bài tiểu luận an sinh xã hội về bảo hiểm y tế tự nguyện - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình sinh sống tồn tại của mình, con người khó tránh khỏi có lúc bị ốm
đau bệnh tật, tai nạn,… Khi đó nhu cầu được chăm sóc khám chữa bệnh trở nên
cấp thiết, vấn đề lựa chọn không đặt ra. Tuy nhiên khi các sự việc trên xuất hiện,
một mặt người ta bị giảm thu nhập do không lao động được, mặt khác, phải chi ra
một khoản tiền nhất định để trang trải các chi phí điều trị y tế, chăm sóc sức khoẻ.
Đối với những người có thu nhập cao họ có thể sử dụng khoản tiền tiết kiệm của
mình để chi trả cho việc khám chữa bệnh nhưng những người bị bệnh tật, ốm đau
gặp khó khăn thì đó là một vấn đề nan giải. Chính vì vậy, BHYT là một chính sách
hữu hiệu để hỗ trợ, giúp đỡ cho những người đó khám chữa bệnh.
Từ khi Luật BHYT được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2008 và có hiệu lực thi
hành vào ngày 01/7/2009 thì số lượng người tham gia ngày càng tăng. Theo thông
tin từ bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến tháng 6 năm 2011 đã có 53,5 triệu người
tham gia bảo hiểm y tế, tăng gần 14 triệu người so với năm 2008. Khu vực có tỷ lệ
bao phủ bảo hiểm y tế cao nhất là vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, đạt tới
77% dân số, trong đó các tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Kạn, Hà Giang, Lai
Châu, Sơn La, Cao Bằng… có tỷ lệ bao phủ đạt tới 95% dân số. Khu vực có tỷ lệ
bao phủ thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ bao phủ chưa được
50% dân số. Một số tỉnh có dưới 45% dân số có bảo hiểm y tế như Tây Ninh, Bình
Phước, Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Hậu Giang …
Do tình hình thực tế hiện nay và để hướng đến mục tiêu toàn dân tham gia BHYT
thì Nhà nước đang thực hiện song song BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc. Bảo
hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm do nhà nước thực hiện không vì mục
tiêu lợi nhuận. Người dân tự nguyện tham gia để được chăm sóc sức khoẻ khi đau
ốm bệnh tật từ quỹ bảo hiểm y tế.
Với đối tượng tham gia khá đông đảo, đa dạng về thành phần và nhận thức xã hội,
có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ khác nhau. Chính vì vậy về
nguyên tắc BHYT tự nguyện có khả năng bao quát đến tầng lớp dân cư. Tuy nhiên,
do những bất cập trong công tác thực hiện làm cho người dân ít quan tâm tới việc
tham gia BHYT tự nguyện, nhất là những người có thu nhập cao cũng như những
người bình thường. Trong khi đó, nhóm người ốm đau, bệnh tật có nhu cầu chăm

BHYT, đến năm 2010 số lượng tham gia BHYT đã là gần 51 triệu người (chiếm tỷ
lệ trên 60% dân số). Nhìn chung số người tham gia BHYT ở các loại hình đều tăng
đáng kể, trong đó loại hình BHYT băt buộc có số tăng lớn và ổn định nhất, loại
hình BHYT người nghèo, BHYT tự nguyện tuy số lượng có tăng nhưng không ổn
định .
Theo kết quả nghiên cứu mới đây của thạc sỹ Nghiêm Trần Dũng phó Vụ trưởng
Vụ BHYT, Bộ Y tế cho biết do một số bất cập trong việc qui định điều kiện tham
gia BHYT có liên quan đến hộ gia đình (chẳng hạn phải có 100% thành viên có tên
trong sổ hộ khẩu và cư trú trên cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc TW đăng ký
tham gia…cũng như qui định phải có ít nhất 10% số hộ gia định trong phạm vi địa
bàn xã đăng ký tham gia… thì cá nhân mới được tham gia BHYT) đã được xem
xét, điều chỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia BHYT tự nguyện,
nên từ năm 2009 đến nay số người tham gia BHYT đã không ngừng được tăng cao,
phạm vi bao phủ được mở rộng.
