Đề tài nghiên cứu: Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh qua các bài toán về phương trình và hệ phương trình ở trường trung học phổ thông - Pdf 22

MỤC LỤC
Mục lục . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . i
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1. Tư duy . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.2. Tư duy sáng tạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.3. Một số yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo . . . . . . . . 9
1.3.1. Tính mềm dẻo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.3.2. Tính nhuần nhuyễn . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.3.3. Tính độc đáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
1.3.4. Tính hoàn thiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
1.3.5. Tính nhạy cảm vấn đề . . . . . . . . . . . . . . . . 15
1.3.6. Vận dụng tư duy biện chứng để phát triển tư duy
sáng tạo cho học sinh . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
1.4. Tiềm năng của các bài toán về phương trình và hệ phương
trình trong việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh . 19
1.5. Kết luận chương 1 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
Chương 2. MỘT SỐ NỘI DUNG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH
VÀ HỆ PHƯƠNG TRÌNH THEO ĐỊNH HƯỚNG RÈN
LUYỆN TƯ DUY SÁNG TẠO 22
2.1. Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh qua các bài toán
về phương trình và hệ phương trình giải bằng phương pháp
đánh giá giá trị hai vế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 22
2.1.1. Nội dung của phương pháp đánh giá giá trị hai vế . 22
2.1.2. Ví dụ minh họa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
2.2. Xây dựng hệ thống bài toán gốc giúp học sinh qui lạ về quen 28
2.3. Khuyến khích học sinh tìm ra nhiều cách giải cho một
phương trình, hệ phương trình . . . . . . . . . . . . . . . . 31
2.4. Rèn luyện tư duy sáng tạo thông qua việc hướng dẫn học
sinh xây dựng phương trình và hệ phương trình mới . . . . 43
2.4.1. Xây dựng phương trình giải được bằng cách đưa về

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết trung ương Đảng khoá VII đã nhận định rằng: “Con người
được đào tạo thường thiếu năng động, chậm thích nghi với nền kinh tế xã
hội đang đổi mới”, từ đó chỉ đạo chúng ta phải đổi mới giáo dục và đào
tạo, đổi mới phương pháp giáo dục. Điều 24.2 trong Luật Giáo dục ghi
rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học;
bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
học sinh ”.
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã khẳng định: “Phải đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm
bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh
viên đại học”.
Những qui định này phản ánh nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục
hiện nay nhằm đào tạo những con người có đủ trình độ và kĩ năng tham
gia quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xã hội ngày nay
đang phát triển với tốc độ chóng mặt, lượng thông tin bùng nổ. Cùng với
đó, nó đòi hỏi con người phải có tính năng động và có khả năng thích nghi
cao với sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt khoa học kĩ thuật, đời sống
Như vậy rèn luyện khả năng sáng tạo cho học sinh là nhiệm vụ quan
trọng, cấp thiết của nhà trường phổ thông.
Mặt khác, Toán học là môn khoa học cơ bản, là công cụ để học tập và
nghiên cứu các môn học khác. Toán học có vai trò to lớn trong sự phát
triển của các ngành khoa học kĩ thuật. Nó liên quan chặt chẽ và có ứng
dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và đời
sống.

- Các tài liệu sách báo, bài viết phục vụ cho đề tài.
3.2. Điều tra, quan sát
Dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trong quá
trình khai thác các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập và hệ thống
bài tập chọn lọc.
3.3. Thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm với các lớp học thực nghiệm và lớp học
đối chứng trên cùng một đối tượng.
4. Phạm vi đề tài
Nghiên cứu các bài tập về phương trình và hệ phương trình trong chương
trình toán trung học phổ thông. Thời gian: Năm học 2010 – 2011.
5. Đối tượng khảo sát
Học sinh các lớp 10D1, 10A6, 12A5 trường trung học phổ thông Xuân
Đỉnh, Hà Nội.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu dạy học phương trình và hệ phương trình trong chương trình toán
trung học phổ thông theo các biện pháp đề xuất trong sáng kiến kinh
nghiệm này thì sẽ phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.
3
7. Điểm mới của đề tài
- Trình bày cơ sở lí luận về tư duy sáng tạo
- Thực trạng dạy học môn Toán phần phương trình và hệ phương trình ở
nhà trường phổ thông
- Đề xuất được hai biện pháp dạy học giải phương trình và hệ phương
trình theo hướng phát huy tư duy sáng tạo cho học sinh (kèm theo hai
giáo án cụ thể).
- Kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy đề tài có tính khả thi và hiệu
quả
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho đồng nghiệp
và cho những ai quan tâm đến dạy học bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học

Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hoá, phân tích và
tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết
chung, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm. Kết quả của quá trình
tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó".
Từ đó ta có thể rút ta những đặc điểm cơ bản của tư duy.
• Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản
ánh tích cực thế giới khách quan.
• Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể
hiện qua ngôn ngữ.
• Bản chất của tư duy là ở sự phân biệt, sự tồn tại độc lập của đối
tượng được phản ánh với hình ảnh nhận thức được qua khả năng
hoạt động của con người nhằm phản ánh đối tượng.
• Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo.
• Khách thể trong tư duy được phản ánh với nhiều mức độ khác nhau
từ thuộc tính này đến thuộc tính khác, nó phụ thuộc vào chủ thể là
con người.
1.2. Tư duy sáng tạo
Theo định nghĩa trong từ điển thì sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải
quyết vấn đề mới không bị gò bó và phụ thuộc vào cái đã có. Nội dung
của sáng tạo gồm hai ý chính có tính mới (khác cái cũ, cái đã biết) và có
lợi ích (giá trị hơn cái cũ). Như vậy sự sáng tạo cần thiết cho bất kỳ hoạt
động nào của xã hội loài người. Sáng tạo thường được nghiên cứu trên
nhiều phương diện như là một quá trình phát sinh cái mới trên nền tảng
cái cũ, như một kiểu tư duy, như là một năng lực của con người.
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tư duy sáng
tạo. Theo Nguyễn Bá Kim: "Tính linh hoạt, tính dộc lập và tính phê phán
là những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về
6
những mặt khác nhau của tư duy sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy thể
hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng

làm của người giải có thể là sáng tạo một cách gián tiếp, chẳng hạn lúc ta
để lại một bài toán tuy không giải được nhưng tốt vì đã gợi ra cho người
khác những suy nghĩ có hiệu quả".
Tác giả Trần Thúc Trình đã cụ thể hóa sự sáng tạo với người học Toán:
"Đối với người học Toán, có thể quan niệm sự sáng tạo đối với họ, nếu họ
đương đầu với những vấn đề đó, để tự mình thu nhận được cái mới mà
họ chưa từng biết. Như vậy, một bài tập cũng được xem như là mang yếu
tố sáng tạo nếu các thao tác giải nó không bị những mệnh lệnh nào đó
chi phối (từng phần hay hoàn toàn), tức là nếu người giải chưa biết trước
thuật toán để giải và phải tiến hành tìm hiểu những bước đi chưa biết
trước. Nhà trường phổ thông có thể chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng hoạt
động sáng tạo theo nội dung vừa trình bày.
Theo định nghĩa thông thường và phổ biến nhất của tư duy sáng tạo
thì đó là tư duy sáng tạo ra cái mới. Thật vậy, tư duy sáng tạo dẫn đến
những tri thức mới về thế giới về các phương thức hoạt động. Lene đã chỉ
ra các thuộc tính sau đây của tư duy sáng tạo:
• Có sự tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tình huống sáng
tạo.
• Nhìn thấy những vấn đề mới trong điều kiện quen biết "đúng quy
cách"
• Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết.
• Nhìn thấy cấu tạo của đối tượng đang nghiên cứu.
• Kỹ năng nhìn thấy nhiều lời giải, nhiều cách nhìn đối với việc tìm
hiểu lời giải (khả năng xem xét đối tượng ở những phương thức đã
biết thành một phương thức mới).
8
• Kỹ năng sáng tạo một phương pháp giải độc đáo tuy đã biết nhưng
phương thức khác (Lene - dạy học nên vấn đề - NXBGD - 1977)
• Tư duy sáng tạo là tư duy tích cực và tư duy độc lập nhưng không
phải trong tư duy tích cực đều là tư duy độc lập và không phải trong

