Tìm hiểu qui trình nuôi thương phẩm tôm he chân trắng Penaeus vannamei (Boone, 1931) tại Kiên Lương Kiên Giang - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia có thế mạnh rất lớn về ngành thủy sản.Với bờ
biển dài 3260 km, kéo dài từ Bắc đến Nam, nằm trong vùng biển Thái Bình
Dương được thiên nhiên ưu đãi , về số lượng và thành phần loài sinh vật ở
biển rất phong phú và đa dạng.
Với lợi thế đó ngành thủy sản Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm tuy
nhiên sự phát triển của nó vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng vốn có, diện
tích nuôi còn ít, các đối tượng nuôi còn hạn chế, chúng ta chỉ tập trung nuôi
những đối tượng quen thuộc và có giá trị kinh tế như tôm sú và một số đối
tượng khác…
Vì vậy những năm gần đây sản lượng của ngành nuôi nuôi giáp xác
của nước ta giảm, chúng ta chỉ có đầu tư nuôi tôm sú mà hiện nay nghề
nuôi tôm sú đang rất bấp bênh do dịch bệnh đốm trắng xảy ra tràn lan và
một số bệnh khác.
Để đảm bảo cho ngành thủy sản phát triển, có đủ sản lượng để cung
cấp nhu cầu cho người tiêu dùng, ngành thủy sản cần có những biện pháp
để giải quyết vấn đề này. Gần đây Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông
Thôn bắt đầu cho phép nhập nội các đối tượng mới nhằm đa dạng hóa đối
tượng nuôi, cung ứng đủ sản phẩm cho thị trường.Và tôm he chân trắng
một loài thủy sản mới đã được nhập nội vào nước ta từ năm 2001 để nuôi
thử nghiệm.Tôm he chân trắng có ưu điểm lớn nhanh, chu kỳ nuôi ngắn phù
hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam.Vì vậy đối tượng này đang là một trong
những hướng đi mới cho nghề nuôi tôm tại Việt Nam.
Được sự cho phép của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn
một số cơ quan địa phương, công ty ở nước ta đã nhập nội đối tượng này để
nuôi thử nghiệm và bước đầu đạt nhiều khả quan.Vì không phải là loài bản
địa mà còn là đối tượng mới ở nước ta nên tôm he chân trắng vẫn chưa
được phổ biến và chưa được biết nhiều về qui trình kỹ thuật nuôi. Do đó
việc xây dựng một qui trình nuôi hoàn chỉnh đối tượng này ở nước ta là rất
cần thiết. Chính vì thế tôi được bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Hải Sản, Khoa Nuôi
Trồng Thủy Sản, Trường Đại Học Nha Trang giao cho thực hiện đề tài: “

Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ bơi lội: Natantia
Họ tôm he: Pennaeidae
Giống: Pennaeus
Loài: Pennaeus Vannamei (Boone, 1913).
Tên tiếng Anh: White leg shrimp.
Tên tiếng Việt: Tôm he chân trắng.
2. Đặc điểm sinh học của tôm he chân trắng.
2.1. Đặc điểm phân bố.
Tôm he chân trắng có nguồn gốc ở ven biển Tây Thái Bình Dương
thuộc châu Mỹ Latinh,từ phía Nam Peru đến phía Bắc Mêhicô. Ở những
vùng biển này quanh năm nhiệt độ trên 20
o
C. Chúng phân bố nhiều ở vùng
biển gần Equado, tại vùng biển Esmieraldes quanh năm đều bắt được tôm
cái mang trứng.
2.2. Đặc điểm hình thái.
Nhìn bên ngoài tôm he chân trắng rất giống với tôm he Trung Quốc
(Penaeus chinensis) và tôm bạc (Penaeus merguiensis). Tôm có màu trắng
đục, trên thân không có đốm vằn, chân bò có màu trắng ngà nên gọi là tôm
chân trắng, chân bơi có màu vàng, các vành chân đuôi có màu đỏ nhạt và
xanh. Vỏ tôm mỏng có thể nhìn thấy đường ruột rất dễ. Râu tôm có màu đỏ
và dài gấp rưỡi lần chiều dài thân. Tôm cái có Thelycum dạng hở. Cá thể
lớn nhất có thế dài tới 23 cm.
3
2.3. Tập tính sống
Trong tự nhiên tôm sống nơi đáy cát, độ sâu từ 0 – 72m, nhiệt độ
nước ổn định từ 25 – 32
o
C, độ mặn từ 28 – 34‰, pH từ 7,7 – 8,3. Tôm

