LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả điều tra và
nghiên cứu của tôi. Kết quả nghiên cứu này chưa được sử dụng cho bất cứ luận văn
cùng cấp nào khác.
Nha Trang, ngày 01 tháng 09 năm 2011
Ký tên Nguyễn Văn Phát
MỤC LỤC
Lời cam đoan
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Một vài đặc điểm sinh học của tôm he chân trắng 3
1.1.1. Hệ thống phân loại 3
1.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo 3
1.1.3. Đặc điểm phân bố 4
1.1.4. Tập tính sinh sống 4
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.1.6. Đặc điểm sinh trưởng và tuổi thọ 5
1.1.7. Đặc điểm sinh sản 5
1.2. Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1. Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới 6
1.2.2. Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Việt Nam 8
1.2.3 Tình hình nuôi tôm he chân trắng tại Khánh Hòa 9
1.3. Các yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm he chân trắng 9
1.3.1. Yếu tố hữu sinh 9
1.3.2. Yếu tố vô sinh 10
CHƯƠNG 2 13
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 13
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 13
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 14
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu điều tra 14
2.2.4. Phương pháp điều tra 14
3.3.1.2. Điểm yếu 44
3.3.1.3. Cơ hội 45
3.3.1.4. Thách thức 46
3.3.2. Giải pháp 46
Chương 4 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 49
4.1 Kết luận 49
1. Đánh giá hiện trang nghề nuôi tôm he chân trắng ở Khánh Hòa: 49
2. Giải pháp phát triển nghề nuôi tôm he chân trắng ở địa phương gồm các giải
pháp về quy hoạch, Khoa Học Công Nghệ, dịch vụ hỗ trợ và môi trường 50
4.2. Đề xuất ý kiến 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Tôm he chân trắng [23] 3
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 13
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Khánh Hòa (tỷ lệ 1:50.000) 16
Hình 3.2: Tỷ trọng GTSX ngành Thủy sản tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2004 – 2009
(Nguồn niên giám thống kê năm 2009 và tính toán của tác giả) 20
Hình: 3.3 Tỷ lệ nam nữ là chủ hộ nuôi 24
Hình 3.4 Trình độ học vấn chủ hộ nuôi tôm 24
Hình 3.5 Độ tuổi chủ hộ nuôi tôm 25
Hình 3.6 . Số năm nuôi tôm he chân trắng của chủ hộ 26
Hình 3.7 Máy móc thiết bị thường sử dụng trong nuôi tôm 28
Hình 3.8. Cải tạo đáy ao nuôi tôm he chân trắng tại Khánh Hòa 31
Hình 3.9. Ao nuôi đã được chuẩn bị tốt trước khi thả tôm 34
Bảng 3.15 Giá bán kích cỡ thu hoạch, hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi tôm
trong năm 2009 (n=59) 42
Bảng 3.16. Số ngày nuôi để đạt 100 con/kg (n=59) 43
Bảng 3.17. Năng suất và lợi nhuận 4 vùng nghiên cứu (n=59) 43
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ARA : Arachidoric acid
BTC : Bán thâm canh
QCCT : Quảng canh cải tiến
CPSH : Chế phẩm sinh học
DHA : Docosahexaenoic acid
DT : Diện tích
EPA : Eicosapentaenoic acid
GTSX : Giá trị sản xuất
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
P : Postlarvae (ấu trùng Post– tôm bột)
SS : So sánh
TC : Thâm canh
TĐPTBQ : Tốc độ phát triển bình quân
1
nuôi sau mỗi vụ nuôi không được quan tâm, nuôi ào ạt thiếu sự quy hoạch dẫn đến
những hệ lụy đáng kể và nguy cơ rủi ro ngày càng cao đối với nghề đang được đặc
biệt quan tâm này. Nuôi tôm gồm rất nhiều chế độ quản lý nghiêm ngặt, nhưng các
nông hộ lại chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của cá nhân riêng, chưa tuân thủ theo
phương pháp khoa học, điều này sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất, ảnh hưởng lớn đến
nghề nuôi đầy tiềm năng và rất thuận lợi của tỉnh nhà.
2
Từ những lý do trên, được phép của khoa Nuôi trồng Thủy sản – trường Đại
Học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài “Hiện trạng kỹ thuật và đề xuất giải pháp để
phát triển nghề nuôi tôm he chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931) tại
Khánh Hòa”, với nội dung sau:
+ Điều tra hiện trạng và phân tích những đặc điểm kỹ thuật nuôi tôm he chân
trắng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
+ Đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi tôm he chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa.
