GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
MỤC LỤC
Phần I- NHẬN THỨC ………………………………………………………… … …….3
Phần II- NỘI DUNG……………………………………………… ………………………4
I. Lý do chọn đề tài:……………………………………….……………………… 4
II. Mục đích nghiên cứu:…………………………………… …………………….4
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
IV. Phương pháp nghiên cứu ……………………………….….…………………4
V. Đặc điểm tình hình………………………………………… ………………… 4
VI. Nội dung thực hiện ……………………………….……………………………5
VII. Biện pháp thực hiện ……………………………… …………………………5
1. Nắm vững kiến thức về từ loại ………….……….…… …………………6
2. Nghiên cứu kĩ nội dung cần giảng dạy………………… ………….….10
3. Tổ chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh……… … …11
4. Cung cấp một số mẹo giúp HS phát hiện nhanh các DT, ĐT, TT….13
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
1
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
cả GV trong lĩnh vực chuyên sâu, nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp thụ của các đối tượng
HS khá giỏi.
*
* *
Phần II- NỘI DUNG
I- Lí do chọn đề tài :
Đầu năm học 2010- 2011, dưới sự phân công của BGH nhà trường , tôi được
giao nhiệm vụ chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5C. Sau một thời gian ngắn tiếp nhận
lớp ,tiến hành thu thập các cứ liệu kết hợp với kết quả khảo sát đầu năm môn TV, tôi
thấy vốn kiến thức về TỪ và CÂU, đặc biệt là mảng kiến thức về từ loại của HS còn
rất hạn chế. Các em nắm bắt các khái niệm rất mơ hồ, dẫn đến nhiều sai sót, nhầm lẫn
trong quá trình làm bài. Với suy nghĩ : Làm thế nào để các em dễ dàng phát hiện ra
kiến thức mà không bị nhầm lẫn? Tôi đã quyết định đi sâu tìm hiểu và xây dựng đề
tài : Giúp HS nắm vững kiến thức từ loại (phần DT, ĐT,TT ) trong môn TV lớp 4.
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
3
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
II- Mục đích nghiên cứu :
Giúp HS có kĩ năng phát hiện và phân biệt những kiến thức từ loại một cách
chính xác và nhanh chóng .
III- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng thực nghiệm : HS lớp 4B.
- Đối tượng so sánh, đối chiếu : HS lớp 4C.
- Đối tượng hỗ trợ điều tra : HS lớp 5C.
IV- Phương pháp nghiên cứu :
Kết quả khảo sát cụ thể của lớp 5C ( sĩ số : 29/29 ) như sau :
Kĩ năng
Đạt giỏi
SL %
Đạt khá
SL %
Đạt TB
SL %
Dưới TB
SL %
Tách từ 4 13.8 6 20.7 8 27.6 11 37.9
XĐ từ loại 2 6.9 6 20.7 7 24.1 14 48.3
Kết quả khảo sát cho thấy, số lượng các em xác định đúng từ loại còn ít, nhiều
em vẫn còn nhầm lẫn giữa các DT, ĐT, TT, Đặc biệt, do mảng kiến thức về từ và cấu
tạo từ của các em còn chưa tốt nên nhiều em nhầm tưởng cụm từ là một từ do đó việc
xác định từ loại bị khó khăn, dẫn đến những sai sót tiếp theo. Với kết quả thống kê
này, một vấn đề nảy sinh là để HS làm tốt các bài tập có nội dung từ loại thì buộc HS
phải nắm vững kiến thức về từ và cấu tạo từ. Tuy nhiên, do phạm vi của đề tài nên tôi
tạm gác lại vấn đề này để tập trung nghiên cứu sâu vào nội dung của đề tài đã chọn.
VI- Nội dung thực hiện :
Để khắc phục tình trạng trên, ngay từ đầu tháng thứ 2 của năm học 2010-
2011,tôi đã lên kế hoạch xây dựng chuyên đề : Giúp HS nắm vững kiến thức từ loại
(phần DT, ĐT, TT ) trong môn TV lớp 4-5, nhằm tháo gỡ những khó khăn mà HS
mắc phải và thống nhất trong toàn tổ về phương pháp giảng dạy cũng như cách thức
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
5
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
Khi phân loại DT tiếng Việt, trước hết , người ta phân chia thành 2 loại : DT riêng
và DT chung .
- Danh từ riêng : là tên riêng của một sự vật ( tên người, tên địa phương, tên
địa danh, )
- Danh từ chung : là tên của một loại sự vật (dùng để gọi chung cho một loại
sự vật ). DT chung có thể chia thành 2 loại :
+ DT cụ thể : là DT chỉ sự vật mà ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan
(sách, vở, gió ,mưa, ).
