phát triển các hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCP chứng khoán Bảo Việt - Pdf 22


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 1 - Trờng ĐHKTQDHN

Lời mở đầu
Lời mở đầuLời mở đầu
Lời mở đầu

Công nghiệp hoá là bớc phát triển tất yếu của mỗi dân tộc mỗi đất
nớc phải trải qua. Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp
hoá nền kinh tế quốc dân ở nớc ta, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề
quan trọng. Trong đó vốn là chìa khoá để thực hiện công nghiệp hoá.
Để công nghiệp hoá với tốc độ nhanh cần có cơ chế chính sách và
biện pháp huy động đợc nhiều vốn nhất và sử dụng vốn có hiệu quả. Một
trong những biện pháp thực hiện huy động mọi nguồn vốn có thể huy động
đợc khơi động mọi nguồn vốn trong nớc, khuyến khích dân chúng tiết
kiệm và thu hút một nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu t, thu hút vốn đầu t từ
nớc ngoài, đó là TTCK.
Đối với chúng ta, đây là vấn đề mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, vì
vậy để có một TTCK hợp lý, đem lại hiệu quả cao đòi hỏi chúng ta có nhận
thức và quan điểm đúng đắn về vấn đề này.
Nhằm góp phần vào lĩnh vực phát triển của TTCK của Việt Nam. Em
chọn chuyên đề tốt nghiệp với đề tài là: Giải pháp phát triển các hoạt
động kinh doanh chứng khoán của CTCP chứng khoán Bảo Việt.
Bố cục chuyên đề gồm 3 Chơng:
Chơng I : Những vấn đề chung về hoạt động của CTCK
Chơng II : Thực trạng hoạt động của CTCK Bảo Việt
Chơng III: Giải pháp nhằm phát triển các hoạt động của
CTCP chứng khoán Bảo Việt
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình
của Cô giáo - ThS. Lê Hơng Lan và các cán bộ phòng Ngiệp vụ I tại CTCP

muốn mua hay muốn bán chứng khoán thực hiện, mà do những ngời môi
giới trung gian thực hiện, đó là nguyên tắc trung gian, nguyên tắc căn bản
nhất của TTCK có tổ chức. Từ đó trên TTCK, xuất phát từ nhu cầu gặp gỡ
giữa ngời mua và bán hình thành nên nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
TTCK hình thành, để đảm bảo thị trờng hoạt động lành mạnh có
hiệu quả, yêu cầu các loại chứng khoán giao dịch là những loại chứng
khoán thực, đảm bảo lợi ích cho cả nhà phát hành và nhà đầu t. Xuất phát
từ nhu cầu những nhà đầu t có tiền nhng không có kinh nghiệm, không
biết đầu t vào đâu và vào loại chứng khoán nào bởi vì họ không thể dự
đoán đợc một cách chính xác giá trị trong tơng lai của nó. Nếu không có
những ngời trung gian t vấn, có trình độ và có sự phân tích cần thiết về
những chứng khoán dựa trên những căn cứ xác đáng để có những nhận xét
kỹ lỡng, thì ngời đầu t có thể bị lầm lẫn hoặc bị lờng gạt. Do đó trên
thị trờng hình thành nên nghiệp vụ t vấn đầu t.
Các Công ty, tổ chức đại diện làm trung gian giúp thị trờng hoạt
động lành mạnh và hiệu quả cũng có nhu cầu kinh doanh trên trên thị
trờng để thu lợi nhuận cho chính Công ty thông qua hành vi mua bán
chứng khoán với khách hàng. Từ đó hình thành nên nghiệp vụ tự doanh
trong Công ty.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 3 - Trờng ĐHKTQDHN

Xuất phát từ nhu cầu của các tổ chức phát hành, để thực hiện thành
công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng đòi hỏi phải cần đến các
Công ty t vấn cho đợt phát hành và thực hiện Bảo lãnh, phân phối chứng
khoán ra công chúng. Từ đó hình thành nên nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành.
Khi thị trờng phát triển, đòi hỏi Công ty đại diện cho khách hàng
hay nói cách khác khách hàng uỷ thác cho Công ty thay mặt mình quyết
định đầu t theo một chiến lợc hay những nguyên tắc đã đợc khách hàng