Những nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
+ Góp phần cung cấp thêm các thông số kinh tế xã hội, kỹ thuật và hiện trạng
nghề nuôi tôm he chân trắng tại Khánh Hòa.
+ Là cơ sở khoa học góp phần giúp cho Sở Nông nghiệp và phát triển nông
thôn Khánh Hòa đề ra các biện pháp kỹ thuật và quản lý, nhằm phát triển
nghề nuôi tôm he chân trắng tại địa phương một cách hợp lý.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một vài đặc điểm sinh học của tôm he chân trắng
1.1.1. Hệ thống phân loại
Tôm he chân trắng nằm trong hệ thống phân loại sau :
P
15
chúng sống trôi nổi ngoài khơi và vùng triều. Giai đoạn thiếu niên di chuyển vào
vùng cửa sông và đến khi tôm trưởng thành chúng sống ở biển [1], [9], [15]. Ban
ngày tôm vùi mình trong bùn, ban đêm mới mò đi kiếm ăn. Tôm thường lột xác vào
ban đêm [9] và khoảng 20 ngày thì lột xác 1 lần [4]. Trong ao nuôi, tôm thích ứng
pH từ 7,5 8,5; dao động một ngày không quá 0,5, độ mặn 10 30‰ [9], [13].
.
Bảng 1.1. Các thông số môi trường sống của tôm he chân trắng ở tự nhiên [4]
Độ sâu (m) Nhiệt độ (
0
C) Độ mặn (‰) pH
072 25 32 28 34 7,7 8,3
Tôm he chân trắng thích ứng rất tốt đối với sự thay đổi đột ngột của môi
trường sống, lên khỏi mặt nước khá lâu vẫn không chết. Tôm sống tự nhiên ở biển
có nhiệt độ ổn định từ 25 32
0
C. Tuy nhiên chúng vẫn thích nghi được khi nhiệt độ
thay đổi lớn. Tôm vẫn sống 100% khi được chuyển từ bể ương có nhiệt độ là 15
0
C
qua bể có nhiệt độ 12 18
0
C. Khi nhiệt độ dưới 9
0
C, tôm chết dần. Khi tăng dần
nhiệt độ lên 41
0
C, tôm dưới 4 cm và trên 4 cm đều chỉ chịu được tối đa 12 giờ rồi
bậc thang, thể hiện sự sinh trưởng không liên tục, kích thước cơ thể giữa hai lần lột
xác tăng lên nhanh chóng. Trong khi đó, sự tăng trưởng về khối lượng dường như
liên tục hơn [15]. Thời gian giữa 2 lần lột xác phụ thuộc nhiều vào sức khỏe của
tôm. Trong điều kiện bình thường thời gian giữa 2 lần lột xác khoảng 10 16 ngày,
khi nhiệt độ xuống thấp khoảng thời gian này sẽ tăng lên theo tỷ lệ nghịch [11].
Tôm he chân trắng lúc nhỏ thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1 2 ngày. Tốc
độ lớn thời gian đầu 3g/ tuần lễ (mật độ nuôi 100con/m
2
), tới cỡ tôm 30g/con tôm
lớn chậm (1g/tuần lễ). Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực. Trong điều kiện
sinh thái tự nhiên, nhiệt độ nước 30 32
0
C, độ mặn 20 40‰ từ tôm bột đến cỡ
tôm thu hoạch trung bình 40g, dài 14 cm thì mất 180 ngày. Tuổi thọ của tôm he
chân trắng ít nhất trên 32 tháng [4].
1.1.7. Đặc điểm sinh sản
Mùa vụ sinh sản: Người ta thường bắt gặp tôm cái ôm trứng quanh năm. Tuy
nhiên, mùa sinh sản còn phụ thuộc vào vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên từng vùng.
Ở ven biển phía bắc Ecuador, tôm đẻ từ tháng 3 8, nhưng đẻ rộ từ tháng 4 5. Ở
Peru, mùa sinh sản từ tháng 12 4 năm sau [4].
Giao vĩ: Tôm he chân trắng là loài có thelycum hở nên tôm thành thục hoàn
toàn mới tiến hành giao vĩ. Buồng trứng tôm thành thục có màu hồng, sau khi đẻ,
trứng có màu đậu xanh. Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng tôm lại phát dục tiếp.
