Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A
lời nói đầu
ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nớc ta. Nó đóng vai trò quyết
định đến sự tăng trởng và phát triển kinh tế đất nớc. Để đáp ứng nhu cầu
vốn cho nền kinh tế, nớc ta cần phải có các biện pháp, chính sách nhằm huy
động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. ở nớc ta thị trờng chứng
khoán cha phát triển do vậy lợng vốn huy động đợc bằng con đờng tài
chính trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá
khác còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Do vậy quá trình nhận và
truyền vốn trên thị trờng chủ yếu đợc thực hiện thông qua các ngân hàng
thơng mại và thị trờng tín dụng. Có thể nói ở Việt Nam hơn 80% lợng vốn
trong nền kinh tế là do hệ thống ngân hàng cung cấp. Do đó vai trò của Ngân
hàng trong hoạt động huy động vốn cho nền kinh tế là cực kỳ quan trọng.
Nh vậy công tác huy động vốn của ngân hàng đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của ngân hàng nói riêng.
Trong thời gian học tập tại trờng và thời gian thực tập chi nhánh Ngân hàng
Công Thơng Bến Thuỷ - Thành Phố Vinh - Tỉnh Nghệ An tôi đã cố gắng
nghiên cứu và tìm hiểu kỹ về công tác huy động vốn và chọn đề tài chuyên đề
tốt nghiệp: Giải pháp tăng cờng huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng
bộ nhân viên khác trong ngân hàng đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt
nghiệp này. Rất chân thành cảm ơn.
Vinh tháng 5 năm 2003
Sinh viên thực hiện
Lê Anh Tú Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A Chơng I
Vai trò của vốn và hoạt động huy động vốn
của ngân hàng thơng mại
I. Những nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Thơng mại.
1. Định nghĩa Ngân hàng Thơng mại.
Lịch sử đã ghi nhận sự phát sinh, phát triển của ngành Ngân hàng đợc
quyết định bởi quá trình phát triển của các quan hệ hàng hoá- tiền tệ. Đồng
thời cũng còn những yếu tố khác có ảnh hởng quyết định đến cấu trúc và sự
phát triển của hệ thống ngân hàng; nh chế độ pháp quyền, điều kiện chiến
tranh và tình trạng khủng hoảng kinh tế, tài chính...
Từ thời cổ đại, ở những nớc có nền thơng mại phát triển sớm đã xuất hiện
ở Việt nam, trong bớc chuyển đổi sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định
hớng xã hội chủ nghĩa. Mọi ngời đợc tự do kinh doanh theo pháp luật,
đợc bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể
hỗn hợp đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các
doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác
và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trớc pháp luật. Theo hớng đó, nền kinh tế
hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra
đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Từ năm 1986, hoà
vào công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nớc theo sự chỉ đạo của
Đảng và Nhà nớc, hệ thống ngân hàng đợc tổ chức lại theo Nghị định
53/HĐBT đợc tách ra làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nuớc đảm nhận công tác
phát hành tiền và điều tiết lu thông tiền tệ, còn chức năng kinh doanh đợc
thực hiện bởi các Ngân hàng Thơng mại.
Năm 1991, sự ra đời của các Ngân hàng Thơng mại cổ phần cùng các Ngân
hàng Thơng mại quốc doanh đã góp phần rất lớn vào công cuộc phát triển đất
nớc. Luật Tổ chức tín dụng của Việt nam ban hành vào ngày 12/12/1997
đã định nghĩa Ngân hàng Thơng mại nh sau:
Ngân hàng Thơng mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động
ngân hàng là một hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
2. Những nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Thơng mại.
Ngân hàng Thơng mại là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống
nh một doanh nghiệp thơng mại, đều hớng đến mục đích cuối cùng là tối
đa hoá lợi nhuận. Ngân hàng Thơng mại tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay
và cho vay lại. So với các doanh nghiệp thơng mại dịch vụ khác thì hàng hoá
nhận tiền gửi của cá nhân, của tổ chức và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải
hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu
cầu sử dụng đến rút tiền ở ngân hàng.