Công ty Môi giới chứng khoán: là Công ty thực hiện việc trung gian,
mua bán chứng khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng .
Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán : là CTCK có lĩnh vực hoạt
động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ Bảo lãnh để hởng phí hoặc chênh lệch
giá.
Công ty kinh doanh chứng khoán: là CTCK thực hiện nghiệp vụ kinh
doanh, nghĩa là tự bỏ vốn và chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.
Công ty trái phiếu: là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu.
CTCK không tập trung: là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị
trờng OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trờng.
Tuy có nhiều định nghía khác nhau về CTCK nhng có thể có một
khái niệm chung về CTCK nh sau:
CTCK là một định chế tài chính trung gian thực hiện các hoạt động
kinh doanh trên TTCK.
Qua khái niệm trên ta có thể thấy đặc điểm của các CTCK nh
sau:
CTCK là một định chế tài chính trung gian. Một định chế trung gian
trên Thị trờng tài chính là cầu nối giữa ngời cho vay và ngời đi vay. Khi
một ngời cho vay tìm ra đợc một ngời muốn vay, ngời đó gặp phải khó
khăn là chi phí thời giờ và tiền bạc cho những cuộc kiểm tra tín nhiệm để
biết liệu ngời vay có thể hoàn trả vốn và lãi cho mình không. Ngoài các

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 5 - Trờng ĐHKTQDHN

chi phí thông tin này, quá trình thực tế cho vay hoặc mua chứng khoán cần
đến các chi phí giao dịch. Các trung gian tài chính này giúp cho những
ngời đi vay và ngời cho vay giảm đợc chi phí và thời gian tìm kiếm,
giao dịch. Vì vậy, không có trung gian tài chính thì Thị trờng tài chính
không thể có đợc lợi ích trọn vẹn. Trên thị trờng tài chính nói chung và

toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty. Các thành viên góp
vốn không tham gia điều hành Công ty, họ phải chịu trách nhiệm hữu hạn
trong phần vốn góp của mình với những khoản nợ của Công ty.
- Công ty hợp danh thông thờng không đợc phép phát hành bất cứ
một loại chứng khoán nào.
Do các u điểm của loại hình CTCP và Công ty TNHH so với Công
ty hợp danh, vì vậy hiện nay chủ yếu các CTCK đợc tổ chức dới hình
thức Công ty TNHH và CTCP.
1.1.3.2. Theo mô hình kinh doanh
Hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các
doanh nghiệp sản xuất thơng mại thông thờng vì CTCK là một định chế
tài chính đặc biệt. Vì vậy, vẫn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của
CTCK cũng có những điểm khác nhau và vận dụng cho các khối thị trờng
có mức độ phát triển khác nhau (thị trờng cổ điển; thị trờng mới nổi; thị
trờng các nớc chuyển đổi). Tuy nhiên, có thể khái quát mô hình tổ chức
kinh doanh chứng khoán của CTCK theo 2 nhóm (Mô hình CTCK đa năng
và Mô hình CTCK chuyên doanh).
CTCK chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng)
Theo mô hình này, CTCK là Công ty chuyên doanh độc lập, các
NHTM và các tổ chức tài chính khác không đợc phép tham gia vào hoạt
động kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi ro cho hệ thống Ngân hàng
do những ảnh hởng tiêu cực của TTCK, và các Ngân hàng không đợc sử

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 7 - Trờng ĐHKTQDHN

dụng vốn huy động để đầu t vào lĩnh vực chứng khoán; Mặt khác, với sự
chuyên môn hoá sẽ tạo điều kiện cho TTCK phát triển. Điển hình của mô
hình này là các CTCK ở Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt

những đợc hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn đợc hoạt động trong
lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. Nó đợc áp dụng ở các nớc Bắc Âu,
Hà Lan, Thụy Sĩ, áo...
Khác với mô hình chuyên doanh, u điểm của mô hình này là Công
ty có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó mà giảm bớt rủi ro cho
hoạt động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu đựng các biến
động của TTCK. Tuy nhiên, mô hình đa năng hoàn toàn có một số hạn chế:
TTCK phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệ thống Ngân hàng dùng
vốn để cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán, do đó Ngân hàng thờng quan
tâm đến lĩnh vực Ngân hàng hơn là lĩnh vực chứng khoán. Điều này đã thể
hiện sự kém phát triển của TTCK Châu Âu so với TTCK Mỹ.
Bên cạnh đó, nó còn có nhợc điểm là trong trờng hợp biến động
của TTCK, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ
nếu không có sự tách biệt giữa hai loại hình kinh doanh này, thực tế đã
chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929 -1933, hay vụ phá sản
Ngân hàng Barings của Anh năm 1995. Ngợc lại, trong trờng hợp thị
trờng tiền tệ biến động có thể ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh chứng
khoán của các Ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan
là một minh chứng.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của CTCK
Do vai trò của CTCK đối với TTCK, vì nó là một loại hình kinh
doanh ảnh hởng nhiều đến lợi ích công chúng và rất dễ bị lợi dụng nhằm
kiếm lợi riêng, luật pháp các nớc đều quy định rất chặt chẽ đối với các
hoạt động của CTCK. có rất nhiều quy định nguyên tắc đối với hoạt động
của CTCK nhng nhìn chung trên thế giới các CTCK phải tuân thủ một số
nguyên tắc nhất định để bảo vệ cho các nhà đầu t.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 9 - Trờng ĐHKTQDHN