thích hợp cho tôm phát triển là 10 – 40‰.
2.4.3.Oxy hòa tan.
Ngưỡng oxy thấp nhất là 1,2mg/l, tôm càng lớn thì ngưỡng oxy càng
cao dần (với cỡ tôm 2 – 4cm là 2mg/l, cỡ tôm dưới 2cm
là 1,05mg/l),ngưỡng oxy thích hợp 4mg/l.
2.4.4. Tính ăn
Tôm he chân trắng là loài ăn tạp, giống như những loài tôm he khác,
chúng cũng cần một tỷ lệ thích hợp trong thành phần dinh dưỡng
như Protid, Lipid, Glucid, Vitamin, muối khoáng… Dinh dưỡng thiếu hoặc
không cân đối đều ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và sức khỏe của tôm.
Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm he chân trắng rất cao, chúng
đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein cao, 35% Protein được coi là thích
hợp. Tuy nhiên, vẫn thấp hơn tôm sú (40% protein), tôm he Nhật Bản (60%
protein).
Trong ao nuôi, tôm có thể ăn cả những hợp chất hữu cơ, lablab,
các sinh vật đáy, thức ăn công nghiệp, thức ăn tươi sống… nên ruột tôm
luôn có thức ăn. Chúng bắt mồi linh hoạt, khả năng bắt mồi tương đương
nhau cho nên tôm ít bị phân đàn.
2.4.5. Sinh trưởng và tuổi thọ
Tôm he chân trắng có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt ở 2 tháng
nuôi đầu tiên, mỗi tuần có thể tăng 3g với mật độ nuôi 100 con/m
2
tại
Hawaii. Do đó trong quá trình nuôi cần tăng cường lượng thức ăn cho tôm
ngay từ đầu để tận dụng hết khả năng lớn nhanh của tôm, rút ngắn thời gian
nuôi. Sau đó, tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần. Tôm cái thường
lớn nhanh hơn tôm đực. Theo viện Hải Dương Học tại Hawaii, trong điều
5
kiện nuôi thương phẩm với mật độ 100con/m
2

1.Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới
6
1.1. Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Châu Mỹ
Tôm he chân trắng là một trong ba loài tôm được nuôi phổ biến nhất
trên thế giới. Sản lượng tôm he chân trắng chỉ đứng sau sản lượng tôm sú
và là đối tượng nuôi chính trong các loài tôm he ở Nam Mỹ (chiếm hơn
70%) (Wedner và Rosenberry, 1992). Các quốc gia Châu Mỹ như Equado,
Mehico, Panama… là những nước có nghề nuôi tôm he chân trắng phát
triển từ đầu những năm 90.
Equado là nước đứng đầu về sản lượng tôm he chânt rắng tại Nam
Mỹ, năm 1991 đạt sản lượng 103.000 tấn, chủ yếu nuôi bán thâm canh.
Năm 1993 do gặp dịch bệnh (hội chứng Taura), sản lượng giảm chỉ còn 1/3,
sau đó bắt đầu khôi phục lại 1998 đạt 120.000 tấn, 1999 đạt 130000 tấn.
Sau đó lại tiếp tục bị đại dịch đốm trắng và sản lượng chỉ còn 35000 tấn
(2000). Đứng thứ 2 là Mehico với sản lượng 24000 tấn (2000) và Panama là
nước đứng thứ 3 với sản lượng 10000 tấn (1999).
Bảng 1.1. Sản lượng tôm he chân trắng ở Châu Mỹ
Năm 1994 1995 1997 1998 1999 2000
107 140 169 191 140 190
Từ những năm 1970, tôm he chân trắng được đưa đến các đảo trên
Thái Bình Dương để nghiên cứu về tập tính sinh sản và khả năng nuôi
thương phẩm. Đến cuối những năm 1970, chúng được đưa đến Hawaii
và bờ biển Đông Thái Bình Dương từ bang South Carolina và Texas đến
vùng Trung Mỹ và Braxin, trở thành đối tượng nuôi chủ yếu trong 20 – 25
năm qua. Tổng sản lượng tôm he chân trắng đã đạt khoảng 213.800 tấn, trị
giá 1,1 tỷ đôla năm 2005.
Năm 1992 đại dịch bệnh bùng phát đối với tôm thẻ chân trắng (hội
chứng Taura) làm giảm sút sản lượng một cách nghiêm trọng ở các quốc
gia Châu Mỹ, gây tâm lý e ngại cho các nhà quản lý ở các quốc gia có ý
định nhập nội loài này để nuôi thử nghiệm và phát triển. Tuy nhiên tôm he

