Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh cầu giấy - Pdf 22

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. CVTD : Cho vay tiêu dùng
2. NHTM : Ngân hàng thương mại
3. NHNN : Ngân hàng nhà nước
4. KH : Khách hàng
5. KH CN : Khách hàng cá nhân
6. KH DN : Khách hàng doanh nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
SƠ ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế. Khi
kinh tế đang trên đà phát triển, các ngân hàng ngày càng được khẳng định vai
trò của mình như một kênh dẫn vốn. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân
hàng thúc đẩy các ngân hàng phải đa dạng hóa , nâng cao chất lượng dịch vụ.
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chủ chốt của ngân hàng.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, các ngân hàng đa phần mới chỉ chú trọng đến đối
tượng vay là các doanh nghiệp mà chưa chú trọng đến đối tượng ở khâu cuối
cùng của sản xuất đó là người tiêu dùng. Nếu chỉ chú trọng đến sản xuất mà
không thúc đẩy tiêu dùng sẽ dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu, hàng hóa ứ
đọng do không tiêu thụ được. Như vậy,để thúc đẩy lưu thông hàng hóa, một
mặt ngân hàng cho vay để thúc đẩy sản xuất, mặt khác phải cung cấp dịch vụ
hỗ trợ tiêu dùng.
Thực tế cho thấy rằng, không chỉ các doanh nghiệp cần vốn cho sản
xuất kinh doanh, mở rộng thị trường mà các cá nhân hộ gia đình cũng cần có
vốn để phục vụ cho mục đích tiêu dùng. Kinh tế phát triển, mức sống người
dân được nâng cao dần, giờ đây, người ta không chỉ cần những nhu cầu thiết
yếu là “ăn no, mặc ấm” mà còn đòi hỏi ở mức cao hơn “ăn ngon, mặc đẹp” ,
nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, vui chơi, du lịch… cùng với rất nhiều các
nhu cầu khác. Tuy vậy, không phải lúc nào con người cũng có khả năng
hưởng thụ những gì mình mong muốn do không có tiền hoặc tích lũy tiền

thầy cô và các anh chị.
2
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Tín dụng chỉ một hành vi kinh tế rất phức tạp bao gồm rất nhiều hình
thức như: bán chịu hàng hóa, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, kí thác… Một
hợp đồng tín dụng luôn bao gồm 2 bên tham gia: Một bên trao ngay một số
tiền hoặc tài sản cho bên còn lại. Bên kia nhận tiền hoặc tài sản với cam kết sẽ
hoàn lại trong một thời gian nhất định với một điều kiện nhất định.
Trải qua thời gian, người ta ít trực tiếp cho vay lẫn nhau bởi khó khăn
trong việc tìm người cho vay, số lượng tiền vay cũng như thời gian cho vay
sao cho phù hợp với nhu cầu của người đi vay. Ngày nay, người đi vay
thường tìm đến một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng thương mại bởi chính
sự chuyên môn hóa trong cung cấp các dịch vụ tài chính của nó. Qua ngân
hàng, người ta có thể vay với khối lượng lớn mà chỉ phải giao dịch với một
chủ thể duy nhất đó là ngân hàng. Sự chuyên môn hóa làm tăng tính chuyên
nghiệp của ngân hàng so với các tổ chức khác, đồng thời làm giảm rủi ro cho
khách hàng. Do vậy, ngày nay người ta thường đồng nhất tín dụng nói chung
với cho vay của ngân hàng thương mại.
Cho vay của ngân hàng thương mại được hiểu là hình thức ngân hàng
chuyển một số tiền cho khách hàng sử dụng theo yêu cầu của khách hàng nếu
khách hàng đáp ứng các yêu cầu mà ngân hàng đặt ra.
3
1.1.2. Đặc điểm hoạt động cho vay.