2.2. Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng:
Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ
liên quan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực
thanh toán bình thờng), sẽ đợc sử dụng để cho vay. Nghiệp vụ cho vay là
nghiệp vụ đặc trng nhất của Ngân hàng Thơng mại. Nó tạo ra hình thức tín
dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn
vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi
thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng, đây là nghiệp
vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu.
Dựa vào tính chất và hình thức cho vay nghiệp vụ tín dụng đợc phân thành:
2.2.1. Căn cứ vào mục đích:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai.
- Cho vay công nghiệp và thơng mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thơng mại và
dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp.
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A
lãi theo định kỳ.
- Cho vay hoàn trả theo yêu cầu.
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A 2.2.6. Ngoài các loại cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ
bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với loại nghiệp vụ này,
ngân hàng không phải cung cấp tiền, nhng khi ngời đợc bảo lãnh không
thực hiện đợc nghĩa vụ theo hợp đồng thì ngân hàng phải thay thế để thực
hiện nghĩa vụ thanh toán. Vì thế, nghiệp vụ này còn đợc gọi là tín dụng bằng
chữ ký. Tín dụng bằng chữ ký bao gồm: tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng
từ, bảo lãnh của ngân hàng.
2.3. Nghiệp vụ đầu t :
Ngân hàng tham gia vào đầu t, mua bán chứng khoán trên thị trờng chứng
khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chêch
lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trờng.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện hùn vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp
vốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới.
2.4. Nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại.
Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ
nhằm đáp ứng nhu cầu của đầu t cho vay cũng nh kiếm lời. Việc kinh doanh
ngoại tệ còn góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho
II. Vai trò của vốn đối với Ngân hàng thơng mại.
1. Vốn của Ngân hàng thơng mại.
1.1. Khái niệm về vốn.
Vốn của các ngân hàng thơng mại phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi trong sản xuất kinh doanh đợc gửi vào ngân hàng với những mục
đích khác nhau. Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong
nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu t có nhu cầu về vốn, thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Vốn và các hoạt động về huy động vốn quyết định trực tiếp
đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thơng
mại. Vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với việc thực hiện các chức
năng của ngân hàng thơng mại.
1.2. Cơ cấu vốn của ngân hàng thơng mại bao gồm:
1.2.1. Vốn chủ sở hữu :
Vốn chủ sở hữu là vốn tự có của ngân hàng, nó là vốn điều lệ khi ngân hàng
mới đi vào hoạt động và đợc bổ sung thờng xuyên. Vốn điều lệ phải lớn hơn
hoặc bằng vốn pháp định do ngân hàng nhà nớc trung ơng quy định. Vốn
điều lệ quy định cho một ngân hàng sẽ tuỳ thuộc vào quy mô và hoạt động của
nó. Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ đợc hình thành có thể khác
nhau. Vốn điều lệ của ngân hàng có nguồn gốc hình thành do ngân sách nhà
nớc cấp phát ban đầu nếu là ngân hàng thơng mại quốc doanh, còn nếu là
ngân hàng thơng mại cổ phần thì sẽ do các cổ đông đóng góp.
Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Đợc coi là nguồn vốn tự có và đợc bổ sung
hằng năm từ lợi nhuận ròng của ngân hàng. Theo khoản 1 điều 87 luật các tổ
chức tín dụng thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 quy định về việc trích
lập các quỹ từ lợi nhuận, các ngân hàng thơng mại phải tiến hành trích lập
các quỹ:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Đợc trích lập hằng năm theo tỷ lệ 5%
trên tổng lợi nhuận sau thuế hằng năm tới mức tối đa do ngân hàng nhà nớc
quy định.
1.2.2. Vốn huy động:
Các khoản tiền gửi loại này không thuộc sở hữu của ngân hàng nhng ngân
hàng đợc quyền sử dụng đối với những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi này.
Đây là khoản vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn. Các hoạt
động sử dụng vốn tồn tại và phát triển đợc là nhờ nguồn vốn huy động này.
