cơ sở hình thành và chức năng nhiệm vụ của hội đồng bảo an - Pdf 22

0
Tiểu luận Cơ sở hình thành và chức năng nhiệm
vụ của Hội đồng bảo an
1

NỘI DUNG


nhất liên quan tới duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, đặc biệt là việc giải quyết
hòa bình và các tranh chấp quốc tế và sử dụng những biện pháp cưỡng chế
được quy định cụ thể và chi tiết nhất ở chương VI và chương XII, theo đó
HĐBA có quyền:
 Yêu cầu những nước hữu quan phải thực hiện những biện pháp tạm thời
(đình chiến, rút quân về vị trí ban đầu ) nhằm ngăn chặn không cho
tình hình trở nên nghiêm trọng hơn (Điều 39)
 Áp dụng những biện pháp cưỡng chế mà không sử dụng lực lượng vũ
trang như cắt quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không kể
cả cắt quan hệ ngoại giao (điều 42).

II. Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của HĐBA:
1. Nguyên tắc hoạt động:
Theo điều 24 khoản 2 Hiến chương LHQ, trong khi thực hiện những nghĩa
vụ của mình, HĐBA hành động theo đúng những Mục đích và Nguyên tắc của
LHQ. Những quyền hạn nhất định được trao cho Hội đồng Bảo an để HĐBA
có thể làm tròn những nghĩa vụ ấy, được quy định ở các Chương VI, VII, VIII
và XII. Theo đó, nhưng nguyên tắc hoạt động chính của HĐBA bao gồm:
- Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và tự quyết của các dân tộc;
- Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các nước;
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kì nước nào;
- Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình;
- Chung sống hòa bình và nhất trí giữa 5 nước lớn: Liên Xô (Nga), Mĩ,
Anh, Pháp, Trung Quốc.
Trong đó, nguyên tắc “nhất trí” là nguyên tắc có thể nói là đặc trưng cho
HĐBA. Nguyên tắc này áp dụng cho việc bỏ phiếu khi thông qua bất kì nghị
quyết nào của HĐBA. Mỗi thành viên Hội đồng có một phiếu. Các quyết định
3

liên quan đến thủ tục được thông qua với số phiếu thuận của ít nhất là 9 trong

ban về tiếp nhận thành viên mới. Các ủy ban này đều có đại diện của các
thành viên HĐBA.
 Ủy ban tham mưu quân sự: bao gồm các Tổng chỉ huy quân đội của tất cả
các nước thành viên hoặc đại diện của họ. Chức năng nhiệm vụ của nó là tư
vấn cho hội đồng về tất cả các vấn đề liên quan đến các yêu cầu quân sự để
bảo vệ và duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, việc sử dụng và chỉ huy các
lực lượng đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban, kể cả các quy định về vũ trang,
và giải trừ quân bị nếu có thể.
 Các ủy ban cấm vận: hiện nay có 8 ủy ban cấm vận của HĐBA, đó là Ủy
ban nghị quyết 661 của HĐBA về Irắc, Ủy ban nghị quyết 784 của HĐBA
về Libi, Ủy ban nghị quyết 751 về Xômali, Ủy ban nghị quyết 864 về
Ăngôla, Ủy ban nghị quyết 918 về Ruanđa, Ủy ban nghị quyết 985 về
Libêria, Ủy ban nghị quyết 1132 về Xiêra Lêôn, Ủy ban nghị quyết 1160 về
Côxôvô.
 Uỷ ban chống khủng bố: Uỷ ban này được thành lập theo Nghị quyết 1373
(2001) về một số biện pháp chống lại các mối đe doạ đối với hoà bình và an
ninh quốc tế của các hành động khủng bố, nhằm giám sát việc thực hiện
nghị quyết này. Các nước thành viên Liên hợp quốc phải trình bản báo cáo
về các bước tiến hành để thực hiện Nghị quyết 1373 lên Uỷ ban, lần đầu
tiên trong vòng 90 ngày và các lần sau theo thời gian biểu của Uỷ ban. Uỷ
ban gồm tất cả 15 thành viên của Hội đồng Bảo an. Uỷ ban thành lập 3 tiểu
ban, mỗi tiểu ban do một Phó Chủ tịch Uỷ ban làm chủ tịch, để xem xét sơ
bộ bản báo cáo của các nước thành viên.
 Các lực lượng chính trị và kiến tạo hoà bình: gồm Văn phòng chính trị ở
Bougainville (UNPOB) (1998), Văn phòng kiến tạo hoà bình ở Cộng hoà
Trung Phi (BONUCA) (1999), Lực lượng trợ giúp ở Ápghanixtan
(UNAMA) (2002), Văn phòng đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp
quốc về vấn đề Irắc (2003)…
 Các hoạt động và lực lượng gìn giữ hoà bình: gồm Tổ chức giám sát
ngừng bắn ở Trung Đông (UNTSO) (1948), Nhóm quan sát viên quân sự ở

