BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
NGÔ QUỐC CHÍNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ XÂY DỤNG VÀ THƯƠNG MẠI 3-2 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60340102 Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐINH QUANG TY HÀ NỘI - 2012MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
nghiệp tư nhân 31 1.2.2.2. Những mặt đã làm được trong quản trị nhân lực 32
1.2.2.3. Những bất cập trong quản trị nhân lực 32
1.2.3. Đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 33
1.2.3.1. Nhận xét khái quát về thực trạng nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài 33
1.2.3.2. Những mặt đã làm được trong quản trị nhân lực 34
1.2.3.3. Những bất cập trong quản trị nhân lực 34
1.2.4. So sánh về kết quả, chất lượng quản trị nhân lực giữa ba khu vực kinh tế.35
1.2.4.1. Nhận xét, so sánh chung 35
1.2.4.2. Những vấn đề lớn đang đặt ra đối với quản trị nguồn nhân lực
trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 37
1.3. NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN TRỊ NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP
VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC DOANH NGHIỆP 38
1.3.1. Nhận xét chung về biện pháp quản trị nhân lực của các doanh nghiệp .38
1.3.2. Chủ trương, chính sách của Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực cho
các doanh nghiệp 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI 3-2 (GIAI ĐOẠN
2006 - 2011 ) 45
2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY 45
2.1.1. Quá trình hình thành, phát triển của Công ty 45
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ; đặc điểm ngành nghề kinh doanh và khả năng
cạnh tranh của Công ty 46
2.1.2.1. Về chức năng, nhiệm vụ 46
2.1.2.2. Về đặc điểm ngành nghề kinh doanh 46
2.1.2.3. Các đối thủ cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của Công ty 47
3.3.2. Nhóm giải pháp về sử dụng nguồn nhân lực hiện có 85
3.3.3. Nhóm giải pháp về bảo đảm thực hiện các chế độ, chính sách tạo động
lực khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, chất
lượng công việc 86
3.3.4. Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực 87
3.3.5. Một số kiến nghị quan trọng khác đối với bộ máy lãnh đạo, quản lý
Công ty 90
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC 92
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
CHLB : Cộng hòa Liên bang
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
XNCH : Xã hội Chủ nghĩa
QTNL : Quản trị nhân lực
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
KPCD : Kinh phí công đoàn
DN : Doanh nghiệp
NLĐ : Người lao động
THCV : Hình thức công việc
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DN ngoài NN : Doanh nghiệp ngoài nhà nước
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
NN : Nhà nước
Sơ đồ 2: Trình tự xây dựng một chương trình đào tạo/phát triển 24
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Xây dựng và Thương mại 3-2 51
Sơ đồ 4: Quy trình tuyển dụng nhân sự của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và
thương mại 3-2 64
Bảng 1: Cơ cấu nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp 27
Bảng 2: Danh sách cổ đông sang lập 45
Bảng 3: Biểu khai năng lực cán bộ chuyên môn và kỹ thuật của Công ty 56
Bảng 4: Cơ cấu về năng lực cán bộ chuyên môn và kỹ thuật của Công ty 57
Bảng 5: Cơ cấu về năng lực cán bộ chuyên môn và kỹ thuật của Công ty theo năm
kinh nghiệm 57
Bảng 6: Biểu khai năng lực công nhân kỹ thuật của Công ty 59
Bảng 7: Kết quả sản xuất của Công ty trong những năm qua 62
Bảng 8: Bảng lương khối lãnh đạo và văn phòng cấp cao 66
Bảng 9: Bảng lương khối công nhân 66
Bảng 10: Mức thưởng vượt kế hoạch dự án 68
Biểu đồ 1: Cơ cấu lao động theo năm kinh nghiệm 58
Biểu đồ 2: Cơ cấu công nhân phân theo bậc 60
Biểu đồ 3: cơ cấu của lao động trực tiếp và lao động giám tiếp 60 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi xã hội càng phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động sản
xuất kinh doanh giữ vai trò ngày càng quan trọng, có ảnh hưởng quyết định sự tồn
tại và phát triển của xã hội. Công tác nghiên cứu, phân tích đánh giá các mặt của
hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế ngày càng được quan tâm trong các doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yếu tố đầu tiên là nguồn
cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại 3-2, làm rõ nguyên nhân; từ đó đề xuất
những giải pháp mới nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng
nguồn nhân lực tại Công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản trị nhân lực tại Công ty cổ
phần Đầu tư xây dựng và Thương mại 3-2.
