TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ÁP DỤNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ BỜ BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN - Pdf 22

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ÁP DỤNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP BẢO VỆ BỜ BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN
OVERVIEW OF SOME RECENT COASTAL PROTECTION WORKS AND
METHODS SUGGESTION IN BINH THUAN PROVINCE
ThS. Trần Minh Tuấn
ThS. Nguyễn Đình Vượng
Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam
Tóm tắt :
Xói lở là thuộc tính vùng bờ biển tỉnh Bình Thuận, một trong những thiên tai
nguy hiểm ảnh hưởng đến tính mạng con người và gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, xã
hội và môi trường. Trong những năm qua đã có nhiều dự án thử nghiệm bảo vệ bờ
được triển khai tại các vùng dân cư, các khu kinh tế và khu du lịch trọng điểm vùng
ven biển tỉnh Bình Thuận, bước đầu hệ thống công trình kè chống xói lở đã phát huy
hiệu quả cao trong việc bảo vệ bờ biển, chặn đứng được xói lở, ổn định cuộc sống của
người dân vùng bị biển lấn. Bài này sẽ đánh giá sơ bộ những giải pháp công trình bảo
vệ bờ đã thực hiện trong thời gian qua, đồng thời nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ
bờ biển Bình Thuận.
Từ khóa : Bờ biển, kè, kết cấu, xói lở, vùng ven biển, Bình Thuận
Abstract :
The coastal erosion phenomenon in Binh Thuan province is one of the serious
natural calamities for human being and causes serious consequences for society -
economy and environment. In some recent years, there are many pilot projects of
coastal protection for residential areas, industrial zones, economy areas and tourism
areas. Recently, some coastal protection works have carried out effectively. This paper
has presented the overview of some recent coastal protection works and methods
suggestion in Binh Thuan province.
Keywords : Shore, breakwater, structure, erosion, coastal areas, Binh Thuan.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bình Thuận là tỉnh ven biển, nằm ở vị trí bản lề giữa Nam Trung Bộ, Nam Tây
Nguyên và vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc và Tây Bắc giáp Lâm Đồng, phía Đông và
Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây

nghiệm cục bộ. Mặt khác do u cầu phát triển, khai thác, sử dụng vùng ven biển ngày
càng cao hơn, bảo vệ bờ khơng những bền vững mà còn phải bảo tồn được cảnh quan,
mơi trường, giữ gìn sự cân bằng của hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái của các vùng
biển du lịch có giá trị của tỉnh Bình Thuận. Vấn đề khoa học về các lĩnh vực biển và
bảo vệ bờ biển vẫn cần phải được tiếp tục nghiên cứu.
2. ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ CÁC GIẢI PHÁP CƠNG TRÌNH BẢO VỆ BỜ ĐÃ ÁP
DỤNG
Dưới đây chúng tơi xin giới thiệu tóm tắt một số những đoạn kè bảo vệ bờ tiêu
biểu nhất.
2.1. Đoạn kè kết cấu truyền thống bảo vệ bờ biển Hàm Tiến, Tp. Phan Thiết từ
km8 + 425 đến km8+625, (xây dựng năm 1997), [1].
Đây là dự án thử nghiệm đầu tiên trong việc ứng dụng kè chống xói lở cấp bách
cho đoạn bờ xung yếu bảo vệ hạ tầng cơ sở và đường giao thơng, khu du lịch tại Tp.
Phan Thiết, Bình Thuận. Đoạn kè này do Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam thiết kế
năm 1997. Biện pháp cơng trình là gia cố bờ tại chỗ bằng tường đá xây kết hợp kè mái
nghiêng, với hình thức kết cấu cơng trình gồm 3 khối, xem Hình 1 :
ĐOẠN HÀM TIẾN - MŨI NÉ
KM
8+425 -
KM
8+625
(L = 200m)
Đá hộc d > 50 cm lát khan
Đá hộc d = 20 - 30 cm
CĐTN. (m)
KC. (m)
Đá hộc d > 60 cm lát phẳng
có kèm đá d = 20 - 30 cm xếp chen chặt
Đá dăm 4 x 6 cm, dầy 20 cm
Vải lọc TS 550