 Nhóm làm việc đặc biệt (Ad hoc) bao gồm thành viên của các nước thành
viên HĐBA được thành lập để xem xét những vấn đề cụ thể trong từng thời
điểm.
6

 Các tổ chức khác: như các cơ quan chỉ huy của LHQ tại bán đảo Triều
Tiên (UNC) được thành lập theo nghị quyết 85 (1950) của HĐBA. Cơ quan
này yêu cầu tất cả các thành viên cung cấp lực lượng quân sự ở bán đảo
Triều Tiên và cho phép chúng đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của Mỹ,
đã có các đơn vị chiến đấu được đưa đến từ 16 nước, phần lớn là phương
Tây, ngoài ra có các nước đang phát triển như Côlômbia, Etiopi, Philippin,
Nam Phi, Thái Lan.
III. Vai trò và tác động của HĐBA tới an ninh quốc tế trong chiến
tranh Lạnh:
1. Vai trò và tác động:
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, HĐBA rất mờ nhạt trong việc thực thi các
nhiệm vụ và chức năng như đã được ghi nhận trong Hiến chương LHQ của
mình. Vai trò của cơ quan này nhằm giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế chỉ đạt
được rất ít thành tựu và hầu như không để lại dấu ấn đặc biệt nào. Cụ thể, hòa
giải và cưỡng chế trong các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế là một quyền
hạn rất rộng của HĐBA, vốn đã được Hiến chương LHQ ghi nhận ngay từ thời
kỳ đầu. Tuy nhiên, các quyền này đã gần như không được HĐBA sử dụng.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, HĐBA cũng đã từng ra các quyết định để giải
quyết các cuộc khủng hoảng, song với số lượng không nhiều. Cụ thể, là cuộc
khủng hoảng ở Palestine (nghị quyết số 50 và 54 năm 1948), Zimbawe (nghị
quyết 236 ngày 16/12/1966 và nghị quyết 253 ngày 29/5/1968), vấn đề Nam
Phi (Nghị quyết 418 ngày 4/11/1977 và nghị quyết 591 ngày 28/11/1986)….
Hai cuộc khủng hoảng cuối đã buộc HĐBA phải sử dụng biện pháp cấm vận
kinh tế. Riêng đối với cuộc khủng hoảng ở Công gô năm 1961, biện pháp vũ
lực đã được HĐBA sử dụng (nghị quyết 169). Một số cuộc khủng hoảng

Năm 1948, đại hội đồng LHQ thành lập 1 ủy ban về Ấn Độ và Pakistan
gồm 3 thành viên mới, nhiệm vụ điều tra và làm trung gian đối với việc
tranh chấp quy chế vùng Kashmir. Đến năm 1949 thì thành lập
UNMOGIP, nhằm mục đích hỗ trợ thực hiện các hiệp định ngừng bắn
ký ngày 1-1-1949 giữa Ấn Độ và Pakistan. Sau khi cuộc xung đột vũ
trang ở Kashmir lại bùng nổ năm 1965, HĐBA quyết định tăng cường
UNMOGIP nhằm giám sát việc ngừng bắn và rút quân của 2 bên.
 Lực lượng LHQ tại Síp (UNFISYP): Lực lượng hòa bình của LHQ tại
Síp được thành lập năm 1964 với thời hạn 3 tháng và thường xuyên
được gia hạn. Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng này là giám sát ngừng
bắn và kiểm soát khu vực đệm giữa vùng người Síp gốc Hy Lạp ở phía
nam và vùng người Síp gốc Thổ Nhĩ Kỳ ở phía bắc.