- CTCK không đợc dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính
để kinh doanh, ngoại trừ trờng hợp đó đợc dùng phục vụ cho giao dịch
của khách hàng.
- CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài
sản của mình. CTCK không đợc dùng chứng khoán của khách hàng làm
vật thế chấp vay vốn trừ trờng hợp đợc khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.1.5. vai trò của CTCK
Các CTCK ra đời và phát triển một cách nhanh chóng nh vậy là do
chúng đóng một vai trò rất quan trọng trên TTCK. Để hiểu rõ sự cần thiết
của các CTCK trên TTCK chúng ta xem xét vai trò của các CTCK đối với
từng đối tợng, chủ thể khác nhau trên TTCK.
1.1.5.1. Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động
vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt
động đại lý phát hành, Bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ
chế huy động vốn phục vụ cho các nhà phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc
trung gian. Nguyên tắc yêu cầu những nhà đầu t và những nhà phát hành
không đợc mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung
gian mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả ngời đầu
t và nhà phát hành. Và khi thực hiện công việc này CTCK đã tạo ra cơ chế
huy động vốn cho nền kinh tế thông qua TTCK.
1.1.5.2. Đối với các nhà đầu t
Thông qua các hoạt động nh môi giới, t vấn đầu t, quản lý danh
mục đầu t, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó
nâng cao hiệu quả các khoản đầu t. Đối với hàng hoá thông thờng, mua
bán qua trung gian sẽ làm sẽ làm tăng chi phí cho ngời mua và ngời bán.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 12 - Trờng ĐHKTQDHN

dịch trên thị trờng cấp hai. Điều này làm giảm rủi ro, tạo nên tâm lý yên
tâm cho nhà đầu t. Trên thị trờng cấp hai, do thực hiện giao dịch mua và
bán, các CTCK giúp ngời đầu t chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt
và ngợc lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của
những tài sản tài chính.
1.1.5.4. Đối với các cơ quan quản lý thị trờng:
Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về thị TTCK cho các cơ
quan quản lý thị trờng để thực hiện mục tiêu đó các CTCK thực hiện đợc
vai trò này bởi vì họ vừa là ngời Bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán
mới, vừa là trung gian mau bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên
thị trờng, do vậy họ nắm đợc tình hình tài chính cũng nh hoạt động kinh
doanh của các tổ chức phát hành nh là các nhà đầu t trên TTCK.
Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải đợc
công khai hoá dới sự giám sát của cơ quan quản lý thị trờng. Việc cung
cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc
nghề nghiệp của các CTCK vì CTCK cần phải minh bạch và công khai
trong hoạt động. Các thông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về
các giao dịch mua bán trên thị trờng, thông tin về các nhà đầu t...Nhờ các
thông tin này, các cơ quan quản lý thị trờng có thể kiểm soát và chống các
hiện tợng thao túng, lũng đoạn bóp méo thị trờng.
Nh vậy, các CTCK với vai trò có ảnh hởng rộng rãi tới các chủ thể
trên TTCK: Tạo ra cơ chế huy động vốn, cung cấp cơ chế giá cả cho giao
dịch, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán và góp phần điều tiết bình
ổn thị trờng là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
nói chung và của TTCK nói riêng, do đó nó có một vị trí quan trọng trên
TTCK.