Tổng sản lượng tôm he
chân trắng
Tỷ lệ % tôm he chân
trắng so với TSL tôm
2002 2003 2002 2003 2002 2003
Trung
Quốc
415.000 420.000 272980 300.000 66 71
Thái Lan 260.000 300.000 10.000 120.000 4 40
Việt Nam 180.000 205.000 10.000 30.000 6 15
Philippin 36.000 38.000 3425 5000 10 13
Indonesia 5000 20.000 10 23
Malaisia 23200 27000 1200 3600 5 13
Qua bảng 1.2 ta thấy sản lượng và tỷ lệ phần trăm sản lượng tôm he
chân trắng so với tổng sản lượng của các nước đều tăng. Như vậy tôm he
chân trắng đã trở thành đối tượng phổ biến và ngày càng chiếm ưu thế. Tuy
nhiên một số nước vẫn còn khá dè dặt với đối tượng này như Indonesia,
Việt Nam… và một số nước còn ban hành cấm du nhập kinh doanh loài
tôm này. Và hiện nay luật này đã dần được bác bỏ. Tôm he chân trắng được
du nhập ra nhiều nước trên thế giới và chiếm sản lượng cao nhất, chiếm 2/3
sản lượng tôm nuôi của thế giới.
2.Tình hình nuôi tôm he chân trắng tại Việt Nam
Diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng thủy sản của Việt Nam 2005
dự kiến là 1 triệu ha, nhưng trong thực tế 2003 nước ta đã sử dụng 0,97
triệu ha. Riêng nuôi tôm là 46.000 ha, góp phần quan trọng nâng cao giá trị
kim nghạch xuất khẩu gần 2,3 tỷ USD vào năm 2003. Tuy diện tích nuôi
tôm tăng nhanh mở rộng diện tích nuôi và đa dạng hóa các đối tượng nên
tôm he chân trắng đã được du nhập vào nước ta và bắt đầu nuôi thử nghiệm
ở một số tỉnh như Quảng Ninh, Phú Yên, Bạc Liêu…Tất cả đều cho kết quả
khả quan. Tôm he chân trắng lớn nhanh, thời gian nuôi ngắn, lại thích nghi