Phạm vi nghiên cứu:
Chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi các hoạt động gắn trực tiếp với công tác
quản trị nhân lực của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại 3-2, trong
giai đoạn 2006 - 2011; và đặt trong tầm nhìn đến năm 2020
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng một số phương pháp cụ thể thích hợp với đối tượng, mục
đích, nhiệm vụ đã xác định. Trong đó chú trọng kết hợp các phương pháp như:
phương pháp thống kê; phân tích tổng hợp; phương pháp đối chiếu; khái quát hóa
….
5. Một số đóng góp mới của luận văn
Luận văn đề xuất và luận giải một số giải pháp mới nhằm góp phần nâng cao
chất lượng quản trị nhân lực tại Công ty 3-2, bao gồm:
- Nhóm giải pháp đối với công tác tuyển dụng nhân lực
- Nhóm giải pháp đối với công tác sử dụng nguồn nhân lực hiện có
- Nhóm giải pháp về bảo đảm thực hiện các chế độ, chính sách tạo động lực
khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, chất lượng công việc
- Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
3
Đồng thời đề xuất một số kiến nghị quan trọng khác đối với bộ máy lãnh
đạo, quản lý của Công ty 3-2.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
gian công tác, giới tính…
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng
khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người. Trong sản
xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về trí lực của con người
bị giới hạn bởi sự yếu kém của khoa học kỹ thuật; còn trong nền kinh tế thị trường
hiện đại, tiềm năng trí lực của con người càng được nhân rộng và hầu như không có
giới hạn.
b) Khái niệm nguồn nhân lực trong phạm vi một doanh nghiệp
Nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành doanh nghiệp
và giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường. Tầm quan trọng của
nguồn nhân lực trong doanh nghiệp xuất phát từ vai trò quan trọng của con người.
Con người là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, vận hành doanh nghiệp và quyết
5
định sự thành bại của doanh nghiệp đó. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn
lực không thể thiếu của mọi doanh nghiệp.
1.1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực
a) Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động của xã
hội liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực quản lý dân số; nâng cao chất lượng sống
của con người; chăm sóc sức khỏe con người; sử dụng và đào tạo, trí tài thọ; sử
dụng lực lượng lao động hiện có và tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn cũng như về lâu dài.
b) Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi một doanh
nghiệp
Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa hẹp) chính là toàn bộ những hoạt động
học tập được doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người
lao động. Các hoạt động đó có thể cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí
tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề
nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và
sẽ cả Đài Loan). Còn Liên bang Nga với SNG, hay Ấn Độ cũng như Brazin cũng
sẽ vươn mình lên những tầm cao sứ mạng mới trong tương lai không quá xa. Thời
đại mà đồng USD là “chúa tể” duy nhất trên thị trường tiền tệ thế giới đang suy tàn
cùng với sự xuất hiện đồng EURO và ý tưởng quốc tế hóa cao hơn là đồng nhân dân
tệ của Trung Quốc và đồng Yên Nhật. (Nguồn từ: Tạp chí kinh tế )
Thứ hai: Đa dạng hóa các mô hình phát triển, đa phương hóa việc quản lý và
giải quyết các vấn đề của mỗi quốc gia cũng như quốc tế. Mặc dù cơ chế kế hoạch
hóa tập trung bị thực tế bác bỏ, và cơ chế thị trường mở ngày càng chiếm ưu thế,
song trên toàn thế giới đang và sẽ còn chứng kiến sự nở rộ của các mô hình phát
triển kinh tế khác nhau: mô hình Mỹ, mô hình Thụy Điển, mô hình Hà Lan, mô
hình Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á, mô hình Nam Á, mô hình Niu Di Lân
và gần đây đang xuất hiện mô hình Trung Quốc, không có mô hình nào hoàn hảo và
thích hợp đối với mọi quốc gia. Vấn đề then chốt cho một nền kinh tế thành công là
mô hình được lựa chọn phải phù hợp cả với bối cảnh quốc tế, lẫn các điều kiện lịch
sử cụ thể trong nước, đồng thời các nhà lãnh đạo và quản lý của nước đó phải làm
cho nó phù hợp nhất với lý thuyết mà họ ưa thích.