Nếu năm 2008 số người tham gia BHYT mới là 39,74 triệu người (chiếm 46,1 %
dân số) thì đến năm 2009 số lượng người tham gia BHYT đã là trên 50 triệu người,
chiếm 58,2 % dân số có thẻ BHYT, đến hết năm 2010 cả nước cũng chỉ có gần 51
triệu người tham gia BHYT (chiếm tỷ lệ gần 60% dân số), đây là một con số tuy
đáng mừng, song thực tế sự tăng trưởng số lượng người tham gia BHYT cũng như
việc gia tăng tỷ lệ người dân có thẻ BHYT là không ổn định, thiếu bền vững.
Chẳng hạn, đến cuối năm 2010 vẫn chỉ có gần 6,2 triệu người tham gia BHYT tự
nguyện (ít hơn cả số lượng tham gia BHYT tự nguyện của năm 2005 là 9,2 triệu
người) .
Thực trạng này xuất phát từ nhận thức còn hạn chế của người dân, người dân chưa
ý thức được vai trò quan trọng của BHYT nên vẫn còn không mấy mặn mà với
chính sánh này. Bản thân người dân chỉ chờ đến khi nào chuẩn bị đi mổ hay phát
hiện ra bệnh nặng cần điều trị thì mới tham gia BHYT tự nguyện. Biết điều kiện
cuộc sống người dân còn nhiều khó khăn nên Nhà nước đã có những chính sách hỗ
trợ phối hợp với từng địa phương cụ thể như ở nhiều tỉnh đã hỗ trợ người cận
nghèo đến 80% mệnh giá thẻ mà tỉ lệ hộ cận nghèo tham gia BHYT vẫn thấp, từ 5-

hội đã phối hợp với các ngành, chính quyền địa phương các cấp để triển khai các
chính sách theo luật. Theo đó, nhiều chủ trương, chính sách tạm thời chưa có gì
thay đổi so với trước ngày 1-10, đặc biệt là việc thẻ BHYT đảm bảo vẫn phát hành
bình thường, liên tục. Tuy nhiên, nhiều người dân rất lo lắng khi một số địa
phương không phát hành thẻ BHYT vì chờ luật.
Một số quận, huyện khác ở TPHCM (như quận 3, 4, 7…) cũng tạm ngưng bán
BHYT tự nguyện.
Văn bản sau đó của BHXH TPHCM (ngày 26-10-2009) đã nêu rõ: đối với trường
hợp tạm trú, người tham gia BHYT tự nguyện, Bà Trần Thị Yến Loan, cán bộ
ngành LĐTB-XH phường 21, phụ trách về BHYT tự nguyện phường, cho biết:
“Được sự thống nhất của BHXH quận, kể từ đầu tháng 10 chúng tôi tạm ngưng
công tác đăng ký BHYT tự nguyện cho người dân với lý do là vì phải chờ triển
khai mẫu thẻ mới và hướng dẫn hoạt động theo Luật BHYT, mức giá chính thức.
Chúng tôi mới ngừng đăng ký BHYT tự nguyện từ đầu tháng 10, còn trước đó vẫn
bán”.Như vậy là giữa quy định và thực tiễn áp dụng còn nhiều bất cập. Điều này
xuất phát từ sự không rõ ràng của hệ thống pháp luật và sự làm việc thiếu trách
nhiệm của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.
Theo quy định, đối với các trường hợp tham gia BHYT tự nguyện lần đầu hoặc
tham gia lại sau một thời gian gián đoạn (vì bất cứ lý do gì) thì: Thẻ BHYT có giá
trị sử dụng và được hưởng quyền lợi theo quy định sau 30 ngày, kể từ ngày đóng
BHYT. Trường hợp sử dụng các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn thì phải sau 180
ngày kể từ ngày mua BHYT và trong trường hợp hưởng các quyền lợi về chăm sóc
thai sản, sinh đẻ thì phải sau 270 ngày từ ngày mua BHYT.