Cho vay là hoạt động lâu đời nhất, cũng là hoạt động chủ yếu mang lại lợi
nhuận cho NHTM. NHTM sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của khách

_Cho vay sản xuất kinh doanh:là việc ngân hàng cho các doanh
nghiệp, các chủ thể sản xuất kinh doanh vay vốn để tiến hành sản xuất và lưu
động hàng hóa. Cho vay sản xuất kinh doanh thường căn cứ trên phương án
sản xuất kinh doanh tài sản đảm bảo của doanh nghiệp để xác định có cung
cấp khoản vay hay không.
_Cho vay tiêu dùng: là việc ngân hàng cho các cá nhân và hộ gia đình
vay để đáp ứng nhu cầu cá nhân như mua sắm nhà cửa, xe cộ, đồ dùng gia
đình, trả tiền cho các dịch vụ như y tế, giáo dục….Việc xem xét cấp khoản
vay này căn cứ vào mức thu nhập của người đi vay.
1.1.3.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng:
_Cho vay có tài sản đảm bảo: là việc cho vay dựa trên sự đảm bảo
như cầm cố, thế chấp hoặc có sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Hình
thức này thường áp dụng với những khách hàng vay lần đầu, những khách
hàng có khả năng tài chính không tốt, chưa tạo được uy tín đối với ngân hàng.
Trong trường hợp nguồn thu nợ không chắc chắn, tài sản đản bảo là căn cứ để
ngân hàng có thể thu hồi lại vốn.
_Cho vay không có tài sản đảm bảo: là cho vay mà không có cầm cố,
thế chấp hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Việc cho vay này chỉ dựa vào uy tín
5
của khách hàng đối với ngân hàng. Cho vay không có tài sản đảm bảo thường
áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính tốt, kinh doanh lành
mạnh, những khách hàng quen thuộc của ngân hàng Với những khách hàng
này, ngân hàng có thể xem xét, tạo điều kiện rất tốt trong việc vay vốn nhằm
gia tăng dư nợ cho ngân hàng .
1.1.3.4. Căn cứ theo phương thức cho vay:
_Cho vay từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân
hàng thương mại, áp dụng với các khách hàng không có nhu cầu vay thường
xuyên, không đủ điều kiện cấp hạn mức thấu chi. Thường thì các khách hàng
này sử dụng vốn tự có và tín dụng thương mại trong quá trình sản xuất kinh
doanh, họ chỉ đi vay ngân hàng khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất

chắc chắn trong tương lai thì tại thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn không thể
được sử dụng sản phẩm dịch vụ mong muốn. Vậy làm thế nào có thể giải
quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán hiện tại?
Có một cách giải quyết là mua bán chịu. Nghĩa là người mua có thể sử
dụng hàng hóa, dịch vụ từ người bán mà không phải trả tiền ngay khi nhận
hàng. Tuy nhiên, cách này chỉ có lợi cho người mua, còn người bán phải chịu
hoàn toản rủi ro trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc
cố ý không trả nợ. Hơn nữa, do bán hàng không thu được tiền nên khi người
bán muốn mua nguyên liệu đầu vào phục vụ cho tái sản xuất dễ rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán, dẫn đến không thể tiếp tục sản xuất. Do đó
cách này không hiệu quả, không áp dụng nhiều trong thực tế.
Như vậy, cần có một tổ chức hỗ trợ cả người mua và người bán. Người
mua có tiền để chi trả, còn người bán thu hồi được tiền dành cho tái sản xuất,
mở rộng kinh doanh. Không một tổ chức nào có thể thực hiện tốt vai trò này
7
hơn là các trung gian tài chính, và tiêu biểu nhất chính là các ngân hàng
thương mại. Ngân hàng sẽ cho cá nhân vay để tiêu dùng. Người tiêu dùng sẽ
có khả năng thanh toán các nhu cầu hiện tại của mình và trả nợ trong tương
lai, còn doanh nghiệp thì có thể thu hồi vốn để tái sản xuất. Vậy, cho vay tiêu
dùng là gì?
1.2.1.Khái niệm cho vay tiêu dùng .