7
Thế giới cũng đang đặt ra nhu cầu và tạo điều kiện thực hiện đa phương hóa
việc quản lý và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển của một quốc
gia, của mỗi khu vực và toàn cầu (nhất là các vấn đề tài chính, tiền tệ, công nghệ,
môi sinh, phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm ). Đã chấm dứt thời mà mỗi nước
đóng cửa để tự giải quyết những vấn đề phát triển của mình, dù đó là vấn đề nhỏ
nhất và nước đó là mạnh nhất thế giới. (Nguồn từ: Tạp chí kinh tế )
Thứ ba: Đa cực hóa các trung tâm tăng trưởng quốc gia. Bên cạnh việc mở
rộng các trung tâm hiện có, ngày càng xuất hiện các trung tâm mới đầy năng động
trong mỗi nước; hơn nữa, chúng có xu hướng chuyển dịch về các vùng biên giới để
hình thành những khu vực “tam giác phát triển”, “tứ giác phát triển”, khai thác được
cùng lúc các lợi thế so sánh và thị trường của nhiều nước láng giềng cùng chung
biên giới, hoặc không. Những khu vực này xuất hiện ngày càng nhiều ở châu Á,
nước thành viên mà EMU (Liên minh kinh tế - tiền tệ châu Âu) là điển hình nhất.
Có thể nói, bất chấp những biến đổi thăng trầm trong các nền kinh tế và khu
vực cụ thể, bất chấp những “xung khắc” tạm thời và ngày càng mỏng manh giữa xu
hướng khu vực hoá với xu hướng toàn cầu hoá, những nỗ lực và thành quả thúc đẩy
xu hướng hướng tới một sự hội nhập ngày càng đầy đủ hơn và rộng lớn hơn vẫn đang
và sẽ được tiếp tục không hề suy giảm. Khu vực hoá ngày càng biến thành “phòng
chờ” để các nước tham dự vào toàn cầu hoá. Xu hướng này đang bao quát hầu hết các
nước trên thế giới, mà trước hết là các nước lớn, các nền kinh tế quan trọng. Cả hai hệ
thống tài chính và thương mại đang liên tục mở rộng, và nhân loại đang thực sự bước
vào kỷ nguyên của các thị trường toàn cầu được kiểm soát tập thể.
Tái cơ cấu các sản phẩm, các Công ty và các nền kinh tế trên cơ sở
những công nghệ mới về chất
Mô hình kinh tế thế giới hiện nay là mô hình kinh tế- công nghệ nhân đạo
hơn, trí tuệ hơn, có khả năng tự bảo vệ, vì thế hiệu quả và bền vững hơn. Cùng với
việc tạo ra những công nghệ mới, đang xuất hiện những điều kiện kinh doanh và cơ
cấu tiêu dùng mới. Thế giới ngày càng trở thành mạng lưới dày đặc và nhạy bén
hơn các quan hệ giao tiếp và tương tác lẫn nhau, làm tăng các cơ hội cho tự do cá
nhân, làm xói mòn các lợi thế cũ và tạo ra những sức mạnh, cùng lợi thế mới. Cả ở
cấp vi mô lẫn vĩ mô đang khởi động những quá trình tái cấu trúc vĩ đại chưa từng có
trong lịch sử, trong đó:
Đối với các sản phẩm: đang và sẽ có sự cải thiện căn bản về danh mục,
chủng loại, chất lượng, hình dáng, công dụng và giá cả của hàng loạt sản phẩm,
9
hàng hoá và dịch vụ theo hướng đa dạng hơn, gọn nhỏ hơn, nhiều chức năng hơn,
tiện lợi, tinh xảo hơn, tiết kiệm năng lượng và rẻ hơn, do đó, phổ cập rộng rãi hơn.