Thời gian giữa hai lần đẻ cách nhau 2 3 ngày (đầu vụ chỉ khoảng 50 giờ). Con cái
đẻ tới 10 lần trong năm, thường sau khi đẻ từ 3 4 lần lột xác 1 lần. Tôm đẻ chủ
yếu vào thời gian từ 9 giờ tối đến 3 giờ sáng. Thời gian từ lúc đẻ đến lúc kết thúc
khoảng 1 2 phút. Các chùm tinh (petasmata) của tôm đực cũng được tái sinh nhiều
6
Bảng 1.2. Các nước có nghề nuôi tôm nước lợ phát triển trên thế giới [17]
Sản lượng tôm nuôi
Tôm biển
Tôm he chân
trắng
Tỷ lệ tôm
chân he
trắng nuôi
(%)
TT
Nước sản
xuất
Năm di
nhập tôm
chân trắng
2002 2003 2002 2003 2002 2003
1 Trung Quốc
1998 415.000
420.000
272.980
300.000
66 71
2 Đài Loan 1995 18.378
38.000
3.425
5.000
10 13
6 Indonesia 2001 100.000
130.000
10.000
30.000
10 23
7 Malaysia 2001 23.200
27.000
1.200
3.600
5 13
8 Ấn Độ 2001 145.000
150.000
1.361.200
1.599.423
1.644.005
2.459.092
3.772.484
4.806150
5.860.434
Tôm he chân trắng có nhu cầu cao trên thị trường và được nuôi phổ biến ở
khu vực Mỹ la tinh, cho sản lượng lớn gần 200 tấn vào năm 1999. Những năm gần
đây, tôm được thuần hóa và nuôi thành công ở Trung Quốc. Một địa phương của
Trung Quốc coi tôm he chân trắng là đối tượng thay thế tôm he Trung Quốc. Năm
2001, tôm he chân trắng do Trung Quốc nuôi đã xuất sang Mỹ với khối lượng lớn
và giá rẻ [17]. Hiện nay tôm he chân trắng được nuôi ở phần lớn các nước trên thế
giới, đặc biệt là châu Á. Tuy nhiên chi phí sản xuất ngày càng tăng, môi trường
nước càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, dịch bệnh thường xuyên xảy ra, gây khó khăn
cho người nuôi [12]. Do đó cần có biên pháp kỹ thuật và mô hình nuôi phù hợp để
đem lại hiệu quả cao hơn.
8
1.2.2. Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Việt Nam
Tôm he chân trắng đă được nhập vào Việt Nam để phục vụ cho nuôi thử
nghiệm ở một số địa phương ở công ty Duyên Hải – Bạc Liêu với con giống được
lấy từ Đài Loan tháng 4/2001. Đến tháng 4/2002, công ty này đã cho đẻ thành công
40 vạn trứng ở Quảng Ninh. Công ty TNHH quốc tế Long Sinh (ở Quảng Ninh, Hải
phòng) cũng đã nhập tôm he chân trắng từ Trung Quốc (3/2001) [13]. Hiện tại, tôm
he chân trắng là đối tượng được lựa chọn nuôi thay thế tôm sú trên các diện tích
nuôi tôm sú kém hiệu quả [13].
Tại Quảng Ninh năm 2002, Công ty Công nghệ Việt Mỹ đã nuôi thử nghiệm
tại Lê Lợi – Hoành Bồ, đạt năng suất 8.4 12.3 tấn /ha/ vụ. Năm 2003, công ty tiếp
900
83
100
100
3700
530
400
2000
1500
700
Năm 2008 diện tích nuôi tôm nước lợ trên cả nước là 60.000 ha đạt sản
lượng 380.000 tấn, chủ yếu là tôm sú theo phương thức thâm canh, bán thâm canh
và quảng canh cải tiến, trong đó phần lớn là nuôi quảng canh cải tiến. Ngoài đối
tượng tôm sú ra, ở các tỉnh ven biển từ miền Trung trở ra phía Bắc đã nuôi tôm he
chân trắng khá thành công trên những diện tích nuôi tôm sú trước đây luôn bị dịch
bệnh. Diện tích nuôi tôm he chân trắng là hơn 14.000 ha đạt sản lượng 41.000 tấn
[20]. Do đặc điểm của tôm he chân trắng là sống ở tầng nước giữa không vùi mình
9
trong bùn như tôm sú nên thích hợp ở chất đáy cát. Thực tế điều tra cho thấy nuôi
tôm he ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ kém hơn miền Trung vì chất đáy bùn và sét
sẽ ảnh hưởng tới việc lấy thức ăn và hoạt động sống, hạn chế sự sinh trưởng của
chúng và nếu nuôi dày sẽ dẫn đến nhiều rủi ro.
