PHÁT HUY HIỆU QUẢ của tư LIỆU dạy học TRỰC QUAN TRONG TIẾT đọc văn 12 - Pdf 22

A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lý do chọn đề tài:
- Vài năm trở lại đây, ngành giáo dục cả nước đẩy mạnh việc đổi mới
phương pháp trong dạy học theo tinh thần phát động của Bộ Giáo dục & Đào tạo.
Riêng những giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn cũng có sự hưởng ứng tích cực và đã
đạt được một số kết quả đáng khích lệ.
- Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là việc dạy và học bộ môn Ngữ
văn trong nhà trường còn một số hạn chế nhất định. Đặc biệt là tình trạng học sinh
ít hoặc không hứng thú, thậm chí quay lưng lại với môn văn ngày càng phổ biến.
Đây là một điều mà khiến cho những nhà giáo dục tâm huyết nói chung cũng như
những giáo viên dạy văn nói riêng vô cùng băn khoăn và trăn trở.
- Là một giáo viên dạy văn, cũng là một người yêu nghề, yêu trẻ, tôi cũng có
cùng nỗi niềm băn khoăn và trăn trở như trên. Qua một thời gian công tác, tôi đã áp
dụng nhiều phương pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy- học văn. Đặc
biệt, tôi luôn cố gắng làm sao để tạo ra sự hứng thú cho các em học sinh trong giờ
học văn.
- Xuất phát từ những điều nói trên, tôi đã cố gắng nghiên cứu, tham khảo
đồng thời tạo ra và áp dụng cho mình một phương pháp dạy học mới để giờ học
văn thật sự là giờ học lí thú và đạt được kết quả cao. Phương pháp mà tôi chọn có
đề tài đó là: “Phát huy hiệu quả của tư liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn
lớp 12”
II. Mục đích nhiên cứu:
- Học sinh lớp 12 là một đối tượng khá quan trọng. Ngoài việc hình thành
thói quen học tốt ở học sinh, tạo được sự hứng thú trong giờ học văn nói chung và
tiết đọc văn nói riêng thì việc làm sao cho các em đạt được kết quả cao trong kì thi
tốt nghiệp THPT cần được quan tâm.
- Qua một thời gian giảng dạy 12, tôi cũng đã từng áp dụng đề tài “Phát huy
hiệu quả của tư liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn lớp 12” và đạt được một
số kết quả nhất định. Qua đó, tôi cũng đã tự nâng cao được năng lực chuyên môn
của bản thân nhưng vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc cần được khắc phục.
Chính vì điều đó, tôi muốn thông qua việc nghiên cứu, viết sáng kiến kinh nghiệm

- Vì vậy, mỗi giáo viên khi lên lớp không phải chỉ chú ý lo làm sao giảng bài
cho đủ, cho hết lượng kiến thức, kịp phân phối chương trình, quan trọng hơn là họ
phải tìm tòi những biện pháp mới để tạo sự hứng thú cho học sinh ngày càng yêu
thích học môn văn và nâng cao hon chất lượng của bộ môn. Vì vậy phương pháp
“Phát huy hiệu quả của tư liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn lớp 12”cần
được nghiên cứu và áp dụng.
II. Cơ sở thực tiễn:
- Trên thực tế, nhiều học sinh trung học phổ thông nói chung và học sinh ở
khối lớp 12 nói riêng chưa mặn mà với tiết đọc văn. Có chăng, các em chỉ là học
đối phó, học cho xong. Vì vậy khối lượng kiến thức và kĩ năng mà học sinh thu
nhận được chẳng được bao nhiêu. Lâu dần, dẫn đến tình trạng có một số học sinh
học yếu môn văn một cách nghiêm trọng.
- Nhắc đến nguyên nhân thì có nhiều và hầu như tất cả chúng ta đều đã biết.
Ở đây, tôi chỉ xin bàn đến biện pháp khắc phục. Và một trong những đề xuất đó là
việc nâng cao chất lượng dạy học văn bằng cách sử dụng hiệu quả các tư liệu dạy
học trực quan trong tiết đọc văn, đặc biệt là tiết đọc văn văn học Việt Nam lớp 12.
- Thực tiễn cho thấy, tiết đọc văn sẽ hấp dẫn, đạt hiệu quả cao hơn, tạo được
sự hứng thú ở học sinh nếu như người giáo viên biết sử dụng một cách hợp lí
những tư liệu dạy học trực quan khi khai thác văn bản. Tư liệu dạy học trực quan sẽ
giúp các em có bước cảm nhận đầu tiên bằng sự trực giác trước khi đến với lớp
nghĩa ẩn dưới tầng ngôn từ. Điều đó sẽ giúp các em có thêm một bước để khắc sâu
kiến thức.
- Chính vì điều đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Phát huy hiệu quả của tư
liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn lớp 12”nhằm nâng cao chất lượng dạy-
học văn trong nhà trường, nhất là đối với lớp 12.
III. Thực trạng:
- Vài năm trở lại đây, chúng ta thấy được kết quả học văn không cao. Điều
đó thể hiện phần nào qua kết quả của các kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Cùng chung với thực trạng nói trên, học sinh tỉnh Long An của chúng ta cũng có
3