CVTD được hiểu là một hình thức tín dụng của ngân hàng, trong đó
ngân hàng thỏa thuận cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình được sử dụng
một khoản tiền với mục đích tiêu dùng , theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ cả
gốc lẫn lãi sau một khoảng thời gian nhất định.
Lãi suất và thời hạn vay sẽ được ngân hàng và khách hàng thỏa thuận
tùy theo đặc điểm của từng khách hàng.
1.2.2.Đặc điểm cho vay tiêu dùng .
Về bản chất, cho vay tiêu dùng cũng là một khoản cho vay của
ngân hàng thương mại, do đó nó mang đẩy đủ những đặc điểm chung nhất

cáo kết quả kinh doanh, tình hình thu chi, tình hình tài sản… mà dựa vào đó,
ngân hàng có thể đỏnh giá hiệu quả hoạt động, khả năng thanh toán. Những
thông tin mà ngân hàng có được từ khách hàng cá nhân thường do bản thân
họ cung cấp, việc chứng minh tài chính là rất khó. Do đó, ngân hàng phải tốn
nhiều chi phí cho việc xác minh các thông tin khách hàng cung cấp có đầy đủ
chính xác không, nhằm tránh các rủi ro có thể xảy ra.
9
Với quy mô nhỏ, số lượng các khoản vay lớn, thời gian vay ngắn, trong
khi đó quy trình tín dụng lại phức tạp, không thể cắt bớt, ngân hàng phải bỏ ra
nhiều chi phí cả về công nghệ cũng như nguồn nhân lực cho việc quản lý
nhóm nợ vay này.
Một điểm quan trọng nữa là do loại hình cho vay tiêu dùng còn khá
mới mẻ ở thị trường Việt Nam, các khách hàng biết khá ít thông tin về
CVTD. Vậy nên, ngân hàng phải bỏ ra nhiều chi phí quảng cáo, marketing
nhằm tiếp cận khách hàng, giúp khách hàng hiểu hơn về sản phẩm, tạo niềm
tin nhằm lôi cuốn khách hàng sử dụng sản phẩm. Không chỉ có vậy, do đặc
điểm các sản phẩm ngành tài chính ngân hàng có tính hấp dẫn khách hàng bị
hạn chế, mỗi ngân hàng cũn phải tạo sự hấp dẫn riêng cho sản phẩm đối nhằm
thu hút khách hàng đến sử dụng dịch vụ của ngân hàng mình.
 Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay chứa đựng rủi ro cao.
Các khoản vay này được đảm bảo bằng thu nhập của các cá nhân và hộ
gia đình, rất ít khi có tài sản đảm bảo. Việc đảm bảo bằng thu nhập chứa đựng
nhiều rủi ro.Thu nhập của cá nhân có thể thay đổi rất dễ dàng, ví dụ như trong
trường hợp thay đổi việc làm, thất nghiệp, thương tật…, điều này ảnh hưởng
lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng. Thậm chí, những thay đổi bất thường
trong thu nhập của người thân khách hàng cũng có thể ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ của khách hàng. Trong khi đó, ngân hàng không có tài sản đảm
bảo để bán đi nhằm thu hối lại vốn đã cấp phát.
Đồng thời, khoản vay này còn phụ thuộc rất nhiều vào tư cách, thiện
chí trả nợ của khách hàng. Tư cách phẩm chất là thứ rất khó xác định, chủ yếu

nhân hộ gia đình phải cần có thời gian tích lũy mới trả đủ nợ. Mục đích tiêu
dùng của các khoản vay trung hạn thường là chi cho giáo dục, y tế, chi mua
sắm thiết bị gia đình…
_Cho vay tiêu dùng dài hạn: là những khoản vay tiêu dùng có thời hạn
vay từ 5 năm trở lên. Thường thì những khoản vay dài hạn là những khoản
vay rất lớn, được dựng để chi vào việc mua sắm nhà cửa, đất đai, phương tiện
giao thông … Những khoản vay này, khách hàng phải là người có nguồn thu
nhập khá ổn định, việc vay ngân hàng và mục đích tiêu dùng phải được tính
toán rất kỹ lưỡng bởi quy mô khoản vay là khá lớn. Thường thì với thời gian
vay dài, khách hàng sẽ trả lãi và gốc thành nhiều lần.