1.2.3 Tình hình nuôi tôm he chân trắng tại Khánh Hòa
Theo báo cáo của Sở Thủy sản Khánh Hòa, trong mấy năm gần đây nhiều hộ
nuôi tôm ở Cam Ranh, Nha Trang, Ninh Hòa, Vạn Giã đã có xu hướng chuyển dần
đối tượng nuôi từ tôm sú sang tôm he chân trắng. Nguyên nhân là do con tôm sú
vẫn được coi là chủ lực trong những năm trước đây, nay do dịch bệnh thường xuyên
xảy ra, môi trường ô nhiễm, giá cả xuống thấp, đã không hấp dẫn được người nuôi.
nguồn cung cấp O
2
cho quá trình phân giải hiếu khí các chất thải trong ao [11]. Tuy
nhiên, tảo phát triển quá mức sẽ gây nên hiện tượng tôm nổi đầu do thiếu O
2
cục bộ
vào sáng sớm và pH >9 vào buổi trưa nắng khi tảo quang hợp mạnh [12]. Bên cạnh
đó, tảo còn là nguồn cung cấp thức ăn giàu dinh dưỡng cho tôm và làm thức ăn
trong ao nuôi [13].
Động vật phù du (như Copepoda, Cladocera, Rotatoria…) là nguồn cung cấp
thức ăn giàu dinh dưỡng cho tôm. Chúng cung cấp cho tôm đầy đủ các chất dinh
dưỡng cần thiết nhất, đó là các acid béo không no đa nối đôi như DHA, EPA,
ARA… góp phần nâng cao tỷ lệ sống cho tôm [12].
Vi sinh vật là các sinh vật cuối cùng trong mạng lưới thức ăn trong ao nuôi,
chúng phân hủy và chuyển hóa các chất thải trong ao về dạng dễ hấp thụ đối với
tảo. Tuy nhiên sự phát triển quá mức của vi sinh vật gây hại (nhóm vibrio) sẽ gây
nhiễm bệnh cho tôm (bệnh phát sáng, bệnh nhiễm khuẩn đường ruột) [13].
1.3.2. Yếu tố vô sinh
Yếu tố thủy lý
Nhiệt độ nước: Tôm he chân trắng là loài động vật biến nhiệt. Vì vậy, sự
thay đổi nhiệt độ trong ao đều ảnh hưởng đến đặc điểm sinh lý của tôm. Nhiệt độ ổn
định và thích hợp giúp tôm tăng trưởng nhanh và phát triển tốt. Ngược lại, sự dao
động của nhiệt độ trong ngày càng lớn ảnh hưởng đến năng suất và sức khỏe của
tôm nuôi. Nhiệt độ tối ưu đảm bảo cho sự phát triển tốt của tôm he chân trắng là từ
28 30
0
C [4]. Trong ao nuôi, nhiệt độ phụ thuộc rất nhiều vào mùa vụ, kết cấu
công trình ao nuôi, các biện pháp kỹ thuật [13].
Độ trong: Độ trong của nước ao nuôi dao động trong khoảng 25 50cm và
thay đổi theo độ tuổi của tôm. Khi mới thả tôm vào ao nuôi, độ trong quá cao sẽ ảnh
Yếu tố thủy hóa:
Độ mặn: Đây là yếu tố mà chúng ta có thể điều chỉnh được nếu có nguồn
nước ngọt và nước mặn dự trữ. Độ mặn để nuôi tôm he chân trắng có thể dao động từ
0 30‰. Độ mặn cao thì hàm lượng khoáng trong nước sẽ cao, làm quá trình lột xác
của tôm gặp nhiều khó khăn. Tôm đã tới chu kỳ lột xác mà không lột được thì sẽ
không phát triển và chậm lớn. Hơn nữa môi trường nước mặn sẽ là môi trường thuận
lợi cho vi khuẩn vibrio phát triển, đặc biệt là bệnh phát sáng. Độ mặn thấp dưới 10‰
cũng không tốt vì dễ phát sinh bệnh mềm vỏ vì trong nước ngọt thiếu các chất khoáng
(Na, Ca, Cl, Fe, Cu, P, Mn ). Đây là các khoáng chất cần thiết cho sự tạo vỏ của
tôm, nếu thiếu, chúng sẽ không tạo vỏ được [4]. Độ mặn tốt nhất cho sự phát triển
của tôm chân trắng là từ 10 25‰.