2
Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, Vụ các tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao. NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999
8

 Lực lượng LHQ quan sát việc tách quân (UNDOF) thành lập năm 1974
sau thỏa thuận ngừng bắn giữa Syria và Israel. Lực lượng này được triển
khai trên đồi Golan để tách quân đội Syria và quân chiếm đóng Israel.
 Lực lượng tạm thời của LHQ tại Libăng (UNIFIL) thành lập năm 1978,
theo yêu cầu của chính phủ Libăng để có mặt tại miền Nam Libăng bị
Israel chiếm đóng.
Thời kỳ chiến tranh Lạnh cũng chứng kiến “sự đóng băng” trong việc ra các
quyết định của HĐBA. Thực tế cho thấy, 5 nước thành viên thường trực của
HĐBA đều không muốn thông qua những nghị quyết gây bất lợi cho họ. Do
vậy, họ sử dụng triệt để chiêu bài veto để đạt được lợi ích cho mình. Trong thời
kỳ này, Liên Xô và Mỹ là 2 quốc gia có số lần phủ quyết nhiều nhất, đó là chưa
kể tới những lần phủ quyết khác của 3 nước P5 còn lại. Vào thời kỳ đỉnh cao

 Trung Quốc: trong giai đoạn từ 1946 đến 1971, ghế của Trung Quốc
tại HĐBA do Cộng Hoà Trung Hoa (Đài Loan) giữ. Nước này đã
dùng quyền phủ quyết 1 lần nhằm bác bỏ đơn gia nhập LHQ của
Mông Cổ. Trong năm 1972, CH Trung Hoa đã phủ quyết 2 lần: một
lần phủ quyết đơn gia nhập LHQ của Bangladesh và một lần cùng
với Liên Xô bác bỏ nghị quyết về Trung Đông.
Theo số liệu thống kê, từ năm 1991 đến nay, số lượng nghị quyết được
HĐBA thông qua tăng gấp 2-3 lần so với giai đoạn Chiến tranh lạnh
3
, đặc biệt
là hầu hết các nghị quyết đều được thông qua bởi số phiếu ủng hộ tuyệt đối.
Quyền phủ quyết được sử dụng trong một số trường hợp rất hãn hữu, 15 lần từ
năm 1991 đến 2004 ngược lại với tổng số quyền phủ quyết đã được sử dụng
trong giai đoạn Chiến tranh lạnh là 264 lần từ năm 1945 đến năm 1990
4
.
Những số liệu này phần nào cho thấy, trong chừng mực nào đó, hoạt động của
HĐBA trong Chiến tranh Lạnh không đạt được hiệu quả như các quốc gia
mong muốn.
2. Nguyên nhân:
2.1. Những hạn chế nội tại của Hội đồng bảo an

3
Xem thêm Wallensteen and Johansson, “Security Council Decisions in Perspective”,
in David M. Malone (ed.), The UN Security Council: From the Cold War to the
21
st
Century (Lynne Rienner Publishers, 2004).
4
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc: Vị thế và vai trò của các nước thành viên không

quyết từ sau chiến tranh vùng vịnh 1991. Trong khi đó từ cuộc chiến Ả rập-
Israel từ năm 1967, Israel- một đồng minh thân cận của Mỹ không tuân thủ biết
bao nghị quyết của HĐBA mà không bị trừng trị, đặc biệt là hai nghị quyết 242
và 338 đòi Israel phải rút khỏi lãnh thổ Ả rập và Palestine bị Israel chiếm đóng.

5
Giáo trình Luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội
11

Số lượng thành viên HĐBA dù tăng lên từ 11 lên 15 thành viên, tức là tăng
gấp rưỡi, trong khi đó số thành viên Liên hiệp quốc tăng gấp bốn lần. Do vậy,
sự tăng số thành viên này của HĐBA cũng không đáng là bao, hơn nữa số
thành viên thường trực vẫn không đổi với 5 thành viên. Do vậy, HĐBA - cơ
quan có quyền lực cao nhất Liên hiệp quốc thực chất là dựa trên ý chí của 5
nước lớn.
Ngoài ra, do ảnh hưởng của cơ chế quyền phủ quyết đến hoạt động của
HĐBA, nhất là trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, HĐBA gần như bị tê liệt hoàn
toàn, nên điểm khác biệt rõ nét nhất (nhưng không phải là duy nhất) giữa thành
viên thường trực và thành viên không thường trực HĐBA là quyền phủ quyết.
Và đây chính là 1 trong số những nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho
HĐBA không phát huy được vai trò của mình trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Quyền phủ quyết thường bị lạm dụng, gây bất lợi đối với đại đa số các nước
thành viên Liên hiệp quốc. Về khách quan, quyền phủ quyết có ý nghĩa tích
cực trong bối cảnh quốc tế khi LHQ ra đời, thể hiện sự bình đẳng giữa hệ thống
Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa, đảm bảo nguyên tắc cùng tồn tại hòa
bình giữa những nước có chế độ chính trị- xã hội khác nhau, tránh nguy cơ biến
HĐBA thành công cụ của đa số nước Tư bản chủ nghĩa chống thiểu số Xã hội
chù nghĩa. Nhưng trên thực tế quyền phủ quyết này thường được các nước lạm
dụng phục vụ lợi ích chính trị của mình, lại là nơi thể hiện rõ rệt tính chất hai
cực của chiến tranh lạnh.