1.2.3.2 Căn cứ vào mục đích
Căn cứ vào mục đích tiêu dùng của các khoản vay, vay tiêu dùng được chia
thành 2 loại:
_Vay tiêu dùng cư trú: là những khoản vay nhằm mục đích xây dựng,
cải tạo hoặc mua mới nhà ở. Đây là những khoản vay lớn, có thời hạn dài.
Khách hàng khi vay tiêu dùng cư trú cần đàm bảo nguồn thu nhập trả nợ phải
khá ổn định. Ngân hàng có thể dựng chính căn nhà này làm tài sản đảm bảo
cho khoản vay. Với vay tiêu dùng cư trú, phương án trả góp là phương án
được ngân hàng rất khuyến khích khahcs hàng sử dụng.
_Vay tiêu dùng phi cư trú: là những khoản vay tiêu dùng phục vụ cho
việc cải thiện đời sống như mua sắm thêm đồ gia dụng, phương tiện đi lại, các
chi phí cho y tế và giáo dục….Vay tiêu dùng phi cư trú rất đa dạng về thời
hạn vay cũng như quy mô khoản vay. Đó có thể là khoản vay nhỏ, thời hạn
ngắn như chi mua vật dụng gia đình, nhưng cũng có thể là khoản vay lớn như
chi mua phương tiện đi lại đắt tiền như ô tô…
12
1.2.3.3 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, vay tiêu dùng được chia thành 3 loại:
_Vay tiêu dùng phi trả góp: đây thường là những khản vay nhỏ, thời
gian vay ngắn, do đó khách hàng có đủ tiềm lực tài chính để có thể trả hết

hóa hơn mà không phải trả tiền ngay .Về phía công ty không phải chịu áp lực
thu hồi vốn, được ngân hàng cấp vốn sử dụng, công ty có thể tái sản xuất và
bán được nhiều hàng hóa dịch vụ hơn, làm tăng doanh số bỏn hàng, tăng lợi
nhuận. Riêng đối với ngân hàng, việc mua lại các khoản nợ của các công ty
làm tăng doanh số, giảm chi phí tín dụng cho các khoản cho vay tiêu dùng.
Nếu ngân hàng có thể thiết lập quan hệ thân thiết với các công ty này thì cho
vay qua hình thức này có thể mang lại doanh số cao, an toàn và có thể tạo
điều kiện phát triển các dịch vụ khác đối với công ty: dịch vụ thanh toán, các
hình thức vay khác…
Tuy nhiên, hình thức này cũng mang nhiều rủi ro cho ngân hàng . Việc
không trực tiếp tiếp xúc khách hàng mà chỉ biết các thông tin về khách hàng
qua công ty sẽ không cho ngân hàng nguồn thông tin đáng tin cậy . Các công
ty có thể lừa đảo bằng cách cung cấp sai các thông tin về khả năng tài chính,
đạo đức khách hàng dẫn đến việc ngân hàng sẽ gặp rủi ro với việc thu hồi các
khoản nợ. Bên cạnh đó, do không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên hình
thức cho vay gián tiếp cũng đòi hỏi quy trình kỹ thuật phức tạp hơn rất nhiều
so với cho vay trực tiếp. Trên thực tế, ngân hàng sẽ đưa ra điều kiện về đối
tượng bán chiu, loại tài sản được phép bán chịu và số tiền được phép chịu tối
đa với một khách hàng, yêu cầu các công ty phải thực hiện.
14
_Cho vay tiêu dùng trực tiếp:là việc ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với
khách hàng trong quá trình cho vay và thu nợ.