nguồn thức ăn trong ao nuôi nên làm giảm được chi phí sản xuất, đồng thời
10
thời gian nuôi tôm he chân trắng ngắn từ 3 – 3,5 tháng, năng suất lại khá
cao đạt từ 6 – 7 tấn/ha. Tuy nhiên, tôm he chân trắng không những mắc
nhiều bệnh của tôm sú mà còn mắc bệnh rất nguy hiểm ( hội chứng Taura)
có thể lây lan sang các đối tượng khác làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản
xuất thủy sản và tới môi trường tự nhiên. Cho nên Bộ Nông Nghiệp & Phát
Triển Nông Thôn đã có chỉ thị số 01/2004/CT – BTS về việc tăng cường
quản lý tôm he chân trắng ở Việt Nam. Theo đó, tôm he chân trắng chỉ
được phép nuôi tại các ao, đầm có sự tách biệt nhằm đảm bảo không lây lan
dịch bệnh cho các đối tượng nuôi khác và bảo vệ môi trường sinh thái.
Theo viện Kinh Tế và Qui hoạch của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển
Nông Thôn cho biết. Tôm he chân trắng tuy có những ưu điểm như thời
gian nuôi ngắn, năng suất cao nên được người dân đầu tư và nuôi trên diện
rộng. Song như vậy không phải đối tượng này không có những khó khăn
như qui trình sản xuất tôm giống đòi hỏi kỹ thuật cao, sức sinh sản của tôm
he chân trắng lại thấp hơn nhiều so với tôm sú cho nên đòi hỏi số lượng lớn
tôm bố mẹ. Mặc dù thừa nhận là đối tượng có sức đề kháng bệnh cao nhưng
trong thực tế cho thấy tôm nuôi với mật độ cao thì tôm vẫn bị bệnh và chết
hàng loạt do bệnh hội chứng Taura gây nên.
Hiện nay viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III là đơn vị duy
nhất được Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn chỉ định: “Nghiên
cứu áp dụng kỹ thuật sản xuất giống và cơ sở khoa học để phục vụ quy
hoạch vùng nuôi tôm he chân trắng”. Hy vọng đề tài này sẽ mở ra những
hướng mới cho nghề nuôi tôm ở nước ta.
3.Tình hình nuôi tôm he chân trắng tại Huyện Kiên Lương.
Tôm he chân trắng đã được được đưa vào Việt Nam cách đây
khoảng 7 năm nhưng vẫn chỉ ở hình thức nuôi thử nghiệm. Tôm he chân
trắng được Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn cho phép nuôi thử
nghiệm ở các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận. Ở các tỉnh ĐBSCL mới

loài tôm khác. Mặc dù chưa có bằng chứng về hội chứng Taura có thể lây
lan sang các loài tôm khác như tôm sú (P. monodon ) và tôm he Trung
Quốc(P.chinensis), nhưng ở Đài Loan đã có báo cáo về sự lây lan sang tôm
12
rảo (Metapenaeus ensis) hoang dã và xuất hiện sự thích ứng về sự di truyền
của loài virus này.
Hội chứng Taura ở tôm he chân trắng có mức độ nghiêm trọng khác
nhau, có thể chia thành hai mức độ:
Thể thứ cấp tính: Thường gặp ở tôm 20 – 40 ngày tuổi. Thể bệnh này
không nguy hiểm lắm và có thể nuôi đến khi thu hoạch.
Triệu chứng của bệnh là thấy tôm chết rải rác quanh ao, tôm vẫn
giữ màu sắc bình thường có khi chuyển sang phớt hồng. Khi nhấc sàng ăn
lên tôm không búng lên ( tôm khỏe sẽ búng ra nhanh khỏi sàng).
Thể cấp tính: Thường xuất hiện ở ao nuôi 50 – 80 ngày tuổi. Tôm bị
bệnh có màu hơi đỏ hoặc đen hồng, gan tụy có màu vàng hơn bình thường,
mang có thể bị sưng. Thường ít thấy tôm chết ven bờ nhưng lại chết nhiều ở
đáy ao. Thể cấp tính rất nguy hiểm, có thể gây chết hầu hết tôm trong 3
ngày.
2. Bệnh do virus đốm trắng gây ra – White Spot Baculovirus ( WSBV):
Đây là bệnh rất nguy hiểm và phổ biến ở các loài tôm biển, trong đó
có tôm he chân trắng. Tác nhân gây bệnh đốm trắng là do Baculovirus,
thuộc loại không có thể ẩn (Non Occlusion body) chứa AND. Bệnh đốm
trắng thường xảy ra trong ao nuôi tôm ở giai đoạn 1 – 2 tháng đầu. Khi bị
bệnh tôm sẽ kém ăn hoặc bỏ ăn, xuất hiện các đốm trắng tròn đường kính
0,5 – 2mm ở mặt trong của vỏ kitin, các đốm trắng này tập trung nhiều ở
giáp đầu ngực và mặt lưng của đốt bụng thứ sáu. Ngoài ra tôm có thể
chuyển thành màu đỏ tối, bệnh đốm trắng có thể gây chết 90 – 95% trong
vòng 5 – 7 ngày.
3. Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu – Infectious Hypodermal and
Hematopoietic Virus (IHHNV)