1.2.2.1. Vốn tiền gửi của khách hàng:
Đây là khoản vốn hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng
cao nhất trong nguồn vốn. Tuy nhiên, một bộ phận đáng kể trong vốn tiền gửi
này luôn luôn biến động, do vậy khi sử dụng ngân hàng luôn phải dự trữ để
đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả. Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất
của những khoản tiền gửi, tiền gửi của khách hàng có hai loại: Tiền gửi kỳ
hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn.
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A Là loại tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu của ngời gửi tiền mà không tôn
trọng một kỳ hạn ký thác nào. Đây là khoản tiền gửi thờng xuyên biến động
ngân hàng không thể định ra kế hoạch sử dụng trớc đợc mà chỉ dựa vào
kinh nghiệm quản lý, ngân hàng có thể tận dụng ở một mức độ cho phép.
Mục đích của ngời gửi tiền là sử dụng những dịch vụ trung gian thanh toán
của ngân hàng thơng mại nh giữ hộ, thu chi hộ,... Ngân hàng không phải
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A Vì hoạt động chủ yếu và thờng xuyên của ngân hàng là nhận tiền gửi và với
trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử
dụng. Do vậy có những trờng hợp số tiền dự trữ và số tiền mà ngân hàng
nhận đợc trớc đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút ra thì ngân
hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền cho khách hàng, nghĩa là
ngân hàng thiếu tiền trả cho khách hàng.Vậy ngân hàng phải đi vay.
- Ngân hàng vay hộ cho khách hàng.
Vì hoạt động cơ bản của ngân hàng là tài trợ cho nền kinh tế nên khi có
khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân hàng và đảm bảo các yêu cầu mà ngân
hàng đề ra thì ngân hàng sẽ cho vay. Tuy nhiên, với những khoản vay với số
lợng lớn, thời gian dài mà ngân hàng lại không muốn dùng toàn bộ số tiền
mình có để đầu t cho dự án này (vì rủi ro cao) vì nh thế sẽ mất đi toàn bộ
những cơ hội đầu t khác. Vì vậy ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng phát
hành trái phiếu nhằm thu gom tiền trong nền kinh tế để phục vụ cho dự án.
Ngời ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng và trong
một thời hạn bằng thời gian tồn tại của dự án.
- Ngân hàng vay để cho vay.
Hầu nh toàn bộ số tiền trong lu thông đã trở thành tiền gửi tại các ngân
hàng, nghĩa là các ngân hàng chia nhau nắm giữ lợng tiền trong lu thông.
Để tăng lợng tiền gửi của mình, các ngân hàng thờng tăng lãi suất để thu
hút các khoản tiền gửi ở các ngân hàng khác chảy về. Nhng thực tế khi một
hiệu quả hiện nay là chu chuyển nguồn vốn điều hoà. Do tình hình kinh tế xã
hội của các vùng hoạt động của ngân hàng chi nhánh là khác nhau. Những chi
nhánh ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vợt quá khả năng huy động vốn
thì đầu kỳ lập kế hoạch lên ngân hàng mẹ và xin đợc nhận một lợng vốn
điều hào cần thiết cho hoạt động sử dụng vốn của mình. Những ngân hàng mà
khả năng huy động vốn vợt quá khả năng sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng lập kế
hoạch sẽ điều chuyển một lợng vốn về ngân hàng mẹ để đợc hởng một lãi
suất điều hoà. Nh vậy ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi
thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh ngân hàng trong nền kinh tế. Chi phí
nhận nguồn vốn điều hoà thấp hơn chi phí nguồn vốn huy động nhng tại sao
các ngân hàng đều nhận nguồn vốn điều hoà sau khi đã lập kế hoạch về lợng
vốn huy động đợc trong kỳ sau, bởi vì tính độc lập của nó với ngân hàng mẹ.
Đây là một phơng thức huy động vốn rất hiệu quả đợc áp dụng nhiều trên
thế giới hiện nay.
1.2.2.4. Vốn uỷ thác đầu t.
Một số ngân hàng con thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đại lý. Khi đó trong
cơ cấu vốn của ngân hàng con còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu t.