Yếu tố pH: pH có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tôm nuôi. Khi pH
giảm thấp (PH<5) thì giảm khả năng vận chuyển ôxy của hemoglobin. Kết quả làm
giảm khả năng đề kháng của tôm. Khi (pH>9) các tế bào ở mang và mô của tôm sẽ
bị phá hủy [11]. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng gián tiếp thông qua yếu tố NH
3
. pH cao
làm cho tính độc của NH
3
tăng và pH thấp làm tăng độc tính của H
2
S [3]. Sự dao
động của pH trong ngày là thấp vào buổi sáng, cao vào buổi chiều [4]. Điều này liên
quan chặt chẽ tới sự phát triển của tảo trong ao nuôi, sự thay đổi của thời tiết bên
ngoài. Việc quản lý pH cần thông qua việc kiểm soát của tảo và chế độ bón vôi
trong ao nuôi [4].
Độ kiềm: Độ kiềm là chỉ số chủ yếu của nồng độ các ion HCO
-
3
, CO
số BOD càng cao thì chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học càng lớn. Chỉ số
COD càng về cuối vụ càng cao [11].
Khí độc NH
3
: NH
3
tồn tại ở dạng khí NH
3
và dạng ion NH
4
+
.
Tỷ lệ của
chúng tùy thuộc vào PH và nhiệt độ. Khi NH
3
trong ao cao làm cho NH
3
trong dịch
máu tôm khó tiết ra môi trường ngoài. Hàm lượng NH
3
trong máu và mô gia tăng
dẫn dến làm tăng pH máu, từ đó làm rối loạn chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu
của tế bào, phá hủy lớp nhớt ở mang, giảm khả năng vận chuyển của hemoglobin.
Nồng độ cần thiết để tôm sống và phát triển tốt là NH
3
< 0.1 mg/l [11]. Ngoài ra
NH
3
tồn tại ở dạng khí độc khác của hợp chất nitơ như NO
2
-Thời gian thực hiện: Từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011
-Địa điểm: Điều tra và thu mẫu tại các hộ nuôi của 4 vùng nuôi tôm he chân
trắng của Khánh Hòa là Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, Vạn Ninh.
-Đối tượng nghiên cứu: Tôm he chân trắng (Pennaeus vannamei)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Kết luận và đề xuất ý kiến
“Hiện trạng kỹ thuật và đề xuất giải pháp để phát triển nghề nuôi tôm he
trắng ở Khánh Hòa.
- Số liệu sơ cấp: Sử dụng phiếu phỏng vấn đã được soạn sẵn để tiến hành thu
thập thông tin trực tiếp từ các trại nuôi tôm thương phẩm. Nội dung cần phỏng vấn:
+ Thông tin về hiện trạng kỹ thuật nuôi: xử lý ao, mật độ thả giống, quy mô
ao nuôi, quản lý môi trường nước, chất lượng và số lượng thức ăn, vấn đề sử dụng
thuốc hóa chất, chế phẩm sinh học.
+ Các thông tin về tình hình bệnh, tác hại của bệnh và các biện pháp khắc phục.
+ Hiệu quả kinh tế mang lại từ nuôi tôm.
+ Những khó khăn và hướng giải quyết.
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu điều tra
- Điều tra ở cả 4 vùng nuôi tôm he chân trắng trong tỉnh Khánh Hòa là Ninh
Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, Vạn Ninh. Trước hết, căn cứ vào số liệu thứ cấp và số
lượng hộ nuôi được báo cáo tại 4 địa bàn trên, xác định tổng số hộ nuôi tại mỗi địa
phương. Trên cơ sở đó, phân bổ số mẫu về mỗi địa phương tương ứng với khoảng
10% tổng số hộ nuôi (59 mẫu/tổng 568 hộ nuôi). Việc xác định hộ nuôi nào được sử
dụng để thu thập thông tin được thực hiện ngẫu nhiên bằng cách sử dụng hàm ngẫu
nhiên Rand trong Microsoft Excel 2003 (Bảng 2.1).