Sẽ xuất hiện hàng loạt sản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới. Vòng đời sản phẩm sẽ
ngắn đi, thậm chí rất ngắn. Trong cơ cấu tiêu dùng mới, tỷ trọng lớn sẽ thuộc về
thông tin và những phương tiện cung cấp, xử lý và phân tích thông tin. Đặc biệt, thế
giớ sẽ ngày càng ưa chuộng và mở rộng sản xuất, cũng như tiêu dùng các sản phẩm
Thu hẹp và mất đi các ngành khai thác, chế biến nguyên liệu truyền thống và xuất
hiện những ngành khai thác, chế biến nguyên liệu mới thích hợp; các ngành dịch vụ
sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất và đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong nền kinh tế quốc
gia và quốc tế; các công nghệ mới, các xa lộ thông tin, vận tải toàn cầu phát triển,
đang thu hẹp lại khoảng cách của các quốc gia, đồng thời mở rộng giới hạn không
gian kinh tế và sinh tồn của con người lên khoảng không, xuống đáy đại dương hay
các vùng sa mạc, các vùng băng tuyết quanh năm và đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển
các yếu tố của hoạt động tái sản xuất kinh tế - xã hội. Các Công ty và quốc gia
không chỉ lập kế hoạch cho thị trường trong nước, mà còn phải cho cả thị trường
khu vực và toàn cầu. Nền công nghiệp mới, tự động hoá và có tính toàn cầu sẽ xuất
hiện cùng với nền kinh tế thị trường toàn cầu. Chế độ doanh nghiệp lao động của
Công ty và quốc gia cũng thay đổi mạnh, sẽ bớt đi kiểu làm việc tập trung tại công
sở và chế độ ăn lương suốt đời tại một Công ty, một quốc gia.
Con người lao động mới sẽ có tri thức toàn diện hơn, năng động, tự chủ hơn,
di chuyển chỗ làm việc thường xuyên và trên phạm vi ngày càng rộng hơn. Đô thị
hoá sẽ tăng nhanh, các cấu trúc chính trị và giao lưu văn hoá - xã hội quốc gia và
quốc tế sẽ có sự dịch chuyển tương ứng. “Nền kinh tế nợ” sẽ trở thành đặc trưng
cho mọi Công ty và quốc gia. Nói cách khác, mỗi Công ty và mỗi nước sẽ ngày
càng có nhu cầu và khả năng tiếp cận rộng rãi, thường xuyên hơn với các nguồn vốn
bên ngoài, cũng như tích cực đầu tư ra bên ngoài hơn. Tăng trưởng với tốc độ nhanh
nhất so với tất cả các hoạt động kinh doanh khác, các hoạt động tài chính-tín dụng
sẽ ngày càng trở thành vũ khí cạnh tranh và công cụ “đồng hoá” một Công ty, một
quốc gia lợi hại nhất. Tình trạng nợ khó đòi và tín dụng không hiệu quả sẽ ra tăng,
kéo theo những xung lực tiềm ẩn gây bất ổn định thị trường tài chính - tiền tệ quốc
gia và quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu bức bách hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
hoạt động giám sát an toàn tài chính - tín dụng cả ở cấp vi mô lẫn cấp vĩ mô (cấp
quốc gia lẫn khu vực và quốc tế).