Khoản vốn này hình thành chủ yếu hình thành là do các tổ chức tài chính nớc
ngoài, trong nớc uỷ thác cho ngân hàng một khoản tiền để ngân hàng thực
hiện cho vay các dự án của mình. Có thể là các khoản vay của Chính Phủ đợc
uỷ thác.
Trên đây là cơ cấu vốn chính của các ngân hàng thơng mại. Vốn huy động
là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng,
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động sử dụng vốn. Tuy nhiên,
các ngân hàng thơng mại phải tuân thủ theo luật định về mức vốn huy động
tối đa không vợt quá hai mơi lần vốn thuộc sở hữu của ngân hàng và phải
chấp hành tốt các quy định về tỷ lệ dự trữ...
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh
toán của các ngân hàng thơng mại. Thông thờng so với các ngân hàng nhỏ,
các ngân hàng lớn có những khoản mục về đầu t cho vay đa dạng hơn, phạm
vi và khối lợng cho vay của các ngân hàng này cũng lớn hơn. Trong khi các
ngân hàng lớn hoạt động trên phạm vi toàn thế giới thì các ngân hàng nhỏ lại
giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong một khu vực nhỏ, trong nớc. Nếu
khả năng về vốn của ngân hàng đó dồi dào thì ngân hàng có thể mở rộng
đợc các hoạt động của mình và đáp ứng đợc nhu cầu về vốn của khách
hàng về cho vay, bảo lãnh, đầu t...
Ví dụ nh :
- Đầu t cổ phần hoặc liên doanh không quá 50% vốn tự có.
- Cho vay đối tợng u đãi không quá 5% vốn tự có.
- Cho vay tối đa một khách hàng không quá 15% vốn tự có.
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A - Kinh doanh ngoại hối không quá 30 lần vốn tự có.
Bên cạnhvốn lớn hay nhỏ thì chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của tính ổn
định của vốn. Một ngân hàng có lợng vốn ổn định thì sẽ dễ dàng trong việc
hoạch định việc cung ứng đầu t cho vay. Ngân hàng đó có thể dự kiến tơng
đối chính xác lợng vốn cung ứng, cho nên sẽ dự kiến đợc lợi nhuận trong
tơng lai khá chính xác.
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A ngân hàng càng lớn thì sức chịu đựng của ngân hàng càng mạnh khi mà tình
hình kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động của ngân hàng trải qua giai đoạn
khó khăn.
Thứ năm: Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Quy mô, trình độ cán bộ, công nhân viên, phơng tiện kỹ thuật hiện đại của
ngân hàng là tiền đề thu hút vốn. Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối
với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần
kinh tế cả về quy mô tín dụng, lẫn việc chủ động về thời hạn cho vay và thậm
chí trong khi quyết định lãi suất phù hợp với khách hàng. Điều này sẽ thu hút
ngày càng nhiều khách hàng đến với mình, nghĩa là doanh số hoạt động của
ngân hàng sẽ tăng lên trong tơng lai và ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn
trong kinh doanh. Hơn nữa, vốn của ngân hàng lớn sẽ giúp cho ngân hàng có
đủ năng lực tài chính kinh doanh đa năng trên thị trờng không chỉ cho vay
mà còn đầu t trên thị trờng tiền tệ, liên doanh, liên kết, thực hiện dịch vụ
thuê mua... Và chính sự đa dạng hoá hoạt động sẽ góp phần phân tán rủi ro
trong hoạt động kinh doanh và tạo lợi nhuận cho ngân hàng, đặc biệt là tăng
sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng trên thị trờng.
Để ngân hàng tồn tại và phát triển, ngoài vốn chủ sở hữu (Thờng chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn) các ngân hàng phải chú trọng tới việc
tăng trởng nguồn vốn nghĩa là phải làm tốt công tác huy động vốn.