Bảng 2.1 Phân bố mẫu điều tra ở địa bàn nghiên cứu
Vùng điều
tra
Diện tích
nuôi (ha)
Số hộ nuôi Số mẫu điều tra
Ninh Hòa 573 135 14
Nha Trang 720 145 15
Cam Ranh 775 173 18
Vạn Ninh 550 115 12
Tổng cộng 6281 568 59
2.2.4. Phương pháp điều tra
52’15", Bắc giáp tỉnh Phú Yên,
Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, Tây giáp tỉnh Ðắc Lắc, Lâm Ðồng, Ðông giáp biển
Ðông, có mũi Hòn Ðôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh, là điểm cực Ðông
17
trên đất liền của nước ta. Khánh Hòa bao gồm thành phố Nha Trang, thành phố
Cam Ranh và 7 huyện gồm: Cam Lâm, Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Vĩnh, Khánh
Sơn, Diên Khánh và Trường Sa. Là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có vùng biển rộng
gấp nhiều lần đất liền với hơn 100 hòn đảo lớn, nhỏ và hơn 1.650km
2
đất ngập nước,
hơn 1.000km
2
vịnh, đầm tương đối kín gió, với vùng biển nông rộng 2.432km
2
và hơn
10.000km
2
thềm lục địa. Đó là quỹ mặt nước tiềm năng cho sự phát triển của nghề cá
vùng ven bờ và nuôi trồng hải đặc sản nhiệt đới của tỉnh [22].
Với địa thế như vậy, nên vùng biển Khánh Hòa có nguồn lợi sinh vật biển
phong phú và đa dạng về thành phần loài. Theo các nhà khoa học, ở vùng biển
Khánh Hòa có 600 loài cá khác nhau, trong đó có hơn 50 loài có giá trị kinh tế cao.
Trữ lượng thủy sản vùng biển Khánh Hòa khoảng 150.000 tấn. Ngoài nguồn lợi cá
biển, vùng biển Khánh Hòa còn có các loài giáp xác như tôm hùm, tôm mũ ni, tôm
sú, tôm rảo, các loại cua, các loại nhuyễn thể như mực, ốc nhảy, hàu, vẹm, bào ngư,
các loại rong tảo …, tất cả đều có giá trị kinh tế cao [22].
Tiềm năng diện tích có thể phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) là 27.200 ha,
trong đó gồm nuôi thủy sản nước ngọt 1.200 ha, nuôi thủy sản nước lợ là 5.000 ha,
tháng 3 9, gió Đông Nam và Tây Nam là chủ yếu. Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau,
gió Đông Bắc thịnh hành. Vận tốc gió trung bình là 2 5,8m/s. Bão thường xuất hiện
từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, kéo theo mưa lớn và triều cường. Theo thống kê, hàng
năm có 1, 2 cơn bão đổ bộ vào Khánh Hòa, đa số xuất hiện vào tháng 10 [22].
Động lực vùng nước ven bờ là tác dụng tổng hợp của sóng gió, dòng hải lưu,
thủy triều và sự trao đổi nước. Ngoại trừ một số đầm vịnh, hầu hết vùng nước ven
bờ biển Khánh Hòa có chế độ động lực mạnh quanh năm và mạnh theo mùa gió
Đông Bắc và Tây Nam. Điều này làm tăng khả năng trao đổi nước, làm sạch nước
và làm sạch môi trường, tạo sự phát triển bền vững và ổn định hệ sinh thái tự nhiên
của biển.
Với điều kiện tự nhiên rất thuận lợi như vậy, nên cách đây hàng trăm năm,
các hoạt động nghề cá Khánh Hòa đã sớm hình thành và phát triển. Hơn 10 năm nay
Ngành Thủy sản tỉnh Khánh Hòa đã có tốc độ phát triển nhanh trên mọi lĩnh vực,
đặc biệt là NTTS.
3.1.1.3. Chế độ nhiệt
Khánh Hòa có nền nhiệt độ khá cao. Nhiệt độ không khí trung bình năm là
26.5
o
C, nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 5 và tháng 6 đạt 28
o
C, tháng có nhiệt
độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (24
o
C). Dao động nhiệt độ không khí trong ngày
khoảng 7 8
0
C và giảm dần ở vùng ven biển (5 6
0
C) [22].
3.1.1.4. Chế độ thủy triều