+ DT trừu tượng : là các DT chỉ sự vật mà ta không cảm nhận được bằng các
giác quan ( cách mạng, tinh thần, ý nghĩa, )
Các DT chỉ hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị được giảng dạy trong
chương trình SGK lớp 4 chính là các loại nhỏ của DT chung.
+ DT chỉ hiện tượng :
Hiện tượng là cái xảy ra trong không gian và thời gian mà con người có thể
nhận thấy, nhận biết được. Có hiện tượng tự nhiên như : mưa , nắng, sấm, chớp,
động đất, và hiện tượng xã hội như : chiến tranh, đói nghèo, áp bức, DT chỉ hiện
tượng là DT biểu thị các hiện tượng tự nhjên ( cơn mưa, ánh nắng, tia chớp, ) và
hiện tượng xã hội (cuộc chiến tranh, sự đói nghèo, ) nói trên.
+ DT chỉ khái niệm :
Chính là loại DT có ý nghĩa trừu tượng ( DT trừu tượng- đã nêu ở trên). Đây
là loại DT không chỉ vật thể, các chất liệu hay các đơn vị sự vật cụ thể ,mà biểu thị
các khái niệm trừu tượng như : tư tưởng, đạo đức, khả năng, tính nết, thói quen,
quan hệ, thái độ,cuộc sống, ý thức , tinh thần, mục đích, phương châm,chủ
trương, biện pháp, ý kiến, cảm tưởng, niềm vui, nỗi buồn, tình yêu, tình bạn, Các
Trong cụm DT, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho DT các ý nghĩa về số và
lượng. Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật mà DT biểu thị hoặc xác
định vị trí của sự vật ấy trong gian hay thời gian.
1.2) Động từ ( ĐT ):
ĐT là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
V.D : - Đi, chạy ,nhảy, (ĐT chỉ hoạt động )
- Vui, buồn, giận, (ĐT chỉ trạng thái )
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
8
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
*Những lưu ý về ĐT chỉ trạng thái :
- Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của ĐT chỉ trạng thái là : nếu như ĐT chỉ hoạt
động, hành động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau (ăn xong, đọc xong , ) thì
ĐT chỉ trạng thái không kết hợp với xong ở phía sau (không nói : còn xong, hết
xong, kính trọng xong, ). Trong TV có một số loại ĐT chỉ trạng thái sau :
+ ĐT chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại) :còn,hết,có,
+ ĐT chỉ trạng thái biến hoá : thành, hoá,
+ ĐT chỉ trạng thái tiếp thụ : được, bị, phải, chịu,
+ ĐT chỉ trạng thái so sánh : bằng, thua, hơn, là,
- Một số “nội ĐT” sau đây cũng được coi là ĐT chỉ trạng thái : nằm, ngồi, ngủ,
thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi ,đứng , lăn, lê, vui, buồn , hồi hộp, băn khoăn, lo
lắng, Các từ này có một số đặc điểm sau :
+ Một số từ vừa được coi là ĐT chỉ hành động, lại vừa được coi là ĐT chỉ trạng
thái.
ĐTngoại động Bổ ngữ
- Để phân biệt ĐT nội động và ĐT ngoại động, ta đặt câu hỏi : ai ? cái gì ?
đằng sau ĐT. Nếu có thể dùng 1 bổ ngữ trả lời trực tiếp mà không cần quan hệ từ thì
đó là ĐT ngoại động (V.D2), nếu không được thì đó là ĐT nội động (V.D 1)
Hỏi : yêu thương ai ? > yêu thương tôi.
Lo lắng cho ai ? > lo lắng cho tôi.( không thể hỏi : lo lắng ai ? )
*Cụm ĐT:
- ĐT thường kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh (ở phía trước )và một số từ ngữ
khác để tạo thành cụm ĐT .Cụm ĐT là loại tổ hợp từ do ĐT với một số từ ngữ phụ
thuộc nó tạo thành. Nhiều ĐT phải có các từ ngữ phụ thuộc đi kèm, tạo thành cụm
ĐT mới trọn nghĩa.
Trong cụm ĐT, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho ĐT các ý nghĩa: quan hệ
thời gian; sự tiếp diễn tương tự ;sự khuyến khích hoặc ngăn cản hành động; sự khẳng
định hoặc phủ định hành động, Các phụ ngữ ở phần sau bổ sung cho ĐT các chi tiết
về đối tượng, hướng, địa điểm, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện và
cách thức hành động.