trong quá trình dạy học nhằm tạo ra các biểu tượng, hình thành những khái niệm
cho học sinh thông qua sự tri giác trực tiếp thí dụ như các vật tự nhiên cây, hoa quả,
mô hình, biểu đồ, phim ảnh để dạy học
1.3.Phương tiện dạy học:
- Phương tiện dạy học là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng
trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học đó là: các vật thật, các vật
tượng trưng ( bản đồ, sơ đồ, biểu đồ), các vật tạo hình ( tranh ảnh, mô hình, hình
vẽ, phim). Thí nghiệm và các thiết bị thí nghiệm, các phương tiện mô tả đối tượng
4
và hiện tượng bằng lời, bằng kí hiệu ( sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tài liệu in,
các công thức, phương trình ); các phương tiện kỹ thuật dạy học ( phương tiện nghe
nhìn, máy vi tính, máy chiếu, camera )
- Như khái niệm đã nói ở trên, phương tiện dạy học là một khái niệm rất
rộng. Và rõ ràng tư liệu dạy học cũng là một phần của phương tiện dạy học. Nhưng
ở đây với nội dung sáng kiến kinh nghiệm này, người viết chỉ xin đề cập đến vấn
đề tư liệu dạy học trực quan.
2. Một số tư liệu dạy học trực quan:
- Như đã nói ở trên, các tư liệu dạy học trực quan là rất nhiều. Nhưng ở đây
tôi chỉ xin đề cập đến những tư liệu dạy học trực quan có liên quan đến bộ môn và
thông dụng, đồng thời thông qua thực tế sử dụng mà tôi cảm thấy đạt được nhiều
hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, vì nội dung có hạn nên tôi chỉ xin đưa ra kết quả ưng ý
nhất cho một tư liệu dạy học trực quan mà tôi đã áp dụng hiệu quả nhất đó là tư liệu
dạy học trực quan bằng trò chơi.
2.1. Hình ảnh:
- Việc sử dụng hình ảnh trong giảng dạy bộ môn Ngữ văn đã được chú ý từ
rất lâu. Và nó cũng được Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn
của các cấp học, trong đó có lớp 12. Và nó đã giúp ích phần nào cho học sinh trong
việc nắm bắt một số thông tin cần thiết khi tiếp cận văn bản văn học. Hình ảnh
minh họa có thể sử dụng vào một số hoạt động sau: để giới thiệu bài; để minh họa,
tìm hiểu một chi tiết, nội dung; để củng cố bài,

thì phải kèm theo lời bình của các em; thứ hai, phải yêu cầu các em làm việc theo
nhóm và làm việc ngoài giờ, có sự ghi nhận, báo cáo sự nghiêm túc trong quá trình
thảo luận của các thành viên trong nhóm.
2.2. Sơ đồ, bản đồ:
- Việc sử dụng sơ đồ trong việc dạy học văn cũng không phải xa lạ gì tuy còn
là khá ít. Còn việc sử dụng bản đồ ( gồm bản đồ địa lí và bản đồ tư duy- một khái
niệm mới xuất hiện gần đây) trong việc dạy học văn là rất ít. Và cả hai tư liệu này
hầu như không xuất hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn hay đồ dùng dạy học dành
cho môn văn trong phòng thiết bị, thư viện của trường học. Tuy nhiên, khi xét đến
lợi ích thiết thực mà nó mang lại là khá lớn nên việc nên cần sử dụng nó trong một
số giờ đọc văn là rất cần thiết.
- Từ đó, người viết xin có một số ý kiến đề xuất như sau:
+ Về việc sử dụng sơ đồ: nó rất thích hợp cho các tiết ôn tập văn học hoặc
phần củng cố bài học của tiết đọc văn. Việc sử dụng sơ đồ để sơ đồ hóa nội dung
bài học giúp học sinh nắm vững kiến thức một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng và tiết
kiệm được nhiều thời gian.
+ Về việc sử dụng bản đồ địa lí: như chúng ta đã biết văn học và lịch sử, kể
cả địa lí có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chính vì vậy, khi dạy những bài văn có
liên quan đến kiến thức lịch sử hay địa lí thì chúng ta cần phải sử dụng một số bản
đồ thích hợp để minh họa.
* Ví dụ: Khi dạy bài Tây Tiến- Quang Dũng khi cần thuyết minh về địa bàn
hoạt động của đoàn quân Tây Tiến ta có thể minh họa bằng bản đồ hành quân của
đội quân này. Hay khi dạy bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?- Hoàng Phủ Ngọc
Tường Ta có thể minh họa thủy trình sông Hương bằng bản đồ để cho học sinh thấy
rõ hơn về dòng chảy của dòng sông này.
6
+ Việc sử dụng bản đồ tư duy: Đây là một khái niệm mới, nó rất thích hợp
với cách học hiện đại, nhất là các em học sinh 12- khi mà áp lực học tập rất lớn. Nó
là hình thức ghi chép nhằm: tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý
chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề, chương, phần, giai đoạn…, là