trường và cấu trúc của trật tự thế giới hai cực do Chiến tranh Lạnh mang lại.
LHQ và HĐBA được thiết lập ra với mong muốn ban đầu là thúc đẩy hợp tác
đa phương, hướng tới một trật tự đa cực sau CTTG II. Tuy nhiên những gì diễn
ra sau đó lại trở thành một trật tự hai cực mà luật chơi của trật tự hai cực là phụ
thuộc chủ yếu vào ý muốn chủ quan của hai siêu cường. Xung đột hay gìn giữ
hòa bình thế giới (vốn được xem là nhiệm vụ của HĐBA) trên thực tế do 2 siêu
cường đảm trách, do đó vai trò của LHQ và HĐBA bị xem nhẹ. Ngoài ra, trong
chiến tranh lạnh chưa có các khái niệm "khủng hoảng/can thiệp nhân đạo" hay
"an ninh phi truyền thống", "các vấn đề toàn cầu" đòi hỏi HĐBA phải hành
động một cách đa phương.
2.3. Sự phức tạp của các xung đột
Trong chiến tranh lạnh, có quá nhiều cuộc xung đột giữa các nhà nước mà
trực tiếp hoặc gián tiếp có sự tham gia của 1 trong 2 siêu cường là Mỹ và Liên
Xô hoặc đồng minh của họ. Vì vậy, HĐBA không có cơ hội để can thiệp do sẽ
vấp phải veto của 1 trong 2 siêu cường này (chỉ duy nhất có 1 lần HĐBA làm
được đó là can thiệp trong chiến tranh Triều Tiên do Liên Xô vắng mặt khi bỏ

7
Peter calvocoressi, NXB Lao Động, Chính trị thế giới sau năm 1945
13

phiếu). 1 số trường hợp can thiệp ít ỏi khác là ở những nơi không quan trọng -
nơi mà lợi ích của 2 siêu cường không nhiều.
Thực tế, các xung đột mang tính chất ảnh hưởng tới hòa bình và an ninh
quốc tế chắc hẳn đều phải có tính chất phức tạp ít nhiều. Sự phức tạp này có thể
thể hiện ở số lượng các bên tham gia vào cuộc xung đột với những mâu thuẫn
chồng chéo lên nhau. Hoặc là do bản thân tính chất xung đột là khó có thể giải
quyết triệt để. Ví dụ như cuộc xung đột dai dẳng giữa Israel và thế giới Ả rập là
một cuộc xung đột phức tạp do ngày càng có nhiều bàn tay can thiệp vào. Hơn
nữa, mâu thuẫn cũng nảy sinh trên nhiều lĩnh vực như tôn giáo, tranh chấp lãnh