11
Tư duy mới về bàn tay nhà nước trong quản lý kinh tế thị trường
12
công tác thông tin, dự báo và giám sát, cảnh báo an toàn, nhất là an toàn hệ thống tài
chính - ngân hàng, là hết sức quan trọng và không thể coi nhẹ trong bất luận trường
hợp nào và vào thời điểm nào…Ngoài ra, cần luôn tỉnh táo với các tác động lan tỏa,
dây chuyền có tính hai mặt của các biến cố và chính sách kinh tế trên thị trường trong
nước và quốc tế. Cần dập ngay khủng hoảng từ khi nó còn nhen nhóm, thay vì khi nó
đã trở thành đám cháy mạnh và lan rộng, thì chi phí là khó đo lường.
Bốn là, bàn tay điều chỉnh của nhà nước cần chuyển dịch theo hướng giảm
can thiệp hành chính, trực tiếp, để chuyển sang phương thức can thiệp gián tiếp, có
tính định hướng và giám sát nhiều hơn, vừa tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị
trường, vừa không làm xấu đi sự ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm hài hòa các lợi
ích trong quá trình phát triển, nhất là không lạm dụng sức chịu đựng và đổ gánh
nặng khủng hoảng lên người dân, người tiêu dùng. Tăng cường vai trò của các loại
quỹ bình ổn thị trường và sử dụng linh hoạt các công cụ nợ, biến nợ xấu thành
chứng khoán có thể mua - bán trên thị trường nợ là một trong các lựa chọn cần thiết
và hiệu quả trong trường hợp này và cho mục tiêu đó.
b) Đặc điểm, xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nằm trong khu vực kinh tế năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thế giới,
Việt Nam không thể không chịu tác động của những xu hướng phát triển kinh tế
quốc tế chủ yếu nêu trên. Chúng tạo ra nhiều cơ hội quý báu và cả những thách thức
to lớn cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế của nước ta mà có thể sơ bộ
nêu ra dưới đây:
Thứ nhất, đó là nền kinh tế đa sở hữu, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tiếp
tục là lực lượng sản xuất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế, chủ yếu hoạt động trong những lĩnh vực thuộc độc quyền nhà
nước liên quan đến an ninh quốc phòng, khai thác các tài nguyên quý, hiếm, hoặc
tham gia kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực nhạy cảm quan trọng, có ý nghĩa
chiến lược, đảm bảo cơ sở cho sự ổn định lành mạnh và định hướng sự phát triển
chung của nền kinh tế quốc gia.
tượng phá sản, giải thể, chia tách và sáp nhập, mua bán chuyển nhượng các doanh
nghiệp, các cổ phần, cổ phiếu doanh nghiệp; Bên cạnh đó, những khả năng và biểu
hiện độc quyền kinh tế kiểu mới, phi truyền thống, phi hành chính sẽ ngày càng
hiện hình trong sự đa dạng, thậm chí rất tinh vi của nó. Các tranh chấp và chấn động
kinh tế, thương mại, lao động và các dạng tội phạm khác cả truyền thống và phi
truyền thống, ngày càng mang tính quốc tế và liên ngành, sẽ ảnh hưởng tới doanh
14
nghiệp nhiều hơn, các vấn đề phát sinh trực tiếp và gián tiếp từ quá trình sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ gia tăng với mức độ phức tạp và gây hậu quả
nặng nề hơn.