này sang hoạt động trí tuệ khác, từ thao tác tư duy này sang thao tác tư
duy khác, vận dụng linh hoạt các hoạt động phân tích, tổng hợp, so sánh,
trừu tượng hoá, khái quát hóa, cụ thể hoá và các phương pháp suy luận
như quy nạp, suy diễn, tương tự, dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang
giải pháp khác, điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại.
Tính mềm dẻo của tư duy còn là năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh
chóng trật tự của hệ thống tri thức chuyển từ góc độ quan niệm này sang
góc độ quan niệm khác, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, gạt bỏ sơ đồ tư
duy có sẵn và xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong
những quan hệ mới, hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất sự vật
và điều phán đoán. Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách
máy móc các kiến thức kỹ năng đã có sẵn vào hoàn cảnh mới, điều kiện
mới, trong đó có những yếu tố đã thay đổi, có khả năng thoát khỏi ảnh
hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm, những phương pháp, những cách
suy nghĩ đã có từ trước. Đó là nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen
thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết.
Như vậy, tính mềm dẻo là một trong những đặc điểm cơ bản của tư duy
sáng tạo, do đó để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ta có thể cho
các em giải các bài tập mà thông qua đó rèn luyện được tính mềm dẻo của
tư duy.
10
1.3.2. Tính nhuần nhuyễn
Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện ở năng lực tạo ra một cách
nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các hình huống, hoàn
cảnh, đưa ra giả thuyết mới. Các nhà tâm lý học rất coi trọng yếu tố
chất lượng của ý tưởng sinh ra, lấy đó làm tiêu chí để đánh giá sáng tạo.
Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng
nhất định các ý tưởng. Số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều
khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo, trong trường hợp này số lượng làm
nảy sinh ra chất lượng. Tính nhuần nhuyễn còn thể hiện rõ nét ở 2 đặc

x ∈ [−4; 6], ta có:

(4 + x)(6 − x) ≤ x
2
− 2x + m
Nói cách khác, m ≥ 6 là điều kiện cần và đủ để bất phương trình đã cho
đúng với mọi x ∈ [−4; 6]
Cách 2. (Phương pháp đồ thị) Đặt y =

(4 + x)(6 − x) ≥ 0 , suy ra
y
2
= 24 + 2x −x
2
⇒ x
2
− 2x + 1 + y
2
= 25 ⇒ (x − 1)
2
+ y
2
= 25
Do đó vế trái của bất phương trình trên là nửa đường tròn tâm tại điểm
I(1; 0) bán kính 5. Ta thấy y = x
2
− 2x + m là parabol có cực tiểu nằm
trên đường thẳng x = 1.
-4 -3 -2 -1 1 2 3 4 5 6
-2

= 6. Vậy điều
12
kiện đặt ra là m ≥ 6.
Cách 3. (Phương pháp chiều biến thiên hàm số)
Đặt t =

(4 + x)(6 − x) =

−x
2
+ 2x + 24. Khi đó bất phương trình đã
cho trở thành:
t
2
+ t −24 ≤ m
Theo bất đẳng thức AM-GM, với mọi x ∈ [−4; 6] ta có:

(4 + x)(6 − x) ≤
(4 + x) + (6 − x)
2
= 5 ⇒ 0 ≤ t ≤ 5
Xét hàm số: f(t) = t
2
+ t −24 trên đoạn [0; 5].
Ta có:f

(t) = 2t + 1 > 0 với mọi t ∈ [0; 5]. Do đó ta có bảng biến thiên:

t


13
• Khả năng tìm ra những hiện tượng và những kết hợp mới.
• Khả năng nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện mà bên
ngoài liên tưởng như không có liên hệ với nhau.
• Khả năng tìm ra những giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp
khác.
Các yếu tố cơ bản trên không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ
mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau. Khả năng dễ dàng chuyển từ
hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều
kiện cho việc tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống
khác nhau (tính nhuần nhuyễn) và nhờ đó đề xuất được nhiều phương án
khác nhau mà có thể tìm được giải pháp lạ, đặc sắc (tính độc đáo). Các
yếu tố này có quan hệ khăng khít với các yếu tố khác như: Tính chính
xác, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề. Tất cả các yếu tố đặc trưng
nói trên cùng góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, đỉnh cao nhất trong các
hoạt động trí tuệ của con người.
Ví dụ 1.3.2. Cho phương trình