+ CTCK phải thực hiện chính xác các lệnh của khách hàng. Mọi sai
sót gây ra từ phía CTCK, dẫn đến việc thực hiện sai lệnh gây thiệt hại cho
khách hàng. CTCK và nhân viên CTCK phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về
mặt tài chính và pháp luật.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 14 - Trờng ĐHKTQDHN

+ Theo yêu cầu của khách hàng, hàng tháng, hàng quý CTCK sẽ gửi
bản báo cao chứng khoán đến khách hàng để đối chiếu số tiền và chứng
khoán trên tài khoản của khách hàng.
+ CTCK có trách nhiệm tổ chức việc sắp xếp, theo dõi thực hiện các
lệnh của khách hàng một cách cố hiệu quả nhất. Trong trờng hợp chứng
khoán của khách hàng mang tên CTCK, CTCK phải tổ chức theo dõi và
cung cấp các thông tin khi khách hàng yêu cầu, cũng nh việc chuyển cổ
tức đến khách hàng.
+ Việc CTCK vay mợn chứng khoán hay tiền của khách hàng trên
tài khoản tại CTCK, phải đợc ghi rõ trong hợp đồng giao dịch chứng
khoán. Nếu điều này không ghi trong hợp đồng, CTCK không đợc sử dụng
chứng khoán hay số tiền nói trên, mọi việc vi phạm đều sử theo luật định.
+ CTCK phải thông báo kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng chậm
nhất là ngày làm việc kế tiếp ngày thực hiện giao dịch. Nếu thông báo
chậm trễ, CTCK phải chịu trách nhiệm về việc thanh toán và chuyển giao
chậm trễ của khách hàng.
+ Khách hàng có trách nhiệm thanh toán hay chuyển giao số chứng
khoán khi CTCK thực hiện đúng những yêu cầu của khách hàng.
+ Khi muốn sửa đổi hay hủy bỏ lệnh đã đặt, khách hàng phải thông
báo cho CTCK biết để kịp thời điều chỉnh. Trong trờng hợp lệnh đã đợc
thực hiện thì việc sửa đổi hay hủy bỏ sẽ không có giá trị, khách hàng có
trách nhiệm thanh toán hay chuyển giao số chứng khoán đã đợc thực hiện.

thành công trong việc bán hàng ngời môi giới phải đặt khách hàng lên trên
hết và doanh thu của mình là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt trong
hoạt động dịch vụ tài chính và phải đợc thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với
khách hàng.
+ Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: Có nhiều phơng pháp để tìm
kiếm khách hàng nhng nhìn chung có thể đợc gộp vào nhóm 6 phơng
cách sau: những đầu mối đợc gây dựng từ Công ty hoặc tài khoản chuyển

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 16 - Trờng ĐHKTQDHN

nhợng lại; những lời giới thiệu khách hàng; mạng lới kinh doanh; các
chiến dịch viết th; các cuộc hội thảo; gọi điện làm quen.
Quy trình thực hiện hoạt động môi giới
+ Bớc 1: Mở tài khoản
Trớc khi nhận lệnh của khách hàng, CTCK phải yêu cầu khách
hàng mở tài khoản giao dịch. Tài khoản đó có thể là tài khoản tiền mặt hay
tài khoản ký quỹ. Tài khoản giao dịch để dùng cho các giao dịch thông
thờng còn tài khoản ký quỹ dùng cho giao dịch ký quỹ. Sở dĩ phải có hai
loại tia khoản nh vậy là vì yêu cầu quản lý đối với giao dịch ký quỹ khách
yêu cầu quản lý đối với giao dịch thông thờng.
+ Bớc 2: Nhận đơn đặt hàng
Sau khi tài khoản đợc mở, khách hàng có thể ra lệnh mua, bán cho
Công ty môi giới. Hình thức đặt lệnh có thể bằng điện thoại, telex hay bằng
phiếu lệnh.
Nếu là lệnh bán Công ty sẽ đề nghị khách hàng xuất trình số chứng
khoán muốn bán để kiểm tra trớc khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị
phải ký quỹ một phần số chứng khoán theo một tỷ lệ do UBCKNN quy
định.
Nếu là lênh đặt mua, Công ty phải đề nghị khách hàng mức tiền ký

Hoạt động thanh toán bù trừ giao dịch bao gồm việc đối chiếu giao
dịch và bù trừ các kết quả giao dịch.
Hiện nay các nớc áp dụng đối chiếu cố định (look in): SGDCK sẽ
tiến hành bù trừ giao dịch trên cơ sở nội dung lệnh của các CTCK chuyển
vào hệ thống, những sai sót của CTCK tự sửa chữa. Phơng pháp này sẽ
giảm thiểu rất nhiều các hoạt động đối chiếu điều chỉnh giao dịch.
Việc bù trừ các kết quả giao dịch sẽ kết thúc bằng việc in ra các
chứng từ thanh toán. Các chứng từ này sẽ đợc gửi cho các CTCK và là cơ
sở để thực hiện thanh toán và giao dịch chứng khoán.
+Bớc 6: Thanh toán và giao hàng