Qua việc trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, ngân hàng có thể biết được
chính xác, đầy đủ hơn về tài chính, đạo đức khách hàng, trên cơ sở đó đánh
giá khả năng xảy ra rủi ro, đưa ra quyết định cho vay hay không, với mục tiêu
có được những khoản vay với chất lượng tốt nhất.
Bên cạnh đó, với sự chuyên nghiệp của mình, khi xảy ra các vấn đề
phát sinh, ngân hàng có thể xử lý việc này tốt hơn các công ty, mang quyền
lợi tốt nhất đến cho cả ngân hàng và khách hàng.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, việc cho vay trực tiếp đòi hỏi chi phí lớn

Cho vay tiêu dùng là một trong các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng,
tạo tính đa dạng hóa sản phẩm. Bằng cách này, ngân hàng có thể phân tán
nguồn vốn của mình, từ đó giảm rủi ro cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng còn mang lại nguồn doanh thu khá lớn cho ngân
hàng. Kinh tế phát triển, cạnh tranh giữa các ngân hàng càng khốc liệt. Nhiều
doanh nghiệp thiếu vốn thay vì đi vay vốn ngân hàng lại tự tài trợ vốn bằng
phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Mảng khách hàng doanh nghiệp được hầu
hết các ngân hàng thương mại khai thác, việc cạnh tranh làm giảm thị phần
cho vay đối với các doanh nghiệp buộc các ngân hàng phải mở rộng thị
trường cho vay. Trong khi đó thì mảng khách hàng cá nhân lại chưa được chú
ý nhiều. Đối tượng khách hàng cá nhân có số lượng đông đảo hơn nhiều so
với khách hàng doanh nghiệp. Đời sống được nâng cao, nhu cầu chi tiêu của
16
con người càng được mở rộng. Tin tưởng vào nguồn thu nhập sẽ có được, con
người sẽ mạnh dạn vay cho tiêu dùng nhiều hơn.Trong tương lai, nếu cung
cấp thêm các sản phẩm dịch vụ hướng vào đối tượng cá nhân chắc chắn sẽ
mang lại cho ngân hàng nguồn doanh thu không nhỏ.
Cho vay tiêu dùng còn là công cụ marketing rất hiệu quả của ngân hàng. Đối
tượng của CVTD là các cá nhân, hộ gia đình, số lượng rất đông đảo.Thông
qua cho vay tiêu dùng, nhiều khách hàng sẽ biết đến ngân hàng hơn. Ngân
hàng còn có thể huy động được nhiều tiền gửi từ dân cư bởi người dân sẽ gửi
tiền vào khi họ thấy rằng mình có khả năng vay lại tiền từ chính ngân hàng đó
khi cần thiết. Ngoài ra, còn rất nhiều dịch vụ có thể phát triển hơn nữa hướng
vào đối tượng khách hàng cá nhân mà ngân hàng có thể tận dụng mối quan hệ
sẵn có để giới thiệu với khách hàng như dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ…
_Đối với đời sống kinh tế xã hội nói chung: Hoạt động cho vay tiêu
dùng có tác động theo hướng tích cực. Cho vay tiêu dùng đóng vai trị quan
trọng trong quá trình luân chuyển hàng hóa. Quá trình sản xuất lưu thông
hàng hóa nếu không có tiêu dùng sẽ dẫn đến ứ đọng, doanh nghiệp không tiêu
thụ được sẽ bị ứ đọng vốn, không thể sản xuất thêm được. Cho vay tiêu dùng

do dĩ nó không chỉ được nói đến một cách chung chung mà cần được lượng
hóa để có thể đánh giá hiệu quả thực sự mà nó mang lại. Với sản phẩm cho
vay tiêu dùng, có 3 chỉ tiêu phản ánh sự mở rộng:
 Chỉ tiêu tăng trưởng doanh số:
Doanh số là chỉ tiêu thể hiện tổng số tiền mà ngân hàng cho vay được trong
kỳ. Đây là chỉ tiêu thời kỳ, nó cho ta thấy hiệu quả hoạt động tín dụng của
ngân hàng trong một kỳ, thường là 1 năm tài chính.