của các tư liệu liên quan đến công nghệ thông tin mang lại là rất lớn. Nó giúp cho
giáo viên có thể dễ dàng minh họa bài dạy của mình; giúp giáo viên chủ động tiết
kiệm thời gian; giúp cho học sinh hiểu hơn về bài học; giúp học sinh cảm thấy
hứng thú hơn trong giờ học,… Sau đây, người viết xin đề cập đến một số tư liệu
7
công nghệ thông tin quen thuộc như: đoạn video, đoạn âm thanh Mp3, hình ảnh,
bài giảng Powerpoint, bài giảng Violet,…
* Ví dụ: Ở chương trình Ngữ văn 12, khi dạy bài Rừng xà nu- Nuyễn Trung
Thành, giáo viên trình chiếu những hình ảnh về Tây Nguyên trong các trận chiến ác
liệt thời kì chống Mĩ hay các hình ảnh ảnh của cánh rừng xà nu bát ngát, bạt ngàn;
khi dạy bài Vợ nhặt- Kim Lân ta có thể chiếu đoạn Video về nạn đói khủng khiếp
năm 1945 để học sinh có thể hình dung về bối cảnh của nạn đói ấy; hay khi dạy về
bài thơ Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm ta có thể cho học sinh xem các đoạn Video
hoặc hình ảnh có liên quan đến Vịnh Hạ Long, hòn trống mái, núi bút non nghiên,
…để minh họa bài học.
2.5. Trò chơi:
- Từ xưa đến nay, do mọi người quá đề cao tính chất nghiêm túc của một tiết
học mà yếu tố trò chơi ít được nhắc đến và áp dụng. Nếu có chăng cũng dành cho
những tiết ngoại khóa hoặc tiết học ngoài giờ lên lớp hay hướng nghiệp,…Ở đây,
người viết xin mạnh dạn đề xuất: nếu thấy hợp lí thì cần áp dụng hình thức trò chơi
vào một số tiết học cụ thể để tạo ra không khí vui tươi và đạt hiệu quả cao trong tiết
học. Riêng đối với đối tượng học sinh 12, vì áp lực học tập và áp lực thi là khá lớn
thì hình thức tổ chức trò chơi trong tiết học cần được phát huy. Đặc biệt ở những
tiết đọc văn. Một số trò chơi mà người viết xin đề xuất: Trò chơi ô chữ, trò chơi
bốc thăm trả lời có thưởng, trò chơi ai nhanh hơn,…
* Ví dụ: Trong một số tiết bám sát, hoặc tiết Ôn tập phần văn học, giáo viên
chủ động soạn một số câu hỏi theo ba mức độ: tái hiện, thông hiểu, vận dụng và
mỗi loại câu hỏi ấy cho vào một hộp. Sau đó chúng ta quy định như sau: mỗi học
sinh khi lên tham gia trò chơi thì phải bốc thăm và trả lời câu hỏi ở ô thứ nhất
trước, trả lời được câu hỏi ở ô thứ nhất sẽ sang bốc thăm câu hỏi ở ô thứ hai và cuối