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
10
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
1.3) Tính từ (TT) :
TT là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng
thái,
*Có 2 loại TT đáng chú ý là :
- TT chỉ tính chất chung không có mức độ ( xanh, tím, sâu, vắng, )
- TT chỉ tính chất có xác định mức độ ( mức độ cao nhất ) (xanh lè, tím ngắt,
sâu hoắm, vắng tanh, )
Như vậy, đối với HS tiểu học, khi phân biệt ( một cách tương đối) từ chỉ đặc
điểm và từ chỉ tính chất, GV có thể tạm thời cho rằng : Từ chỉ đặc điểm thiên về nêu
các đặc điểm bên ngoài , còn từ chỉ tính chất thiên về nêu các đặc điểm bên trong
của sự vật, hiện tượng. Một quy ước mang tính sư phạm như vậy được coi là hợp lí
và giúp HS tránh được những thắc mắc không cần thiết trong quá trình học tập.
- Từ chỉ trạng thái :
Trạng thái là tình trạng của một sự vật hoặc một con người, tồn tại trong một
thời gian nào đó. Từ chỉ trạng thái là từ chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, hiện tượng
trong thực tế khách quan.
VD : Trời đang đứng gió .
Người bệnh đang hôn mê.
Cảnh vật yên tĩnh quá.
Mặt trời toả ánh nắng rực rỡ.
Xét về mặt từ loại, từ chỉ trạng thái có thể là ĐT, có thể là TT hoặc mang đặc
điểm của cả ĐT và TT ( từ trung gian ), song theo như định hướng trong chương
trình SGK, ở cấp tiểu học , chúng ta thống nhất chỉ xếp chúng vào nhóm ĐT để HS
dễ phân biệt.
*Cụm TT :
Tính từ có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ như : rất, hơi, lắm , quá, cực kì,
vô cùng, để tạo tạo thành cụm tính từ ( khả năng kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh (
như ĐT ) ngay trước nó là rất hạn chế )
Trong cụm TT, các phụ ngữ ở phần trước có thể biểu thị quan hệ thời gian; sự
tiếp diễn tương tự, mức độ của đặc điểm, tính chất, sự khẳng định hay phủ định.Các
phụ ngữ ở phần sau có thể biểu thị vị trí, sự so sánh, mức độ, phạm vi hay nguyên
nhân của đặc điểm, tính chất.
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
12
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
13
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
- Ở phần Nhận xét, BT 2 có thể bổ sung từ ngữ Những lâu đài vào yêu cầu c).
Sau khi HS trình bày kết quả đúng, có thể yêu cầu HS tìm những từ ngữ đồng nghĩa
với các từ ngữ các em vừa tìm được trong bài, chẳng hạn :
+ Thị trấn : nhỏ ( nhỏ bé, )
+ Vườn nho : con con ( be bé, )
- Ở BT 1 phần Luyện tập, sau khi HS tìm được các TT trong đoạn văn, để khắc
sâu tác dụng của các TT vừa tìm được, có thể yêu cầu HS trả lời câu hỏi : Những từ
ngữ đó bổ sung ý nghĩa cho từ ngữ nào ? Chúng có tác dụng gì ? Nếu không có
những TT đó , đoạn văn sẽ thế nào ?
- Ở BT 2 phần Luyện tập, nên nêu yêu cầu và hướng dẫn HS đặt câu hỏi gợi tả
được đặc điểm của bạn ( người thân ) hoặc cây cối một cách phong phú, sinh động.
3.2) Đối với đối tượng HS TB, yếu :
Nếu đối tượng HS của lớp chủ yếu là TB, yếu, GV cần dựa vào đặc điểm của
HSvà đặc điểm của từng bài tập, của cả bài dạy để có những điều chỉnh cho phù hợp.
Chẳng hạn, ở bài Tính từ nêu trên, có thể giảm độ khó cho HS yếu , HS trung
bình như sau :
- Ngữ liệu cho phần Nhận xét và bài tập cho phần Luyện tập có dung lượng khá
lớn. HS trung bình ,yếu thường có kĩ năng đọc chậm, như vậy sẽ ảnh hưởng đến thời
gian thực hiện nhiệm vụ của tiết học. Để khắc phục tình trạng này, khi hướng dẫn
phần này, GV nên gọi một HS có khả năng đọc lưu loát đọc đoạn văn, những HS
khác đọc thầm theo. Nếu lớp không có HS đọc tốt, GV có thể đọc đoạn văn trước lớp.
đầu tiên.