Các hình thức nhận tiền gửi của các Ngân hàng Thơng mại tuỳ thuộc vào
các tiêu thức khác nhau mà đợc chia thành từng loại khác nhau:
1.1. Phân loại theo tiêu thức kỳ hạn.
Ngày nay, ngời ta thờng phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này
để có thể quản lý tốt lợng tiền gửi, tiền lãi, và là cơ sở để ngân hàng xây
dựng chiến lợc dự trữ phù hợp.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định,
ngời gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào do đó lãi suất thờng thấp. Tiền gửi
không kỳ hạn là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân
hàng khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi không kỳ hạn (giao dịch) có thể
huy động. Hình thức này chủ yếu là mở cho các doanh nghiệp. Bởi vì, các
doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng mục đích chính không phải để nhận lãi
mà là để hởng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp; đó là các dịch vụ thanh
toán, ngân quỹ, thu chi hộ,...
Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có thể đáp ứng nhu cầu của
những khách hàng cha có dự định rõ ràng trong tơng lai, hoặc không thực
sự an tâm về việc gửi tiền mà chỉ mong muốn nhận đợc một số tiền lãi nào
đó với lợng tiền hiện còn nhành rỗi.
Do tính chất không ổn định của nó nên ngân hàng chỉ đợc sử dụng một tỷ
lệ phần trăm nhất định nào đó của lợng tiền gửi không kỳ hạn nhận đợc, và
ngân hàng muốn sử dụng thì phải dự tính về sự ổn định tơng đối của lợng
tiền này. Do vậy, quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của
quản lý dự trữ trong các ngân hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa ngời gửi
tiền và ngân hàng về số lợng, kỳ hạn, lãi suất của khoản tiền gửi. Do có sự
xác định rõ ràng về kỳ hạn, nên nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồn tiền có sự
ổn định cao, ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tơng ứng hoặc
có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Chính
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
tơng lai.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nớc phát
triển, thờng đợc sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình.
Ngời gửi để dành một khoản tiền gửi vào ngân hàng (thờng là các khoản tiết
kiệm đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định.
Đây là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính ổn định,
đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho ngời dân mua sắm nhà
cửa, phơng tiện.
- Tiền gửi thanh toán: Là khoản ký gửi của các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Họ gửi tiền mục đích không phải là để hởng thu
nhập mà là hởng các dịch vụ của ngân hàng. Thông thờng các khoản tiền
gửi thanh toán có khối lợng lớn. Do đó, khi các khoản tiền này tạm thời cha
sử dụng thì ngân hàng có thể sử dụng vào kinh doanh.
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A 1.4. Phân loại theo tiêu thức loại tiền gửi.
- Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các ngân hàng, nó
phụ thuộc vào thu nhập trong nớc và chiếm tỷ trong rất lớn trong tổng lợng
tiền gửi.
- Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh tiền gửi nội tệ thì ngân hàng còn nhận tiền gửi
dới dạng ngoại tệ nh USD, GBP,DEM,... những khoản ngoại tệ này cũng rất
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A 3. Vay ngắn hạn tại Ngân hàng Trung ơng.
Trong quá trình hoạt động của mình, do có những ngày cho vay quá nhiều,
sự thiếu hụt dự trữ tại Ngân hàng Trung ơng là điều thờng xảy ra đối với các
ngân hàng thơng mại. Trong khi có một số ngân hàng thơng mại thiếu dự
trữ, thì nó cũng có một vài bộ phận khác thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ theo
quy định của Ngân hàng Trung ơng, các ngân hàng thơng mại điện thoại
hoặc liên lạc bằng Computer vay lẫn nhau dự trữ trong một ngày là chuyện
bình thờng. Thủ tục vay đợc tiến hành qua Fax hoặc điện tín.
Việc vay qua vay lại nh thế diễn ra hàng ngày trong hệ thống ngân hàng
thơng mại. Nó hình thành nên một loại tài sản nợ khá thờng xuyên. Tuy
nhiên, khoản nợ này thờng rất ngắn không quá một tuần, và thờng là chỉ
một hay hai ngày vì mọi ngân hàng đều tự ý thức không thể lạm dụng kéo dài
thời gian gây khó khăn cho ngân hàng có thiện chí giúp mình.