x + 1 +

4 − x +

(x + 1) (4 −x) = m (1.1)
Hãy tìm tham số thực m để phương trình trên có nghiệm duy nhất.
Chứng minh. Về nguyên tắc bài toán trên có thể giải bằng một trong bốn
cách đã nêu trong ví dụ 1.3.2. Tuy nhiên, nhờ vào mỗi liên hệ giữa các căn
thức của bài toán ta đi đến lời giải ngắn gọn và đẹp hơn. Ta sẽ giải bài
toán này bằng phương pháp điều kiện cần và đủ.
Điều kiện cần. Nhận thấy rằng nếu x
0

4 − x +

(x + 1) (4 −x) =
5
2
+

10
Theo bất đẳng thức Cauchy-Swatz:

x + 1 +

4 − x ≤

1 + 1

1 + 4 =

10 (1.2)
Theo bất đẳng thức AM-GM:

(x + 1) (4 −x) ≤
x + 1 + 4 − x
2
=
5
2
(1.3)
Cộng theo vế các bất đẳng thức (1.2) và (1.3), ta được:


15
Các yếu tố cơ bản của tư duy sáng tạo nêu trên đã biểu hiện khá rõ ở học
sinh nói chung và đặc biệt rõ nét đối với học sinh khá giỏi. Trong học tập
Toán mà cụ thể là trong hoạt động giải toán, các em đã biết di chuyển,
thay đổi các hoạt động trí tuệ, biết sử dụng xen kẽ phân tích và tổng hợp,
dùng phân tích trong khi tìm tòi lời giải và dùng tổng hợp để trình bày
lời giải. Ở học sinh khá và giỏi cũng có sự biểu hiện các yếu tố đặc trưng
của tư duy sáng tạo. Điều quan trọng là người giáo viên phải có phương
pháp dạy học thích hợp để có thể bồi dưỡng và phát triển tốt hơn năng
lực sáng tạo ở các em.
1.3.6. Vận dụng tư duy biện chứng để phát triển tư duy sáng
tạo cho học sinh
Tư duy biện chứng có thể phản ánh đúng đắn thế giới xung quanh và
nhiệm vụ của người thầy giáo là rèn luyện cho học sinh năng lực xem xét
các đối tượng và hiện tượng trong sự vận động, trong những mối liên hệ,
mối mâu thuẫn và trong sự phát triển.
Tư duy biện chứng rất quan trọng, nó là cái giúp ta phát hiện vấn đề
và định hướng tìm tòi cách giải quyết vấn đề, nó giúp ta cũng cố lòng tin
khi trong việc tìm tòi tạm thời gặp thất bại, những khi đó ta vẫn vững
lòng tin rằng rồi sẽ có ngày thành công và hướng tìm đến thành công là cố
nhìn cho được mỗi khái niệm toán học theo nhiều cách khác nhau, càng
nhiều càng tốt.
Tư duy sáng tạo là loại hình tư duy đặc trưng bởi hoạt động và suy
nghĩ nhận thức mà những hoạt động nhận thức ấy luôn theo một phương
diện mới, giải quyết vấn đề theo cách mới, vận dụng trong một hoàn cảnh
hoàn toàn mới, xem xét sự vật hiện tượng, về mối quan hệ theo một cách
mới có ý nghĩa, có giá trị. Muốn đạt được điều đó khi xem xét vấn đề nào
đó chúng ta phải xem xét từ chính bản thân nó, nhìn nó dưới nhiều khía
cạnh khác nhau, đặt nó vào những hoàn cảnh khác nhau, như thế mới
giải quyết vấn đề một cách sáng tạo được. Mặt khác tư duy biện chứng đã

t
, log
x
8 =
3
t
, log
2
x
4
= t − 2.
Phương trình đã cho trở thành:
t
2
+ t −2 =
15
t
+
25
t
2
⇔ t
4
+ t
3
− 2t
2
− 15t + 25 = 0 (1.6)
Quan sát phương trình (1.6), đây là một phương trình bậc 4 đầy đủ
đối với x. Một cách tự nhiên ta nghĩ đến việc biến đổi để đưa phương