60cm. Cao trình đỉnh mái kè +2,0m, cao trình đỉnh chân kè -0,2m, mái dốc kè m= 4.
2
- Khối chân kè (phần chân khay) : được gia cố bằng hệ thống cọc tràm và đá hộc
d ≥ 40cm. Chân khay kè cao trình -0,2m, rộng 2 m, cao trình đóng cọc cừ tràm -0,7m,
khoảng cách 2 hàng cọc 1m, cọc được giằng bằng các thanh ngang.
Qua theo dõi q trình làm việc thấy kè ổn định, bền vững, chống được xói lở
trong giai đoạn bảo vệ cấp bách, tuy nhiên đây là giải pháp thơ hố bờ biển chỉ thích
hợp cho việc bảo vệ các khu dân cư, khu cơng nghiệp, khơng phù hợp đối với các khu
du lịch, nhất là với các bãi tắm. Ngồi ra hiện nay phần đá đổ bảo vệ mái khơng còn
như thiết kế, đá đổ nhiều viên đã trơi xuống chân kè, ảnh hưởng tới tuổi thọ làm việc
của kè trong tương lai.
2.2. Các đoạn kè kết cấu KC-1998 bảo vệ bờ biển Hàm Tiến - Mũi Né và Phước
Thể, tỉnh Bình Thuận, [7].
Cấu kiện TAC-178 D=25
Đá dăm 2 x 3 x 4 dầy 15cm
Vải lọc TS 550
Cát hạt thô tưới nước đầm kỹ
Cấu kiện TAC-178 D=25
Đá dăm 2x3x4 dầy 20cm
Bè đệm chống lún
Vải lọc TS 550
Cát hạt thô
Vải lọc TS 550
Mực nước max = +1.05
CẮT NGANG ĐIỂN HÌNH KÈ (1 / 100)
ĐOẠN: HÀM TIẾN - MŨI NÉ
KM
7+909 -
KM
7+985

Vải lọc TS40
Đá đổ
Dăm lót 2x4 cm, dầy 15 cm
Vải lọc TS40
BTĐS. M200 / dầy 25 cm, liên kết nêm
Dăm lót 2x4 cm, dầy 15 cm
Vải lọc TS40
Mặt đê rộng 3 m
rãi cấp phối
Tường đỉnh kè đá xây M150
Tấm BTĐS M.200, liên kết mảng mềm Tấm BTCT đổ tại chỗ M.200
Ống puy BTĐS
(D=1.5m, L=1.5m)
Đắp cát hạt thô
Đất cấp phối dầy 20 cm
Đá lát khan dầy 20 cm
Hình 3 : Đoạn kè 1 km bảo vệ bờ biển Phước Thể, huyện Tuy Phong (xây dựng 2002)
3
Nhận xét, đánh giá các đoạn bờ kè đã bảo vệ theo kết cấu KC-1998:
- Sau kết cấu kè kiểu tường đá xây chống xói lở cấp bách của Viện KHTLMN và
nhiều loại kết cấu truyền thống khác bảo vệ bờ biển Bình Thuận khơng thành cơng
lắm, đến khoảng cuối năm 1998 Trường Đại học Thuỷ lợi phối hợp với Cục Phòng
chống Lụt bão và Quản lý Đê điều đã sử dụng kết cấu KC-1998, đây là loại kết cấu
mảng mềm đầu tiên bảo vệ mái đê biển và bảo vệ bờ biển Hàm Tiến - Bình Thuận.
- Các kết cấu kè KC-1998 (mảng mềm bê tơng Tsc-178 và 2 hàng ống puy) bảo
vệ bờ biển Bình Thuận được trình bày ở Hình 2 và 3. Bộ phận bảo vệ mái dốc của KC-
1998 là ứng dụng kết cấu mảng mềm được cấu tạo bằng các cấu kiện bê tơng Tsc-178
liên kết với nhau theo ngun lý tự chèn, chân khay kè là 2 hàng ống puy bỏ đá hộc trở
thành một cấu kiện có trọng lượng lớn với khả năng duy trì độ ổn định rất cao khi sóng
tác động vào bờ. Các ống puy xếp liền kề tạo thành một khối chân kè liên kết mềm ít