18
Doanh số năm
(t-1)
Chỉ tiêu tăng trưởng doanh số tương đối =
Tăng trưởng tỷ trọng CVTD =
 Chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ.
Dư nợ được hiểu là số tiền mà khách hàng đang còn nợ ngân hàng tại
một thời điểm. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác thực trạng cho vay tiêu
dùng của ngân hàng tại thời điểm nghiên cứu.
Tăng trưởng dư nợ tuyệt đối= dư nợ năm t - dư nợ năm (t-1)
Tăng trưởng dư nợ tương đối=
Tỷ trọng CVTD =
 Chỉ tiêu tăng trưởng số lượng khách hàng.
Số lượng khách hàng nói chung được hiểu là số khách hàng đến giao
19
dịch với ngân hàng. Trong hoạt động cho vay tiêu dùng, số lượng khách hàng
là số khoản vay tiêu dùng mà khách hàng vay của ngân hàng. Chỉ tiêu tăng
trưởng số lượng khách hàng phản ánh sự gia tăng số lượng các khoản vay tiêu
dùng mà ngân hàng cho khách hàng vay, được tính như sau:
Tăng trưởng số lượng khách hàng = Số lượng khách hàng năm t –Số
lượng khách hàng năm (t-1)
1.3.3. Các nhân tố tác động đến mở rộng cho vay tiêu dùng.
Ta biết rằng, không một hoạt động kinh tế nào có thể diễn ra mà không

nghề nghiệp và trình độ văn hóa của người đó. Ở những khu vực trình độ dân
trí cao thường là những khu vực có kinh tế phát triển, người dân có thu nhập
cao và ổn định. Do đó, họ tin vào khả năng tạo thu nhập của mình trong tương
lai nên sẵn sang đi vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng nếu thấy cần thiết.
Môi trường chính trị-pháp luật: Môi trường chính trị là nền tảng cho
môi trường kinh tế. Một nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu chính
trị không ổn định. Không thể thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế. Sản
xuất kém phát triển. Các ngân hàng không thể đẩy mạnh thu hút nguồn vốn và
cho vay.Chính trị không ổn định còn kéo theo những vấn đề về xã hội như
thất nghiệp, tệ nạn xã hội… Đời sống người dân gặp khó khăn. Thu nhập
không ổn định không thể khuyến khích người dân đẩy mạnh tiêu dùng, càng
không nghĩ đến vay nhằm mục đích tiêu dùng.
Pháp luật là khung cho các hoạt động khác diễn ra. Trong nền kinh tế
ngày càng phát triển, cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Yêu
21
cầu đặt ra là phải dần hoàn thiện hệ thống phát luật , tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh giữa các ngân hàng. Bên cạnh đó, xây dựng hệ thống pháp
luật đẩy đủ, chặt chẽ sẽ làm giảm những kẽ hở, tránh xảy ra gian lận, tránh
mâu thuẫn không đáng có giữa ngân hàng và khách hàng, bảo vệ quyền lợi
khách hàng, tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó giúp ngân
hàng dễ dàng thuyết phục khách hàng sử dụng dịch vụ của mình.
Chủ trương chính sách của ngân hàng nhà nước và chính phủ: các
chính sách này có thể khuyến khích hoặc hạn chế cho vay tiêu dùng. Cụ thể là
ngân hàng nhà nước tác động đến các hoạt động của ngân hàng thương mại
nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng qua các chính sách tiền tệ. Các
chính sách của chính phủ đặc biệt là các chính sách về kinh tế có thể tác động
đến thu hút đầu tư, từ đó thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển kinh tế, tác động
đến khả năng tiêu dùng của người dân.
Trình độ phát triển khoa học công nghệ: khoa học công nghệ đang
ngày càng khẳng định vai trò của mình trong cuộc sống. Công nghệ phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status