Thứ hai, đó là nền kinh tế vận hành theo các nguyên tắc cơ chế thị trường
mở, có sự điều tiết của nhà nước pháp quyền XNCH. Môi trường đầu tư - kinh
doanh sẽ ngày càng bình đẳng và đồng nhất hoá giữa các loại hình doanh nghiệp, và
phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Sẽ có sự phân biệt rành mạch hơn
chức năng quản lý nhà nước với chức năng kinh doanh. Nhà nước sẽ chủ yếu can
thiệp gián tiếp vào doanh nghiệp thông qua sử dụng đồng bộ các công cụ kinh tế -
hành chính (trong đó công cụ kinh tế thị trường là chủ yếu) điều chỉnh "nồng độ" môi
trường đầu tư - kinh doanh để định hướng hoạt động của các doanh nghiệp theo chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch đã thông qua, phù hợp đòi hỏi của thị trường. Các cơ quan
tư pháp sẽ được củng cố, được tôn trọng và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn. Các
thiết chế thị trường sẽ được hình thành và phát triển đồng bộ, lành mạnh và ngày
càng đóng vai trò ngày càng quan trọng, nó sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, thẩm định và
phán quyết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đoàn thể, hiệp
hội ngành nghề của doanh nghiệp cũng sẽ có sự phát triển, mở rộng quy mô, tính chất
để trở nên có tính “mở” hơn, mang tính thị trường hơn, bao quát và thu hút ngày càng
rộng rãi hơn các doanh nghiệp hội viên, không phân biệt nguồn gốc sở hữu, loại hình
doanh nghiệp và tính chất ngành nghề, địa phương. Vai trò hoạt động của các hiệp
hội doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ sẽ ngày càng tăng và được củng cố
trong nề kinh tế, đồng thời mở rộng dần sang lĩnh vực xây dựng chính sách, cải thiện
đồng và thị trường; tăng gắn kết kinh tế, giảm chi phí kinh doanh; phát triển theo
hướng hiện đại hoá, quốc tế hoá và bền vững hơn.
1.1.2.2 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh thế thị trường và những
yêu cầu cơ bản đặt ra đối với việc quản trị nguồn nhân lực tại doanh nghiệp
a) Vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh thế thị trường
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ
yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của
doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức
sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết
định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân
sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá
đói, giảm nghèo
16
Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu
lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành
kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương.
Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng
nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh
hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Có thể nói, sự phát triển đồng bộ, mạnh mẽ và có hiệu quả của hệ thống
doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn
quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội.
b) Những yêu cầu cơ bản đặt ra đối với việc quản trị nguồn nhân lực tại
doanh nghiệp
Với thực trạng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay thì đến 2020 cũng chỉ có
50% lực lượng lao động được thông qua đào tạo (chưa bàn đến chất lượng có phù
hợp hay không). Thực trạng này đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
phải chủ động phát triển nguồn nhân lực của chính mình. Doanh nghiệp không nên
nằm ở trái tim, tâm hồn và khối óc của những người lao động của bạn”.
1.1.2.3. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
Mục tiêu cơ bản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là sử dụng một cách có
hiệu suất nguồn nhân lực để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp đó. Quản trị nhân
lực nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng lao động cần thiết cho
doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đặt ra. Quản trị nhân lực giúp tìm kiếm và phát
triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để người lao động có thể đóng
góp nhiều sức lực cho việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời cũng
tạo cơ hội phát triển không ngừng của chính bản thân người lao động.
Có nhiều cách hiểu về Quản trị nhân lực (còn gọi là Quản trị nhân sự, Quản
lý nhân sự, Quản lý nguồn nhân lực). Khái niệm Quản trị nhân lực có thể được trình
bày ở nhiều giác độ khác nhau:
Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị doanh
nghiệp QTNL bao gồm hoạch định (kế hoạch hóa) doanh nghiệp, chỉ huy và kiểm
soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được
các mục tiêu của doanh nghiệp.
Đi sâu vào công việc của QTNL, là tất cả các hoạt động của một doanh
nghiệp để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện ghi cho
nhân lực.
18
Song dù ở giác độ nào thì QTNL vẫn là tất cả các hoạt động của một
doanh nghiệp để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ
gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của doanh nghiệp cả về
mặt số lượng và chất lượng.
Không một hoạt động nào của doanh nghiệp mang lại hiệu quả nếu tách rời
“Quản trị nhân lực”. Quản trị nhân lực là bộ phận cấu thành không thể thiếu của
quản trị kinh doanh. Quản trị nhân lực thường là nguyên nhân của thành công hay
thất bại trong các hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Thực chất của QTNL là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một