đồng thời phải quản lý môi trường nuôi tốt, đặc biệt là nguồn nước trước
khi đưa vào nuôi cần qua xử lý theo đúng yêu cầu kỹ thuật
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
14
1. Thời gian nghiên cứu.
Từ ngày 04/06/2009 đến ngày 15/08/2009
2. Địa điểm nghiên cứu.
Trại thực nghiệm Ba Hòn thuộc Trung Tâm Khuyến Ngư – ấp Hòa
Lộc – xã Dương Hòa – huyện Kiên Lương – tỉnh Kiên Giang.
II SƠ ĐỒ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
15
:
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
II. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Qua điều tra phỏng vấn các cán
bộ kỹ thuật tại cơ sở thực tập như:
1.1 Tìm hiểu kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm.
1.1.1Cải tạo ao.
1.1.2 Tuyển chọn tôm giống, mật độ và cách thả tôm giống.
1.1.3 Quản lý và chăm sóc.
16
Hiện trạng nuôi tôm he
chân trắng
Tìm hiểu kỹ thuật
nuôi tôm he chân
trắng
Đánh giá hiệu
quả kinh tế của
vụ nuôi

kiểm tra, 15 ngày kiểm tra 1 lần.
• Phương pháp xác định tỷ lệ sống của tôm
• Ước lượng tỷ lệ sống: Dùng chài có đường kính 4m chài 4 điểm
xung quanh ao và 1 điểm giữa ao. Cứ 15 ngày ước lượng tỷ lệ
sống 1 lần.
• Chế độ phòng và trị bệnh
• Thu hoạch đánh giá hiệu quả kinh tế.
2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập qua sách tham khảo,
các luận văn của khóa trước…vv
3. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường.
3.1 Nhiệt độ (
o
C ): Đo ngày 2 lần ( 6h và 14h) bằng nhiệt kế với độ
chính xác 1
o
C.
3.2. Độ mặn ( S‰): Đo 1 lần/ngày bằng Sali kế ( độ chính xác 1‰).
3.3 pH: Đo 2 lần / ngày bằng test so màu.
3.4 Độ trong (cm): Đo 1 lần/ngày bằng thước gỗ (độ chính xác 0,1 m).
3.5 Độ kiềm (mg CaCO3/L) : Đo 1 lần/tuần bằng text nhỏ giọt.
3.6 Oxy hoà tan (mg/l) : Đo 2 ngày/tuần, 2 lần/ngày (6h và 14h) theo
phương pháp Wikler.
3.7 Màu nước: Quan sát hằng ngày bằng trực quan.
17
III.PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
1.Phương pháp ước lượng tỷ lệ sống:
%100×
×
×
=

: Chiều dài trung bình tại thời điểm t
1
- Khối lượng :
12
12
tt
WW
W
n


=
( g / ngày)

Wn: Sự tăng trưởng khối lượng (g /ngày)
W
2
: Khối lượng trung bình tại thời điểm t
2

W
1
: Khối lượng trung bình tại thời điểm t
1
.
2.2. Phương pháp ước lượng tổng khối lượng tôm trong ao.
M = (m * T * N)/1000
Trong đó:
M: Tổng khối lượng tôm trong ao (kg)
18