4. Vay ngắn hạn thông qua hợp đồng mua lại.
Hợp đồng mua lại là hình thức vay ngắn hạn trên thị trờng của ngân hàng
thơng mại. Trong hoạt động mỗi ngày, việc thiếu tiền mặt bất ngờ cho những
thợng vụ đầu t đã đợc ký kết hoặc hụt dự trữ tại Ngân hàng Trung ơng là
chuyện không có gì lạ đối với các ngân hàng thơng mại. Ngoài những biện
pháp nêu trên, trong những trờng hợp cấp thiết, ngân hàng thơng mại có thể
vay của thị trờng trong vài ngày đến vài tuần bằng cách phát hành hợp đồng
mua lại.
Đây là một hợp đồng bán chứng khoán giữa ngân hàng và đối tợng kinh
- Khi ngân hàng bán chứng khoán ra theo loại hợp đồng này nó thu tiền mặt
về lợng tiền mặt này xuất hiện nh một khoản vay ngắn hạn từ thị trờng vì
lợng chứng khoán xuất ra vẫn đợc xem nh một bộ phận tài sản có mà ngân
hàng sẽ thu hồi. Khoản vay ngắn hạn này là một bộ phận của tài sản nợ.
- Tổ chức mua chứng khoán là ngời cho vay. Ngân hàng phát ra chứng
khoán là chủ thể đi vay. Ngân hàng không bao giờ áp dụng hình thức bán này
cho nhân dân. Bởi lẽ bán ra cho nhân dân dới hình thức nh phát hành lẻ và
sau này mua lại sẽ tốn rất nhiều thời gian và hiệu quả rất chậm không giải
quyết những nhu cầu tiền mặt gấp trong ngắn hạn. Hầu nh phơng thức này
chỉ áp dụng cho các đại lý lớn mà thôi.
- Chi phí giao dịch mà ngân hàng sẽ trả cho đại lý chính là tiền lãi từ thơng
vụ cho vay này đứng về phía ngời mua là các đại lý. Thông thờng giá bán và
giá mua lại(gồm cả lãi) đã đợc thống nhất sắn trong hợp đồng với những
khoảng thời gian đã định trợc. ở các nớc có thị trờng tài chính phát triển
nh Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh, ý,... Các ngân hàng thơng mại vay
nợ dới hình thức này gần nh mỗi tuần trong tài sản nợ của họ luôn luôn có
khoản mục vay ngắn hạn thông qua hợp đồng mua lại, nằm trong khoản vay
ngắn hạn từ thị trờng.
5. Vay ngắn hạn bằng giấy nợ phụ.
Đây là khoản mục cuối cùng trong các khoản vay từ thị trờng và cũng là
loại tài sản ít thông dụng nhất. Ngân hàng có thể vay nóng, với lãi suất khá
cao và thời gian từ ngắn đến rất ngắn, mỗi khi quá kẹt tiền mặt bằng những
thoả thuận với các thân chủ giàu có vẫn quan hệ thờng xuyên với ngân hàng
nh các công ty, các tập đoàn kinh doanh, các đại lý tài chính khác,...Hình
thức vay này đợc thực hiện thông qua một hợp đồng trong đó thuyết minh rõ
ngời cho vay chấp nhận rõ khoản tiền mà họ cho vay sẽ là loại tài sản nợ
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
đoàn kinh doanh có thể là chủ của một đến rất nhiều ngân hàng thơng mại.
Thay vì ngân hàng phát hành trái phiếu hoặc giấy nợ để vay tiền của thị trờng
bằng các hình thức kể trên, có thể chịu nhiều sự quản lý và ràng buộc của
Ngân hàng Trung ơng về dự trữ, lãi suất và kể cả thủ tục, các công ty mẹ của
ngân hàng có thể thay thế nó làm chuyện đó dới hình thức phát hành trái
phiếu, cổ phiếu công ty hoặc các loại thơng phiếu, rồi chuyển vốn đã huy
động đợc về cho ngân hàng hoạt động.