hệ quốc tế cũng thay đổi rõ rệt: không còn đối đầu giữa hai cực, các nước quan
tâm hơn đến vấn đề an ninh nhằm đảm bảo môi trường ổn định để phát triển.
Do đó, vấn đề an ninh hòa bình càng được chú trọng hơn. Cũng chính vì thế
một cơ chế an ninh đa phương lớn nhất thế giới như HĐBA lại càng có vai trò
quan trọng. Trên thực tế, HĐBA cũng đã thực hiện các chức năng của mình
một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, cùng với sự đổi thay của thế giới, HĐBA đang đứng trước
yêu cầu phải "làm mới bản thân", trong đó quy mô của số thành viên thường
trực là một vấn đề gây tranh cãi. Thế giới đang dần chuyển sang đa cực với sự
trỗi dậy cũng như sự suy yếu của các quốc gia, vị thế của các nước trên bàn cờ
lớn chính trị thế giới cũng thay đổi. Do đó việc chỉ luôn có 5 thành viên của
Hội Đồng Bảo An “đứng trên” tất cả các quốc gia khác chắc chắn là một điều
mà nhiều nước phần nào đó không hài lòng. Phát biểu tại Hội nghị về quản lý
toàn cầu và cải cách HĐBA tại Rome - Italy, Chủ tịch Đại hội đồng LHQ
J.Deiss nhấn mạnh: LHQ sẽ mất vị thế là một diễn đàn quốc tế quan trọng nhất
nếu các nước thành viên không đạt được sự đồng thuận về việc cải cách quy
mô, tư cách thành viên và cách làm việc của HĐBA. Ông cũng tuyên bố không
thể chấp nhận được khi cộng đồng quốc tế không thể đạt được một tiến bộ cụ
thể nào trong việc cải cách HĐBA dù đã có những tranh luận tích cực trong
gần hai thập kỷ qua
9
.
Theo một kế hoạch cải tổ được đề xuất gần đây, số thành viên thường
trực có thể sẽ tăng thêm 5 quốc gia nữa, trong đó các ứng cử viên được đề cập
nhiều nhất là Đức, Nhật Bản, Ấn Độ, Brazil và một quốc gia châu Phi là Nam
Phi hoặc Nigeria. Gần đây, đại diện của một số quốc gia gợi ý rằng có thể 5

9
10
/>ns080114140125#dAaP8LtWKrvK

16
Câu 2: Trong chiến tranh lạnh HĐBA là một cơ chế an ninh đa phương lớn
nhất, thu hút được sự tham gia của nhiều nước dù biết các nước lớn mâu
thuẫn về lợi ích và khó đạt được một sự đồng thuận nhưng các nước vẫn
tham gia. Vì sao vậy?
Trả lời:
Có thể nói HĐBA là một trong những cơ chế an ninh đa phương lớn nhất, thu
hút được sự tham gia của nhiều nước …Việc các nước muốn trở thành thành
viên của LHQ vấp phải sự phản đối của LX và Mỹ theo cơ chế phủ quyết.
Chúng tôi chỉ đề cập việc các nước muốn tham gia vào cơ chế đa phương này
khi nó mới thành lập, khi chiến tranh lạnh chưa xảy ra còn trong chiến tranh
lạnh, sự tham gia của các nước vào HĐBA LHQ là hạn chế, có chăng việc các
nước tham gia vào cơ chế này đó là:
18

- Các nước theo phe XHCN hoặc phe TBCN đều tìm thấy sự bảo trợ của LX
hoặc Mỹ trong HĐBA, nên những vấn đề an ninh của họ nếu không muốn
bị phe bên kia đe dọa thì cách tốt nhất là tham gia vào thể chế an ninh này
để tranh thủ sự bảo trợ của hai cường quốc lúc này.
Câu 3: Các quốc gia đều nhận thấy UNSC không khách quan trong việc đưa
ra nghị quyết . Cải tổ UN dường như khiến đa số quốc gia nản lòng. Các
quốc gia không có cách nào ngoài đứng nhìn P5 nắm luật chơi hay họ
không thực sự lao vào vòng thương lượng để giải quyết lỗ hổng pháp lý
? Điều gì ngăn cản họ nói lên tiếng nói của mình?
Trả lời:
Trên thực tế thì hoàn toàn ngược lại với những gì các bạn vừa nói, các quốc gia
tham rất quyết liệt vào các vòng thương lượng để tìm giải pháp cho UNSC. Các
quốc gia tổ chức và tham gia rất nhiều diễn đàn, hội nghị để tìm giải pháp cho
việc cải tổ HĐBA.
Trong HĐBA có nhóm “làm việc mở” chuyên đưa ra các phương án đề xuất cải
tổ HĐBA hoặc các nhóm quốc gia thành viên LHQ cũng đưa ra các phương án

1. Giáo trình Luật quốc tế, Học viện quan hệ quốc tế
2. Giáo trình Luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội
3. Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, Vụ các tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại
giao. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999
4. Hệ thống Liên hiệp quốc, Võ Anh Tuấn, NXB Chính trị quốc gia
5. Chính trị thế giới sau năm 1945, Peter calvocoressi, NXB Lao Động
6. Các trang web liên quan
7. Các tạp chí Nghiên cứu quốc tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status