Số học sinh
không hứng
thú
Số học
sinh hứng
thú
37 30
(81 %)
7
(9 %)
32
(86.4 %)
5
(13.6 %)
8
(21.6 %)
29
(79.4 %)
+ Thông qua kết quả trên, chúng ta có thể thấy rằng sau khi học sinh tiếp xúc
với tư liệu dạy học trực quan bằng trò chơi đã có sự chuyển biến rõ rệt theo chiều
hướng tích cực. Và tôi tin rằng kết quả ấy đã phần nào góp phần tạo nên kết quả
học tập rất đáng khích lệ của các em học sinh.
2.6. Tham quan thực tế:
- Có thể nói rằng, tham quan thực tế là một hình thức rất tích cực sau những
tiết học lí thuyết trên lớp. Thông qua các buổi tham quan thực tế, giáo viên và học
sinh có thể hiểu hơn nhưng gì mình đã dạy và học, đồng thời họ có thể sưu tầm
thêm một số tư liệu cần thiết cho mình. Tuy nhiên, có một điều rằng, việc tham
quan thực tế là rất tốn kém, mất khá nhiều thời gian của giáo viên và học sinh vì thế
hình thức này xưa nay ít được áp dụng.
* Ví dụ: Khi dạy xong các bài đọc văn thuộc phần văn học Việt Nam, chúng

bình giảng, lời dẫn dắt hợp lí để tránh lúng túng hoặc mất thời gian trong lúc tìm
hiểu văn bản.
4.1.2. Đối với việc sử dụng sơ đồ:
- Sơ đồ dùng để sơ đồ hóa kiến thức nên nó chỉ thích hợp cho các nội dung
củng cố, bài ôn tập hay bài khái quát.
- Sơ đồ cần mang tính thẩm mỹ, khoa học, ngắn gọn và bám sát nội dung bài
học.
4.1.3. Đối với việc sử dụng bản đồ:
- Đối với bản đồ địa lí, lịch sử:
+ Trước khi sử dụng bản đồ này, giáo viên cần chú ý bản đồ phải thích hợp
với nội dung bài dạy.
+ Người giáo viên phải có những kiến thức tối thiểu về lĩnh vực lịch sử, địa
lí có liên quan.
- Đối với bản đồ tư duy:
+ Bản đồ phải cô động, súc tích và mang tính thẩm mỹ.
+ Tránh ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
+ Tránh ghi chép quá nhiều ý không cần thiết.
+ Tránh dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu.
10
4.1.4. Đối với việc sử dụng bảng phụ:
- Người giáo viên cũng nên tránh lạm dụng mà phải sử dụng vào các tiết học
phù hợp.
- Bảng phụ tuy thiết kế khá đơn giản nhưng cần phải đảm bảo tính thẩm mỹ
và khoa học.
- Những nội dung thể hiện trên bảng phụ phải đơn giản, ngắn gọn và bám sát
nội dung bài học.
4.1.5. Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin:
- Người giáo viên phải có kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin.
- Việc sử dụng tư liệu công nghệ thông tin không được chiếm quá nhiều thời
gian ảnh hưởng đến tiết dạy.

- Phải xem tư liệu trực quan như một loại hình kiến thức riêng biệt cần được
nghiên cứu, khai thác, sử dụng chứ không phải là tư liệu trực quan minh hoạ đơn
thuần.
- Muốn sử dụng tốt và có được những đồ dùng trực quan có giá trị về thẩm
mỹ, nội dung, mang tính giáo dục cao, người giáo viên cần phải thường xuyên đọc
báo, nghe đài, xem truyền hình, tìm hiểu những thông tin trên mạng Internet, tìm
hiểu tình hình địa phương để nắm bắt kịp thời những tin tức thời sự mới nhất, chính
xác nhất để đưa vào bài giảng hợp lí nhất và hay nhất.
- Cần có định hướng sử dụng hợp lí cho từng phương tiện trực quan ở từng
bài dạy.
- Cần tránh quá lạm dụng làm mất đi đặc trưng của bộ môn.
- Cần uốn nắn kịp thời những suy nghĩ lệch lạc của học sinh khi quan sát,
tiếp cận tư liệu trực quan.
- Kết hợp linh hoạt với phương pháp dạy truyền thống như phát vấn, bình
giảng để đạt được hiệu quả cao nhất.
- Để đảm bảo tính khoa học và sư phạm, giáo viên cần chú ý đến nguồn gốc
xuất xứ của tư liệu trực quan mà mình chuẩn bị sử dụng.
5. Một số khó khăn khi sử dụng tư liệu trực quan:
- Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, các thiết bị phục vụ cho giảng dạy
còn hạn chế như máy tính, máy chiếu, phòng chức năng, hội trường,…
- Việc chuẩn bị tốt cho một tiết dạy có sử dụng đồ dùng dạy học một cách
hiệu quả người giáo viên phải hao tốn rất nhiều thời gian, công sức, có khi cả tiền
bạc .
- Kỹ năng sử dụng, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học từ đồ dùng dạy học của
học sinh còn yếu.
- Một số tư liệu dạy học và thiết bị hiện đại còn mới mẻ đối với nhiều giáo
viên.
- Tập huấn của sở Giáo dục & Đào tạo về đổi mới phương pháp nói chung và
cách thức sử dụng hiệu quả tư liệu dạy học trực quan nói riêng còn hạn chế.
12