Mỗi khi Ngân hàng Trung ơng ràng buộc họ quá nhiều điều kiện không
thể phát hành trái phiếu đợc nh ý muốn. Hoặc nếu phát hành đợc cũng sẽ
phải trả chi phí rất cao. Vậy nên giao cho các công ty mẹ phát hành là cách
trốn thoát của họ để đạt những muc đích ấy. Lý do này giải thích vì sao hầu
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân
Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A nh ở tất cả các nớc phát triển, các ngân hàng thơng mại luôn luôn là con đẻ
của một công ty kinh doanh, công ty tài chính hoặc ít nhất là có quan hệ mật
thiết với các đối tợng trên. Trên đây là các hình thức huy động vốn thờng thấy của ngân hàng thơng
mại. Tuy nhiên đối với mỗi ngân hàng khác nhau, ở các nớc khác nhau và
trong các giai đoạn khác nhau thì có thể có các phơng thức huy động khác. Lê Anh Tú - Lớp Tài chính công 41A 1.3. Điều kiện về môi trờng cạnh tranh
Khi định ra chiến lợc phát triển cho ngân hàng rõ ràng cần phải tính đến
điều kiện về môi trờng kinh doanh. Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác
trên địa bàn sẽ ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Để có thể
tồn tại và phát triển, ngân hàng cần phải định ra chiến lợc kinh doanh phù
hợp để có thể thắng trong cạnh tranh với ngân hàng khác. Trong quá trình
cạnh tranh với đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ, thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trờng và làm
tốt công tác marketing. Ngân hàng phải bồi dỡng đội ngũ cán bộ để có thể
làm tốt công việc của mình. Nh vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một
nhân tố thúc đẩy sự phát triển chất lợng các hoạt động ngân hàng trong đó có
hoạt động huy động vốn.
1.4. Yếu tố thuộc về văn hoá - xã hội, tâm lý khách hàng
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những ngời có vốn gửi tại ngân hàng
và những đối tợng sử dụng vốn đó. Về môi trờng xã hội ở các nớc phát
triển, khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập đợc chuyển vào tài
khoản của họ. Nhng ở các nớc kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt
thờng lớn hơn. ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác
động vào là thu nhập và tâm lý của ngời gửi tiền. Thu nhập ảnh hởng đến
nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng có thể huy động trong tơng lai. Còn yếu
2.2. Chiến lợc kinh doanh của ngân hàng:
Trong một ngân hàng, nghiệp vụ huy động vốn chịu tác động trực tiếp từ các
hoạt động về sử dụng vốn. Mỗi ngân hàng đều có một chiến lợc kinh doanh
riêng theo từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động của bản thân ngân
hàng và điều kiện môi trờng kinh doanh. Từ đó ngân hàng có thể đa ra
chiến lợc huy động vốn là thu hẹp hay mở rộng cho phù hợp với chính sách
thu hẹp hay mở rộng tín dụng của ngân hàng trong thời kỳ đó. Cơ cấu nguồn
vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các khoản mục cấu thành, chi phí huy động có thể
tăng hay giảm. Nếu chiến lợc kinh doanh đợc xây dựng đúng đắn phù hợp
với điều kiện bản thân ngân hàng, các nguồn vốn đợc khai thác tối đa và hợp
lý thì công tác huy động vốn phát huy hiệu quả.
2.3. ảnh hởng của lãi suất huy động
Lãi suất huy động vốn thờng là mối quan tâm hàng đầu của cá nhân và tổ
chức muốn gửi tiền vào ngân hàng. Điều này hoàn toàn hợp lý vì trong nền
kinh tế lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn bao giờ cũng thu hút đợc nhiều ngời
tham gia đầu t hơn. Tuy nguồn tiền gửi không chỉ phụ thuộc vào lãi suất cao
mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khác nh kỳ hạn, mức độ rủi ro, điều kiện
thanh toán, uy tín, địa điểm ... của ngân hàng nhng với lãi suất cao, linh hoạt,
hợp lý thì luôn luôn có tác dụng kích thích ngời gửi tiền. Nhng lãi suất có
ảnh hởng lớn nhất đến lợng tiền gửi tiết kiệm vì khách hàng chọn gửi tiền
theo phơng thức này thờng có mục đích hởng lãi.
2.4: Trình độ công nghệ ngân hàng
Trình độ công nghệ ngân hàng đợc thể hiện qua các yếu tố sau:
Thứ nhất: Các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Thứ hai: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàng
Thứ ba: Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của
ngân hàng .
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng đại học kinh tế quốc dân