Khi hướng dẫn HS tìm từ, GV cần cho HS phát hiện vị trí của từ vừa tìm được
bằng cách đặt câu hỏi, VD : Từ miêu tả đặc điểm nhỏ em vừa tìm được đứng ở vị trí
nào ?( đứng sau từ chỉ sự vật ). Từ đó các em hiểu, thao tác cần thực hiện là: Tìm
trong những từ đứng liền sau từ chỉ sự vật, từ nào miêu tả đặc điểm thì ghi lại. GV
cũng có thể gợi ý bằng cách đặt câu hỏi : Ác – boa là một thị trấn như thế nào ?
( HS tìm từ trong chuyện để trả lời ). GV ghi mẫu lên bảng.
Sau khi HS làm xong bài tập 2, GV nên chốt ý : Các từ các em vừa tìm được ở
yêu cầu a) và b) miêu tả đặc điểm, tính chất của người và sự vật. Đó là những TT.
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
15
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
Với BT 3, để HS hiểu kĩ ,nên yêu cầu HS so sánh : đi lại với đi lại nhanh
nhẹn. HS sẽ phát hiện từ nhanh nhẹn bổ sung ý nghĩa cho từ đi lại. Qua đó GV chốt
lại : Ở BT 3, từ nhanh nhẹn miêu tả đặc điểm cho hoạt động đi lại; nhanh nhẹn là
TT.
Để chuyển tiếp sang phần ghi nhớ, GV có thể hỏi : Qua BT 2 và 3, em hãy
cho biết thế nào là TT ?
- Phần Luyện tập : BT 1 có thể hướng dẫn cách làm tương tự như BT 2 ở
phần Nhận xét và chỉ yêu cầu HS thực hiện phần a) theo đúng chuẩn KTKN, khuyến
khích HS khá giỏi làm cả phần b).
Ở BT 2, HS yếu thường đặt câu không đúng yêu cầu. GV nên hướng dẫn trình
tự các thao tác cần thực hiện , như : xác định ý, xác định TT cần dùng rồi mới đặt câu
theo đúng yêu cầu của đề bài.
GV nên nêu các câu hỏi gợi ý như :
Để phân biệt các DT, ĐT,TT dễ lẫn lộn, ta thường dùng các phép liên kết ( kết
hợp ) với các phụ từ.
*Danh từ :
- Có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng như : mọi, một, hai, ba, những,
các, ở phía trước ( những tình cảm, những khái niệm, những lúc, những nỗi
đau, )
- DT kết hợp được với các từ chỉ định : này, kia, ấy, nọ ,đó, ở phía sau ( hôm
ấy, trận đấu này, tư tưởng đó, )
- DT có khả năng tạo câu hỏi với từ nghi vấn “ nào” đi sau ( lợi ích nào ? chỗ
nào? khi nào? )
- Các ĐT và TT đi kèm : sự, cuộc, nỗi, niềm, cái, ở phía trước thì tạo thành
một DT mới ( sự hi sinh, cuộc đấu tranh, nỗi nhớ, niềm vui, )
- Chức năng ngữ pháp thay đổi cũng cũng dẫn đến sự thay đổi về thể loại:
V.D: Sạch sẽ là mẹ sức khoẻ. ( sạch sẽ (TT) đã trở thành DT )
* Động từ :
- Có khả năng kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh : hãy , đừng , chớ, ở phía trước
( hãy nhớ, đừng băn khoăn, chớ hồi hộp, )
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
17
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
- Có thể tạo câu hỏi bằng cách đặt sau chúng từ bao giờ hoặc bao lâu (TT không
có khả năng này ) (đến bao giờ? chờ bao lâu? )
*Tính từ :
- Có khả năng kết hợp được với các từ chỉ mức độ như : rất , hơi, lắm, quá, cực
kì, vô cùng, (rất tốt, đẹp lắm, )
2. Khi HS làm các bài tập cụ thể, GV tổ chức cho HS làm bằng nhiều hình
thức khác nhau như :
- Làm trên bảng lớp và bảng con.
- Làm theo nhóm hoặc cá nhân.
- Làm trong giấy nháp và vở bài tập (VBT có thể sử dụng như phiếu học tập)
- Làm trên phiếu học tập.
3. Có những bài tập không chỉ có một giải đúng duy nhất, trong những trường
hợp ấy, GV phải khéo léo xác nhận các lời giải đúng và động viên kịp thời những lời
giải hay.
4. SGV chỉ là tài liệu tham khảo có tính chất định hướng, vì thế GV cần khai
thác triệt để SGK song phải linh hoạt và sáng tạo.
