Các hình thức tấn công mạng
Có thể phân thành 4 dạng như sau:
1) Reconnaissance attacks:
Bước đầu hacker ping đến tằm nhắm để xác định địa chỉ IP đích. Sau đó,
hacker xác định những port cũng như những dịch vụ đang “sống” trên địa
chỉ IP đó.
Từ những thông tin này, hacker bắt đầu xác định được dạng và phiên bản của hệ điều hành. Hacker tiến
hành đánh cắp dữ liệu hoặc phá huỷ hệ điều hành của mạng.
Các hình thức tấn công dạng này bao gồm: packet sniffers, port scans, ping sweeps, internet information
queries.
a) Packet sniffers:
Là phần mềm ứng dụng dùng một card adapter với promiseous mode để bắt giữ tất cả các gói tin gởi
xuyên qua một mạng LAN. Kỹ thuật này chỉ thực hiện được trên cùng một collision domain.
Packet sniffers sẽ khai thác những thông tin được truyền ở dạng clear text. Những giao thức truyền ở dạng
clear text bao gồm: Telnet, FTP, SNMP, POP, HTTP…
Một vd như sau:
Code:
TCP - Transport Control Protocol
Source Port: 3207
Destination Port: 110 pop3
Sequence Number: 1904801188
Ack Number: 1883396256
Offset: 5 (20 bytes)
Reserved: %000000
Flags: %011000
0. (No Urgent pointer)
.1 Ack
1 Push
.0 (No Reset)
0. (No SYN)
0 (No FIN)
có bắt được dữ liệu thì cũng không thể giải mã được thông tin.
Phương pháp này có hiệu lực hơn so với việc dò tìm và ngăn cản sniffer. Nếu như một kênh truyền được
mã hoá, dữ liệu mà packet sniffer dò tìm được cũng không có giá trị và không phải là thông tin chính xác
ban đầu.
Hệ thống mã hóa của Cisco dựa trên kỹ thuật IPSec, giao thức mã hóa “ đường hầm” dựa trên địa chỉ IP.
Những giao thức gồm: Secure Sell Protocol ( SSH ) và Secure Socket Layer ( SSL ).
b) Port scans va ping sweeps:
Kỹ thuật này được tiến hành nhằm những mục đích như sau:
Xác định những dịch vụ trong mạng
Xác định các host và thiết bị đang vận hành trong mạng
Xác định hệ điều hành trong hệ thống
Xác định tất cả các điểm yếu trong mạng, từ đó tiến hành những mục đích khác.
Với kỹ thuật ping sweeps, hacker có thể xác định một danh sách các host đang sống trong một môi
trường. Từ đó, hacker sử dụng công cụ port scans xoay vòng qua tất cả các port và cung cấp một danh
sách đầy đủ các dịch vụ đang chạy trên host đã tìm thấy bởi ping sweeps. Công viêc tiếp theo là hacker
xác định những dịch vụ có điểm yếu và bắt đầu tấn công vào điểm yếu này.
Kỹ thuật IDS được dùng để cảnh báo cho nhà quản trị khi có reconnaissance attacks như là port scans va
ping sweeps. IDS giúp nhà quản trị có sự chuẩn bị tốt nhằm ngăn cản hacker.
c) Internet information queries:
DNS queries có thể chỉ ra nhiều thông tin như là người sở hữu một domain nào đó và range địa chỉ nào
được ấn định cho domain đó.
Hacker sử dụng công cụ này để “ trinh sát” tìm ra các thông tin trên mạng.
Cùng với port scans và ping sweeps, sau khi tìm ra được những thông tin đầy đủ như các port active, các
giao thức chạy trên port đó, hacker tiến hành kiểm tra những đặc trưng của các ứng dụng này để tìm ra
điểm yếu và bắt đầu tấn công.
2) Access attacks:
Trong phương pháp này, kẻ xâm nhập điển hình tấn công vào mạng nhằm: đánh cắp dữ liệu, giành lấy
quyền access, và giành lấy những đặc quyền access sau này.
Access attacks có thể bao gồm:
Password attack
Là một dạng khác của trust exploitation attack mà nó sử dụng một host thoả hiệp nhằm lấy giấy phép ra
vào firewall.
Ta có thể tượng như là một firewall với 3 interface và mỗi interface kết nối với 1 host. Host ở bên ngoài có
thể hướng đến host ở public services ( thường được gọi là demilitanized zone- DMZ ). Và host ở public
services có thể hướng tới cả host ở bên trong hay bên ngoài firewall.Hacker làm cho host ở public service
trở thành 1 host thoả hiệp. Hacker đặt một phần mềm tại host này nhằm tạo ra một traffic trực tiếp từ
host outside đến host inside. Kết nối này sẽ ko thực hiện thông qua firewall. Như vậy, host bên ngoài
giành được quyền kết nối với host bên trong thông qua qui trình port redirection tại host trung tâm
( public services host ).
d) Man in the middle attack:
Kỹ thuật man in the middle được thực hịên bao gồm:
Netword packet sniffers
Giao thức routing và transport.
Tấn công man in the middle nhằm mục đích:
Đánh cắp dữ liệu
Giành lấy một phiên giao dịch
Phân tích traffic trong mạng
DoS
Phá hỏng dữ liệu được truyền
Một ví dụ của man in the middle attack đó là: một người làm việc cho ISP và cố gắng access đến tất cả
các gói dữ liệu vận chuyển giữa ISP và bất kỳ một mạng nào khác.
Ta có thể ngăn chặn hình thức tấn công này bằng kỹ thuật mã hoá: mã hoá traffic trong một đường hầm
IPSec, hacker sẽ chỉ nhìn thấy những thông tin không có giá trị.