Người bệnh có thời gian tham gia BHYT liên tục 36 tháng trở đi mới được cơ quan
BHXH thanh toán 50% chi phí khi sử dụng các thuốc điều trị ung thư, thuốc chống
thải ghép ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế được phép lưu hành tại Việt Nam.
Như vậy, dù lỗi thuộc về đơn vị bán BHYT tự nguyện nhưng theo quy định này,
phần thiệt thòi (không được hưởng chế độ kỹ thuật cao, thai sản thuốc và vật tư y
tế đặc biệt…) lại thuộc về những trường hợp không mua được BHYT tự nguyện
theo nhu cầu hoặc bị gián đoạn.

ngày càng gia tăng và chất lượng ngày càng được cải thiện. Bảo hiểm xã hội các
tỉnh, thành phố đã thẩm định, ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT với 2.176 cơ sở
khám chữa bệnh BHYT. Thông qua các hợp đồng khám chữa bệnh cấp huyện đã tổ
chức khám, chữa bệnh BHYT tại hơn 6.178 trạm y tế xã và tương đương, đạt trên
60% tổng số trạm y tế xã trên toàn quốc. 6 tháng đầu năm 2011, BHXH các tỉnh,
TP đã ký hợp đồng khám chữa bệnh với 2.298 cơ sở y tế, tăng 122 cơ sở, tương
đương 5,6% so với năm 2010. Năm 2010, có 2.176 cơ sở KCB ký hợp đồng khám
chữa bệnh cho người có thẻ BHYT, bao gồm: 1900 cơ sở KCB nhà nước và 276 cơ
sở tư nhân. Số trạm y tế xã thực hiện KCB BHYT là 6.178 trạm chiếm khoảng
60% tổng số trạm y tế xã trên cả nước, tăng 10% so với năm 2009. Sáu tháng đầu
năm 2011, có 2.303 cơ sở KCB ký hợp đồng khám chữa bệnh cho người có thẻ
BHYT, bao gồm: 1.922 cơ sở KCB nhà nước và 381 cơ sở tư nhân. Số trạm y tế xã
thực hiện KCB BHYT là 8.656 trạm chiếm khoảng 80% tổng số trạm y tế xã trên
cả nước, tăng 28% so với năm 2010 .
Tuy nhiên, nó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Tình trạng bệnh viện
quá tải diễn ra phổ biến, nhất là ở các cơ sở tuyến tỉnh, tuyến trung ương. Tình
trạng bệnh nhân phải chờ đợi lâu khi khám chữa bệnh, nằm chung giường bệnh
còn khá phổ biến khiến nhiều người ngại tham gia và sử dụng các dịch vụ do bảo
hiểm y tế chi trả. Đặc biệt tại nhiều vùng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực y
tế còn nhiều hạn chế, nhất là ở tuyến y tế cơ sở và tại các vùng sâu, vùng xa (tỷ lệ
các trạm y tế xã có bác sỹ hiện mới đạt khoảng 70%) .