Đầu HK I Cuối năm Cuối HK I Cuối HK II
17 ( 45.9%) 28 (75.6 %) 2 ( 7.4%) 15 ( 40.5%)
- Một điều đáng khích lệ là tỉ lệ số học sinh có hứng thú với giờ đọc văn và
số học sinh có điểm trung bình môn từ 6.5 trở lên qua hai học kì đã tăng lên đáng
kể. Tuy không thể nói rằng việc sử dụng tư liệu dạy học trực qua là điều duy nhất
13
để làm thay đổi kết quả trên nhưng nó cũng là một trong những yếu tố trong rất
nhiều yếu tố để tạo nên điều đó.
II. Kinh nghiệm:
- Giáo viên cần không ngừng học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, tìm các
thông tin mới, hấp dẫn từ nhiều nguồn.
- Giáo viên cũng cần nắm vững tâm lí học sinh, gần gũi, chuyện trò cùng các
em đển nắm bắt thái độ, nguyện vọng của các em đối với bộ môn cũng như giờ học
Ngữ văn.
- Trước hết giáo viên phải nhận thức đúng và đầy đủ vai trò của việc sử dụng
tư liệu dạy học trực quan vào đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Khi dạy giáo án điện tử giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi bài và
khắc sâu chuẩn kiến thức kỹ năng.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học không phải là một
phương pháp mới mà chỉ là sự hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học bằng các công
cụ, phương tiện.
- Giáo viên phải thường xuyên trao đổi với tổ chuyên môn để cùng trao đổi
kinh nghiệm, bàn luận để khắc phục kịp thời những vướng mắc.
- Giáo viên phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của học sinh và kịp thời
chỉnh sửa hợp lí.
III. Đề xuất và kiến nghị:
- Sở cần giao cho nhà trường chủ động mua sắm trang thiết bị dạy học nhằm
đáp ứng nhu cầu thực tế và đảm bảo tính thiết thực.
- Sở cần có những buổi tập huấn về nâng cao tính hiệu quả trong việc sử
dụng tư liệu dạy học trực quan.

III. Thực trạng…………………………………….….………………….…3
IV. Một số biện pháp nhằm phát huy hiệu quả của tư liệu dạy học
trực quan trong tiết đọc văn- văn học Việt Nam lớp 12… ……………….4
1. Một số khái niệm có liên quan………………………….……….… 4
1.1. Trực quan…………………………………………….……………4
1.2. Phương tiện trực quan……………………………….…………….4
1.3. Phương tiện dạy học………………………………….……… … 4
2. Một sô tư liệu dạy học trực quan………………………….………….5
2.1. Hình ảnh………………………………………………….……… 5
2.2. Sơ đồ, bản đồ…………………………………………….……… 6
2.3. Bảng phụ…………………….……………………….…….….… 7
2.4. Công nghệ thông tin……… …………………… ……………… 7
2.5. Trò chơi………………………………………… …………………8
2.6. Tham quan thực tế……………………………… …………… ….9
3. Những công việc chuẩn bị cho một tiết dạy có sử dụng tư liệu dạy
học trực quan…………………………………………………………… 9
4. Một số lưu ý khi sử dụng tư liệu dạy học trực quan…………….…… 10
4.1. Lưu ý cụ thể…………………………………………………….… 10
4.1.1. Đối với việc sử dụng hình ảnh……………………………… ….10
16
4.1.2. Đối với việc sử dụng sơ đồ………………………………… … 10
4.1.3. Đối với việc sử dụng bản đồ…………………………………… 10
4.1.4. Đối với việc sử dụng bảng phụ………………………………… 11
4.1.5. Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin…………… ………11
4.1.6. Đối với việc sử dụng trò chơi…………………………………….11
4.1.7. Đối với việc tham quan thực tế……………………………….….11
4.2. Lưu ý chung……………………………………………………….…12
5. Một số khó khăn khi sử dụng tư liệu trực quan……………………… 12
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Kết quả…………………………………………………………………….13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status