rằng với phương trình chứa tham số, chúng ta có thể tráo đổi vai trò của
ẩn và tham số để đưa phương trình bậc cao về phương trình tích. Vậy có
thể áp dụng cách này để giải bài toán hay không?
Theo dõi tiếp lời giải dưới đây:
Đặt a = 5 khi đó phương trình (1.6) trở thành
a
2
+ 3at −t
2

t
2
− t + 2

= 0 (1.7)
Coi (1.7) là phương trình bậc 2 đối với a. Ta có:
∆ = t
2
(2t + 1)
2
Do đó:
(1.7) ⇔



a =
−3t + t (2t + 1)
2
a =
−3t − t (t + 1)

2
x =
1 ±

21
2
⇔ x = 2
1 ±

21
2
(thỏa mãn điều kiện)
Nhận xét 1.3.1. Khi giải phương trình chứa tham số chúng ta thường
được yêu cầu giải phương trình với một giá trị cho trước nào đó của tham
số. Đây là bài toán quen thuộc, tuy nhiên với phương trình trên hằng số
đã quay ngược lại đóng vai trò là tham số. Vì lẽ đó những phương trình
dạng này thường được giải bằng phương pháp đặc biệt mà ta gọi là phương
pháp hằng số biến thiên.
18
1.4. Tiềm năng của các bài toán về phương trình và
hệ phương trình trong việc bồi dưỡng tư duy
sáng tạo cho học sinh
Trong quá trình học Toán thì kỹ năng vận dụng Toán học là quan trọng
nhất, nhà trường phổ thông không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến
thức Toán học, mà còn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tính độc lập,
sự độc đáo và khả năng sáng tạo.
Các nhà tâm lý học cho rằng: "Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm mà các
phương pháp logic để giải quyết nhiệm vụ là không đủ và gặp trở ngại
hoặc kết quả không đáp ứng được các đòi hỏi đặt ra từ đầu, hoặc xuất
hiện giải pháp mới tốt hơn giải pháp cũ".

dưới những khía cạnh khác nhau. Các bài tập chủ yếu nhằm rèn luyện và
bồi dưỡng tính nhạy cảm vấn đề của tư duy sáng tạo với các đặc trưng:
nhanh chóng phát hiện những vấn đề tìm ra kết quả mới, tạo được bài
toán mới, khả năng nhanh chóng phát hiện ra các mâu thuẫn, thiếu logic.
Chủ đề phương trình và hệ phương trình là một chủ để quan trọng và
hấp dẫn của chương trình toán phổ thông. Việc rèn luyện, bồi dưỡng cũng
như phát triển tư suy sáng tạo cho học sinh luôn gắn liền với việc phát
triển của phương pháp suy luận mà ở cấp độ cao đó là sự phát triển tư
duy đại số.
Như vậy tiềm năng của chủ đề phương trình và hệ phương trình trong
việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh là rất lớn.
1.5. Kết luận chương 1
Trong chương này luận văn đã làm rõ các khái niệm tư duy, tư duy
sáng tạo, nêu được các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo, và vận dụng
được tư duy biện chứng để phát triển tư duy sáng tạo, đồng thời nêu được
tiềm năng lớn của chủ đề phương trình và hệ phương trình trong việc rèn
20
luyện tư duy sáng tạo cho học sinh.
Việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua quá trình dạy
học giải bài tập toán là rất cần thiết bởi qua đó chúng ta giúp học sinh
học tập tích cực hơn và kích thích được tính sáng tạo của học sinh trong
học tập và trong cuộc sống.
Vậy công việc của mỗi giáo viên trong quá trình dạy học là tìm ra được
các phương pháp nhằm phát triển và rèn luyện tư duy sáng tạo cho học
sinh.
21
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ NỘI DUNG DẠY HỌC PHƯƠNG
TRÌNH VÀ HỆ PHƯƠNG TRÌNH THEO ĐỊNH
HƯỚNG RÈN LUYỆN TƯ DUY SÁNG TẠO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status