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 18 - Trờng ĐHKTQDHN

Ngày nay với hệ thống thanh toán hiện đại, hầu nh tất cả đều đợc
thực hiện thông qua hệ thống chuyển khoản.
Đến ngày thanh toán, ngời mua sẽ nhận đợc một giấy chứng nhận
quyền sở hữu về số chứng khoán do Công ty bảo quản chứng khoán xác
nhận, số chứng khoán này nằm trong tài khoản lu trữ chứng khoán mà
CTCK đã mở tại Công ty Bảo quản.
Đối với ngời bán chứng khoán sẽ nhận đợc một giấy báo cáo trên
tài khoản của mình ở CTCK hoặc thông qua Ngân hàng đại diện của khách
hàng.
Phí môi giới
Hoạt động với t cách là nhà đại lý, nên CTCK đợc hởng hoa hồng
môi giới. Tiền hoa hồng thờng đợc tính phần trăm trên tổng giá trị một
giao dịch. Số tiền mua bán càng nhỏ thì số phần trăm hoa hồng càng lớn.
TTCK Tokyo là một trong những số ít TTCK phát triển hiện còn giữ
nguyên tắc hoa hồng cố định cho các môi giới chứng khoán. Theo đó mức
hoa hồng cao thấp tuỳ thuộc vào giá trị hợp đồng (nhng mức cao nhất là

của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các
khách hàng để hởng chênh lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính
Công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp
vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao
dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục cho chính mình, vì vậy trong quá
trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho
khách hàng và cho bản thân Công ty. Do đó, luật pháp của các nớc đều
yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa nghiệp vụ môi giới và nghiệp vụ tự doanh,
CTCK phải u tiên thực hiện lệnh của khách hàng trớc khi thực hiện của
mình. Thậm chí luật pháp ở một số nớc còn quy định hai loại hình CTCK
là Công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới chứng khoán
và CTCK có chức năng tự doanh.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 20 - Trờng ĐHKTQDHN

Khác với nghiệp vụ mô giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hàng để hởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh bằng chính
nguồn vốn của Công ty. Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và
đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích và đa ra
các quyết định đầu t hợp lý, đặc biệt trong trờng hợp đóng vai trò các nhà
tạo lập thị trờng.
Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh
+ Giao dịch gián tiếp: Tức là CTCK đặt các lệnh mua và bán của
mình trên sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với khách hàng nào
không xác định trứơc.
+ Giao dịch trực tiếp: Tức là giao dịch tay đôi giữa 2 CTCK hay
giữa CTCK với một khách hàng thông qua thơng lợng. Đối tợng giao
dịch loại này thờng là các loại trái phiếu, các cổ phiếu đăng ký giao dịch

trên thị trờng OTC để tạo thị trờng. Theo đó, họ liên tục có những báo
giá để mua hoăc bán chứng khoán với các nhà kinh doanh chứng khoán
khác. Nh vậy họ sẽ duy trì một thị trờng liên tục với chứng khoán mà họ
kinh doanh.
1.2.1.3. Hoạt động Bảo lãnh phát hành.
Bản chất Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra chông
chúng đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK t vấn cho đợt
phát hành và thực hiện Bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng.
Đây là nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm
tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của CTCK.
Nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng Bảo
lãnh(tổ chức Bảo lãnh) giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trớc
khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp
bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên
TTCK, tổ chức Bảo lãnh phát hành không chỉ có các CTCK mà còn bao

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 22 - Trờng ĐHKTQDHN

gốm các định chế tài chính khác nh Ngân hàng đầu t, nhng thông
thờng việc CTCK nhận Bảo lãnh phát hành thờng kiêm luôn việc phân
phối chứng khoán, còn lại Ngân hàng đầu t thờng đứng ra Bảo lãnh phát
hành (hoặc thành lập tổ hợp Bảo lãnh phát hành) sau đó chuyên phân phối
chứng khoán cho các CTCK tự doanh hoặc các thành viên khác.
Các hình thức Bảo lãnh phát hành
+ Bảo lãnh chắc chắn: Là hình thức Bảo lãnh mà Công ty Bảo lãnh
phát hành nhận mua toàn bộ số chứng khoán trong đợt phát hành của Công
ty phát hành, sau đó sẽ bán ra công chúng. Giá mua của Công ty Bảo lãnh
là một giá đợc ấn điịnh. Thờng là thấp hơn giá thị trờng, giá bán của

