và các
dịch vụ kèm theo (năm 2007). Về phân bố lao động theo giới, lao động nữ chiếm là
13.600 người chiếm 49% tổng số lao động nghề cá [24].
Các đơn vị hành chính của Quảng Ninh bao gồm 12 huyện thị và 02 thành phố là
Hạ Long và Móng Cái. Trong đó, Thành phố Móng Cái nằm ở phía Đông Bắc tỉnh