000.10×=
S
H
K
Trong đó:
19
H: Sản lượng thu hoạch một vụ
S: Diện tích ao nuôi (ha)
2.5. Xác định trọng lượng tôm.
G = W * P
tb
Trong đó:
G: Trọng lượng tôm (kg)
W: Tổng số lượng tôm trong ao (con)
P
tb
: Trọng lượng trung bình của tôm trong ao(kg)
2.6. Xử lý số liệu bằng chương trình Ms – Ecel version.
20
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1. Vị trí địa lý
Kiên Lương là một huyện duy nhất của tỉnh Kiên Giang có diện tích
gồm hai phần đất liền và hải đảo. Phía Bắc giáp với Campuchia, phía Tây
giáp với thị xã Hà Tiên và vịnh Thái Lan, phía Đông giáp với huyện Tri
Tôn của tỉnh An Giang và huyện Hòn Đất
Huyện Kiên Lương gồm 13 xã Vĩnh Điều, Vĩnh Phú, Sơn Hải,
Dương Hòa,Hòa Điền, Bình An, Bình Trị, Phú Mỷ, Phú Lợi, Tân Khánh
Hòa, Kiên Bình, Hòn Nghệ và thị trấn Kiên Lương
2. Khí hậu

STT
Dụng cụ, Trang
thiết bị
Số lượng
Đơn vị tính
Ghi chú
1 Máy quạt nước 4
Cái Máy được chạy
bằng điện
2 Máy bơm 1 Cái
3 Cân 1 Cái
4 Bè 1
Cái Dùng chủ yếu cho
tôm ăn
5 Lưới thu tôm 4 Cái
6 Thước đo 2
Cây Một loại dài 20 cm
và một loại dài 3m
7 Nhiệt kế 1 Cái
8 Đĩa secchi 1 Cái
9
Các loại chậu,
xô đựng
thức ăn, các loại
vợt
22

Ghi chú

Ghi chú

ký chủ trung gian mang mầm bệnh,cung cấp hệ đệm cho ao và ổn định pH
Tác dụng của việc phơi đáy là làm thoát các khí độc, tiêu diệt một số
mầm bệnh và các vi sinh vật gây hại, tăng cường quá trình oxy hóa các chất
hữu cơ còn xót lại.
Kết hợp với việc cải tạo nền đáy người ta tiến hành gia cố bờ ao,
bờ ao được phủ kín bằng bạt nhằm hạn chế việc rữa trôi đất từ bờ ao,đào
hang của cua, ghẹ…gây rò rỉ , thẩm lậu ao khó khăn trong việc giữ nước.
1.2 Xử lý nước.
24
Sau khi cải tạo nền đáy xong người ta tiến hành lấy nước vào. Nước
được lấy từ sông vào ao chứa và sau đó bơm trực tiếp vào ao bằng máy
bơm qua túi lọc nhằm loại bỏ rác rưởi, cặn bã.
Nước được lấy vào ao để khoảng 2 – 3 ngày cho các loại trứng các
loài động vật theo nước vào trong ao nở ra hết và tiến hành xử lý chlorine
liều lượng 200kg/0,5ha (27ppm). Chlorine trước khi dùng được ngâm vào
nước khoảng 12h rồi mới tạt xuống ao. Dùng Chlorine để xử lý nước thì ta
phải kết hợp với việc chạy quạt nước để phân tán đều chlorine và phơi nắng
khoảng 1 tuần để cho dư lượng Chlorine bay hết vì chlorine rất độc đối với
tôm
1.3 Bón phân gây màu nước
Trong ao nuôi việc gây màu nước và giữ được màu nước thích hợp là
điều rất cần thiết. Dựa vào màu nước trong ao ta có thể đánh giá được chất
lượng nước của ao tốt hay xấu. Bởi màu nước trong ao là do các chất lơ
lửng và các sinh vật sống trong ao tạo nên trong đó thực vật phù du giữ vai
trò quan trọng nhất và nó quyết định nên màu nước của ao, màu nước trong
ao tốt nhất là màu xanh lá cây hoặc màu vàng nâu. Do vậy việc gây màu
nước trong ao là tạo điều kiện cho thực vật phù du phát triển vì nó có vai trò
rất quan trọng như:
• Là nguồn cung cấp oxy chính cho ao nuôi để duy trì sự sống cho tôm
và đẩy nhanh quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong ao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status