Theo điểm b khoản 1 Điều 22 Luật BHYT, Nhà nước có chính sách người dân
khám chữa bệnh tại cơ sở y tế tuyến xã. Cụ thể trong trường hợp này sẽ được
hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh. Với mục đích giảm tình trạng quá tải ở các
cơ sở y tế tuyến trên. Nhưng trên thực tế thực hiện, chất lượng khám, chữa bệnh ở
các cơ sở này nhìn chung còn chưa đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân
dân nhất là ở tuyến y tế cơ sở và các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa do điều kiện
về cơ sở vật chất, trang thiết bị, quy định phạm vi chuyên môn, năng lực cán bộ
còn hạn chế. Hầu hết các các bệnh viện đều quá tải, nhất là ở các cơ sở tuyến tỉnh,
tuyến trung ương. Nhiều bệnh viện phải tổ chức khám chữa bệnh ngoài giờ để giải

tế này còn dẫn tới sự mất cân bằng mới là người nghèo đóng góp cho người giàu
hưởng, vì số bà con ở vùng sâu, vùng xa ít có điều kiện đi khám, chữa bệnh, trong
khi ở thành thị lại có điều kiện hơn. Thời gian qua nhiều người được thanh toán chi
phí khám, chữa bệnh tới 400 triệu đồng, cá biệt có người gần 1 tỷ đồng… còn ở
một số vùng nông thôn, khu vực miền núi nhiều khi đi khám bệnh BHYT chỉ được
vài vỉ thuốc cảm, vì ở những khu vực này điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị y
tế đến trình độ của y, bác sĩ có hạn.
Một thiệt thòi nữa cho người có BHYT là, cơ chế quản lý giá thuốc ở Việt Nam
chưa chặt chẽ, khiến giá thuốc luôn cao hơn các nước trong khu vực và giá thuốc ở
một số bệnh viện lại cao hơn giá thị trường, càng tạo gánh nặng cho người dân.
Mối quan hệ giữa BHYT và bệnh viện đáng lẽ phải chung lưng, gắn bó lo cho
người bệnh lại bắt tay khá gượng ép, tình trạng phiền hà, phân biệt đối xử khiến
bệnh nhân BHYT với người khám dịch vụ là nguyên nhân gây đến tình trạng bức
xúc trong người dân. Nhiều người dân hiện vẫn mang tâm lý khi đi khám chữa
bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế sẽ bị nhân viên trong ngành y tế có thái độ thờ ơ, khó
chịu…nên khám tư nhân cho vừa nhanh, vừa thoải mái, tốn kém một chút cũng
được.
1.7. Giám định BHYT
Hiện có khoảng 50% số cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế không có giám định
viên thường trực. Số lượng cán bộ làm công tác giám định còn quá thiếu nên chất
lượng giám định viên hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho biết, hiện số cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế
ngày một tăng lên. Đến năm 2009 đã có 7.928 cơ sở y tế tổ chức khám, chữa bệnh
theo chế độ bảo hiểm y tế, trong đó số cơ sở có giám định viên thường trực chỉ
chiếm khoảng 50% (không tính các trạm y tế xã) . Số lượng giám định viên có
trình độ chuyên môn y, dược trong nhiều năm qua không những không tăng mà
còn có xu hướng giảm do không tuyển dụng được.
Tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, chỉ những bệnh viện
lớn mới bố trí được giám định viên thường trực, với những bệnh viện lượng bệnh
nhân ít hơn thì mỗi giám định viên phải phụ trách từ 2 - 3 bệnh viên, kiêm nhiệm

2.1. Các giải pháp chiến lược, lâu dài
Cơ quan Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố cần chủ động tham mưu, đề xuất với
cấp ủy, chính quyền các giải pháp để hoàn thành chỉ tiêu của chính đơn vị, địa
phương mình. Các giải pháp đưa ra cần đồng bộ, thiết thực phù hợp với điều kiện
cụ thể của từng nơi, từng nhóm đối tượng, trong đó cần chú trọng hơn nữa đến
công tác tuyên truyền, nên coi đây là một trong những giải pháp tích cực góp phần
củng cố, xây đắp niềm tin đối với các tầng lớp nhân dân vào chính sách BHYT.
Trước hết nên đề xuất tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc tiếp
tục tổ chức quán triệt, thực hiện Chỉ thị 38 CT-TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư
TW Đảng về “Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới”, cũng như
những nội dung cơ bản của Luật BHYT nhằm tạo ra một nhận thức chung nhất về
trách nhiệm của các tổ chức cơ sở Đảng, Đoàn thể, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị
trong việc tuyên truyền, vận động để tất cả các đối tượng, mỗi người dân tin tưởng,
tích cực tham gia BHYT.
Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa BHXH các Tỉnh, thành
phố với các Sở, Ban, Ngành, MTTQ, các Đoàn thể tại mỗi địa phương. Chủ động
cung cấp tài liệu tuyên truyền về chính sách BHYT để lồng ghép trong các buổi
sinh hoạt, học tập của từng nhóm đối tượng Hội viên, Đoàn viên và người lao
động, tạo điều kiện để mọi người có nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa nhân đạo sâu
sắc của chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước từ đó thấy rõ được trách
nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong việc tham gia BHYT.
Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, trong đó đáng chú ý là việc tổ chức các
hoạt động tuyên truyền trực tiếp đến các nhóm đối tượng như đối thoại, tọa đàm, tư
vấn giải đáp thắc mắc tại các buổi sinh hoạt của các Đoàn thể,…Cùng với việc
phát huy tối đa vai trò quan trọng của các phương tiện thông soạn, phát hành các
loại ấn phẩm tuyên truyền vừa đa dạng về hình thức, vừa phong phú về nội dung
nhằm tạo ra một sự tác động thường xuyên, nhiều chiều để đông đảo các tầng lớp
nhân dân có thêm cơ hội tìm hiểu đầy đủ hơn về chính sách BHYT, từ đó nâng cao
niềm tin tham gia BHYT.
2.2. Các giải pháp cấp bách, trước mắt cần giải quyết

năng cung ứng dịch vụ y tế, thuốc chữa bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh
cho người tham gia BHYT.
Nên bỏ ngay danh mục thuốc bảo hiểm vì điều này là vô cùng phi lý, nó làm mất
nhiều thời gian và công sức của các cơ sở điều trị. Chúng ta có thể thay thế bằng
việc ban hành danh mục các loại thuốc mà Bộ Y tế cấm sử dụng trong điều trị.
Về việc cấp phát thẻ BHYT, trước hết cần có sự thống nhất giữa các văn bản pháp
luật và phải có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, tránh những cách hiểu khác nhau trong
quá trình áp dụng ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia. Kết hợp với các
biện pháp quản lí, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cán bộ làm công tác
cấp phát thẻ.
Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về BHYT; đẩy mạnh công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm; nhất là những hành vi lạm dụng
hoặc trục lợi quỹ BHYT. Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa
bệnh BHYT thông qua việc tiếp tục thực hiện tốt Chương trình hành động ban
hành kèm theo quyết định 527 của Bộ trưởng Bộ Y tế và xây dựng Đề án nâng cao
chất lượng một cách toàn diện.
Thành lập Hội đồng xây dựng giá viện phí bao gồm thành viên là các chuyên gia
đến từ Bộ Y tế, Bộ Tài chính, BHXH và các đơn vị có liên quan, việc tăng giá viện
phí phải được xây dựng theo lộ trình, công khai, minh bạch.
Đối với công tác thanh quyết toán, kiểm soát quỹ, cần tăng cường đổi mới phương
thức thanh toán: bên cạnh việc tiếp tục nhân rộng thanh toán theo định suất, cần
nghiên cứu áp dụng một số hình thức thanh toán khác đồng thời có tổng kết, đánh
giá việc thực hiện phương thức thanh toán theo định suất.
Đối với công tác cán bộ nên đề ra chiến lược cụ thể, chú trọng đào tạo cán bộ có
chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là cán bộ giám định BHYT. Có sự phối hợp chặt
chẽ giữa cơ quan BHYT và bệnh viện, tạo thuận lợi trong cơ chế thanh toán, đảm
bảo khám chữa bệnh một cách nhanh chóng, hiệu quả, hạn chế những bất cập trong
công tác khám chữa bệnh.
Cơ quan Bảo hiểm Xã hội cần phải hoàn thiện cơ chế chính sách, đẩy mạnh cải
cách hành chính, dỡ bỏ những quy định bó buộc người tham gia BHYT. Đặc biệt là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status