Lập nghiệp đoàn: Nếu Công ty phát hành là một Công ty nhỏ, giá trị
chứng khoán phát hành không lớn, thì có thể chỉ cần một CTCK đứng ra
Bảo lãnh phát hành. Nhng nếu đó là một Công ty lớn, số chứng khoán phát
hành vợt quá khả năng Bảo lãnh của một CTCK thì một nghiệp đoàn bao
gồm một số CTCK và các tổ chức tài chính sẽ đợc thành lập.
Nghiệp đoàn này có ý nghĩa phân tán rủi ro trong hình thức Bảo lãnh
chắc chắn. Trong nghiệp đoàn, sẽ có một Công ty Bảo lãnh chính hay còn
gọi là ngời quản lý, thờng là ngời khởi đầu cuộc giao dịch này, đứng ra
ký kết và giải quyết các thủ tục giấy tờ với Công ty phát hành. Nó cũng
quyết định CTCK nào sẽ đợc mời tham gia nghiệp đoàn cũng nh sẽ chi
trả phí Bảo lãnh cho các Công ty khác trong nghiệp đoàn.
Nhóm bán: Trong những trờng hợp cần thiết, nghiệp đoàn Bảo lãnh
có thể tổ chức thêm một nhóm bán để giải quyết việc bán chứng khoán
nhanh hơn. Nhóm bán gồm những CTCK không nằm trong nghiệp đoàn
Bảo lãnh, họ chỉ giúp bán chứng khoán mà không chịu trách nhiệm về
những chứng khoán không bán đợc. Vì thế, thờng thù lao cho họ ít hơn
so với CTCK là thành viên của nghiệp đoàn.
+ Phân tích, đánh giá chứng khoán
Định giá chứng khoán cho một đơth phát hành mới là một nghệ
thuật, một khoa học. Giá của cổ phiếu cũng nh lãi suất của trái phiếu

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trần Văn Sùng
Lớp TTCK42B - 24 - Trờng ĐHKTQDHN

không đợc định trớc ngày chứng khoán đợc phép bán ra cho công
chúng. Giá thị trờng của chứng khoán rất bất thờng, có thể hấp dẫn vào
buổi sáng nhng có thể không hấp dẫn vào buổi chiều nữa.
Đối với trái phiếu, việc định giá có đơn giản hơn, vì trên thị trờng
đã có sẵn lãi suất chuẩn và giá yết của những ngời mua, bán chứng khoán
cho những loại trái phiếu tơng tự.

Bản cáo bạch để chấp thuận cho phép phát hành hay từ chối trong thời hạn
30 ngày.
Trong thời gian này, có thể Công ty Bảo lãnh cùng Công ty Phát
hành sẽ phải cung cấp thêm tài liệu để giải trình các chi tiết cha đủ, cha
rõ trong Bản cáo bạch.
+ Phân phối chứng khoán trên cơ sở phiếu đăng ký
Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết nh phân phát Bản cáo bạch
và phiếu đăng ký mua chứng khoán và đợi khi đăng ký phát hành chứng
khoán có hiệu lực, CTCK (Hoặc nghiệp đoàn Bảo lãnh) sẽ tiến hành phân
phối chứng khoán.
Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán có thể phân phối chứng
khoán ra công chúng bằng các hình thức: Bán riêng cho các tổ chức đầu t
tập thể, nh các quỹ đầu t, quỹ Bảo hiểm, quỹ hu trí, bán trực tiếp cho
các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu t có quan hệ với tổ chức phát
hành, bán ra công chúng.
+ Thanh toán
Đến đúng ngày theo hợp đồng, Công ty Bảo lãnh phát hành phải giao
tiền cho Công ty phát hành. Số tiền phải giao là giá trị chứng khoán phát
hành trừ đi thù lao cho Công ty Bảo lãnh.
Thù lao cho Công ty Bảo lãnh có thể là một khoản phí đối với hình
thức Bảo lãnh chắc chắn hoặc hoa hồng đối với các hình thức Bảo lãnh
khác. Mức phí Bảo lãnh cao hay thấp tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát
hành cùng điều kiện thị trờng lúc phát hành, do hai bên thoả thuận nói
chung, nếu đó là đợt phát hành lần đầu thì mức phí và hoa hồng phải cao

Trích đoạn Các hoạt động chính đánh giá hiệu quả hoạt động của bvsc Định h−ớng hoạt động của UBCKNN và của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status