5. GV phải tạo cơ hội để HS phát hiện và giải quyết vấn đề, không làm việc hộ
HS, không nói nhiều trong tiết LTVC mà phải cho HS được làm nhiều, nói nhiều. GV
cần tiết kiệm thời gian làm việc của chính mình bằng cách nói ít song phải nói
chuẩn, nói đúng.
6. GV cần linh động vận dụng phối hợp nhịp nhàng các phương pháp và các
hình thức tổ chức dạy học để tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn HS tích
cực tham gia các hoạt động học tập, tự nhiên lĩnh hội kiến thức mới.
VIII- Kết quả :
Sau khi chuyên đề " Giúp HS nắm vững kiến thức từ loại (Phần DT, ĐT,
TT) trong môn Tiếng Việt lớp 4" được triển khai xuống lớp thực nghiệm, kết quả
chúng tôi thu được thật đáng mừng. Cùng với việc cung cấp đầy đủ các kiến thức cơ
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
19
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
Đạt khá
SL %
Đạt TB
SL %
Dưới TB
SL %
Tách từ 5 17,8 11 39,3 11 39,3 1 3,6
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
20
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
XĐ từ loại 4 14,3 12 42,8 11 39,3 1 3,6
Qua việc tiến hành khảo sát, đối chiếu cho thấy kết quả học tập của học sinh
được áp dụng đề tài so với đối tượng HS không được áp dụng đã có sự khác biệt rõ
rệt.
Kết quả đạt được đã cho thấy sự đúng đắn và tính hiệu quả, giá trị thực thi của
đề tài. Nó không những tháo gỡ bế tắc lâu nay của giáo viên đứng lớp, mà còn góp
phần giải quyết gần như triệt để những nhầm lẫn mà học sinh luôn gặp phải khi học
đến nội dung này.
IX- Bài học kinh nghiệm :
Qua nghiên cứu và thực nghiệm đề tài, tôi nhận thấy, để học sinh nắm vững
kiến thức từ loại (Phần DT, ĐT, TT) nói riêng và kiến thức về phần Từ nói chung,
giáo viên cần làm tốt một số yêu cầu sau:
- Nắm vững mảng kiến thức cần truyền thụ: Có nắm vững kiến thức thì GV
mới có đủ bản lĩnh giúp các em không chỉ biết đến những từ ngữ đơn điệu có sẵn
trong SGK, mà còn tự tin bước ra khỏi những trang sách, đi vào thực tế cuộc sống với
vô vàn vốn từ ngữ phong phú của Tiếng Việt, mà không sợ lầm đường lạc lối.
1. Về phía nhà trường:
- Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề bồi dưỡng, nâng cao
trình độ chuyên môn cho giáo viên.
- Hàng năm tổ chức các chuyên đề về phần TỪ và CÂU theo từng nội dung cụ
thể để phục vụ tốt cho công tác giảng dạy ở mảng kiến thức này.
- Khi nhập các đầu sách, bên thư viện của nhà trường cần lưu ý chọn lọc các
loại sách tham khảo có chất lượng của các tác giả, nhà xuất bản có uy tín để phục vụ
tốt cho giáo viên và học sinh trong việc giảng dạy và học tập.
2. Về phía giáo viên:
- Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân bằng
cách tự học, tự bồi dưỡng, tự cập nhật các thông tin và phương pháp mới thông qua
đồng nghiệp, qua sách tham khảo, qua mạng internet,…
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
22
GIP HC SINH NM VNG KIN THC T LOI (PHN DANH T, NG T, TNH T)
TRONG MễN TING VIT LP 4
.
- Khi lờn k hoch bi hc cn chun b k cng ni dung. Tham kho thờm cỏc
t liu cú liờn quan b sung vo bi dy cho tit hc tr nờn phong phỳ, a dng,
hp dn hc sinh.
- Giỏo viờn khụng nờn quỏ l thuc vo sỏch hng dn ca B giỏo dc. Cn
mnh dn tỡm ra cỏc cỏch khỏc nhau nhm giỳp hc sinh nm c mc tiờu bi hc
mt cỏch nhanh nht, nh nhng nht v y nht.
Lời kết:
Nh vậy, để có đợc kết quả cao trong học tập của học sinh thì
m Th Ngõn m Th Ngõn Trng Tiu hc Hong Hoa Thỏm n Thi Hng Yờn
24
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC TỪ LOẠI (PHẦN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ)
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học – Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học – Lê Phương Nga – Nhà xuất bản Giáo dục.
3. SGK Tiếng Việt lớp 4/ Tập 1 – Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Các Chuyên đề Giáo dục Tiểu học – Nhà xuất bản Giáo dục.
Đàm Thị Ngân – Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám – Ân Thi – Hưng Yên
25