bên trong đổ đầy đá hộc
Bè đệm cát
Bậc lên xuống
bê tông M 200
HWRU - TOE - 2001
bên trong đổ đầy đá hộc
Bê tông M 200
Lát cấu kiện
Tấm chèn
A - A
TỶ LẼ : 1/100
A A
Hình 4 : Đoạn kè kết cấu cải tiến KC-2002
Nhận xét và đánh giá : Kết cấu kè ký hiệu KC-2002 trình bày trên Hình 4 được
Trường Đại học Thuỷ lợi Hà Nội thiết kế năm 2002 trên cơ sở nghiên cứu cải tiến kết
cấu KC-1998 theo hướng bảo vệ bờ đồng thời giữ gìn bãi cát (ni bãi) phục vụ du
4
lịch. Đây là kết quả của Dự án nghiên cứu khoa học song phương Việt - Bỉ, xây dựng
thử nghiệm đoạn kè 300m bảo vệ bờ biển Hàm Tiến - Mũi Né do 2 trường Đại học
Thuỷ lợi và Đại học Liege (vương quốc Bỉ) chủ trì,[4].
KC-2002 không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ chống các tác động gây xói từ phía biển
mà còn chịu ảnh hưởng của tải trọng trên bờ (theo yêu cầu xây dựng), để đáp ứng
nhiệm vụ này KC-2002 đã cấu tạo theo hình thức tường chắn chìm bê tông trọng lực ở
đỉnh, tăng khả năng chịu tải trên bờ.
Khối chân kè ở KC-2002 đã thay thế ống bê tông trụ tròn bằng những ống bê
tông lục giác (công nghệ chân kè HWRU-TOE-2001) vẫn giữ nguyên được khối lượng
vật liệu bằng bê tông và đá như khối chân kè bằng ống puy tròn nhưng nó giảm nguy
cơ phá hoại mái dốc do dòng rút kéo cát qua chân kè của sóng.
Ngoài ra kết cấu này có ưu điểm hơn so với kết cấu kè KC-1998 cùng kiểu dáng
là tăng độ dốc mái từ m = 4 lên m = 2,5 đã rút ngắn được chiều dài mái dốc, tăng gần

tông và đá đổ, kết quả hoạt động cho thấy mục tiêu và giải pháp đề ra là hợp lý, đáp
ứng yêu cầu của bà con ngư dân. Tuy nhiên cũng tồn tại một số vấn đề về luồng lạch
trong mùa khô, một số thời điểm nước thủy triều xuống thấp việc ra vào cảng rất khó
khăn, thậm chí trong nhiều trường hợp phải trung chuyển hải sản từ ngoài xa vào bờ
do thuyền không thể ra vào cảng được. Mặt khác cũng nhận thấy rằng kết cấu kè bằng
khối đổ bê tông TETRAPOD như hiện nay rất tốn kém, thi công lâu và mức độ an
toàn, mỹ quan không cao.
2.7. Nhận xét chung
Đánh giá chung về các hệ thống công trình chống xói lở bảo vệ bờ biển cũng
như các công trình chống bồi lắng cho hệ thống cảng, cửa sông trên địa bàn tỉnh Bình
Thuận có thể rút ra một số nhận xét chính như sau :
- Về hiệu quả hầu hết các công trình đã phát huy được tác dụng và mục tiêu đề
ra, đặc biệt là các công trình mang tính khẩn cấp như kè Hàm Tiến, kè Phước Thể đã
chặn đứng được sạt lở, bảo vệ an toàn về người và tài sản cho nhân dân, bảo vệ hệ
thống giao thông và các khu du lịch. Phát huy được hiệu quả của các dự án thử nghiệm
về phòng chống thiên tai. Các công trình chống bồi lắng góp phần làm thông luồng
lạch, mở đường cho tàu thuyền ra vào cảng, vận chuyển hàng hóa thuận lợi.
- Về nhược điểm, giá thành đầu tư các công trình còn rất cao, kết cấu thô, nặng,
trên mỗi mét vuông bờ biển phải đổ ra một khối bê tông khá lớn cùng với nhiều loại
vật liệu đắt tiền khác như vải lọc, đá lót, ống puy v.v việc bê tông hóa (cứng hóa) các
đoạn bờ biển sẽ ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường các bãi tắm. Hầu hết các công
trình này đều có thời gian thi công quá dài, mặt bằng công trường chiếm diện tích lớn,
ảnh hưởng đến sinh hoạt và du lịch của người dân.
Đối với công trình bảo vệ bờ tại các khu dân cư, khu công nghiệp, hải cảng và
khu vực quốc phòng thì giải pháp bê tông hóa (cứng hóa) bờ biển là hợp lý, vấn đề chỉ
là lựa chọn giải pháp kết cấu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để đảm bảo giá thành và mỹ
quan cho công trình, giảm tối đa ảnh hưởng và tác động môi trường trong quá trình thi
công.
Đối với các vùng bờ biển là bãi tắm và khu du lịch thì yêu cầu bảo vệ bờ biển là
khắt khe và chặt chẽ hơn nhiều. Có 3 tiêu chí bắt buộc là:

cứu, thẩm định và so sánh rất thận trọng trước khi đưa ra quyết định xây dựng.
Đối với các khu du lịch, bãi tắm, giải pháp bảo vệ bờ phải "mềm hóa", chống xói
lở có nhiều yêu cầu phức tạp hơn. Trước hết nếu áp dụng giải pháp bảo vệ trực tiếp thì
việc cứng hóa bờ biển cũng chỉ nên áp dụng cho phần trên bờ, phần mái bờ phải giữ
nguyên là bãi cát tự nhiên, đề nghị áp dụng công nghệ bảo vệ bờ và kết hợp nuôi bãi
phục vụ du lịch. Giải pháp bảo vệ bờ được đưa ra là kết cấu KC-2002, kiểu chân kè
TOE-HWRU-2001,[4], kết cấu mềm GST [2]…vv.
Ngoài ra giải pháp bảo vệ bờ còn phải bảo đảm thi công nhanh gọn, không yêu
cầu mặt bằng công trường lớn trừ khu vực thi công công trình, đặc biệt không ảnh
hưởng tới hoạt động du lịch và tắm biển của du khách, yêu cầu thi công kiểu cuốn
chiếu từng đoạn, giữ gìn vệ sinh môi trường cho bãi tắm. Từ những yêu cầu khắt khe
trên có thể đề xuất một giải pháp khác để bảo vệ bờ cho các khu bãi tắm là ứng dụng
công nghệ cừ bản BTCT dự ứng lực (bê tông ứng suất trước) lắp ghép thành tường
đứng để bảo vệ bờ, với công nghệ này, hoàn toàn có thể đáp ứng được những yêu cầu
đề ra ở trên, đặc biệt là tốc độ thi công và sự gọn nhẹ của công trường vì tất cả cấu
kiện đều được đúc sẵn trong nhà máy, phần bê tông liên kết cũng được phối trộn ở nơi
khác mang tới, số lượng công nhân trên công trường chỉ từ 5 đến 10 người, có thể thi
công theo yêu cầu của ngành du lịch để bãi tắm luôn hoạt động bình thường. Dưới đây
xin giới thiệu 2 dạng công trình bảo vệ bờ biển Bình Thuận ứng dụng công nghệ cừ
bản BTCT dự ứng lực.
a). Bảo vệ bờ trực tiếp ứng dụng công nghệ cừ bản BTCT dự ứng lực kết hợp
mái bê tông mảng mềm Tsc-178, chân kè TOE-HWRU-2001 (cải tiến KC-2002).
Trên cơ sở kết cấu KC-2002, ở đây ta thay tường bê tông trọng lực ở đỉnh của kết
cấu KC-2002 bằng hàng tường cừ BTCT dự ứng lực, xem Hình 6. Phát huy tính ưu
việt của kết cấu KC-2002 đã được nhắc đến ở phần 2.3. Đây là phương án có tính ổn
định an toàn của kè khá cao, biện pháp thi công dễ dàng, khả năng gây bồi lớn (đã thi
công cho kè Hàm Tiến - Mũi Né, qua thời gian vận hành sử dụng công trình cho thấy
đoạn kè kết cấu KC-2002 thường bồi nhiều nên không lộ ra phần mái và chân khay).
Tuy nhiên vẫn có nhược điểm là phần gia cố mái và chân khay vẫn còn khá dài về phía
biển khoảng 7÷10m, chiếm diện tích bãi cát có thể lộ ra khi bờ biển bị xâm thực mạnh

xói lở vừa gìn giữ và tôn tạo cảnh quan, môi trường du lịch của bãi biển, rất cần được
xem xét nghiên cứu ứng dụng.
8
+2.40
+2.40
BÃI TẮM
BÃI TẮM
BÃI CÁT TỰ NHIÊN
BẬC LÊN XUỐNG
+2.40
-8.00
MNmax
+3.00
+2.40
Gạch lát: 20x20
BTCT M 300
Vữa lót
1.5 m
B B
MẶT CẮT B-B
Gạch lát: 20x20 cm
Cột điện
Cột điện
Hàng cừ bản bê ton
+1.20
Hàng cừ bản bê ton
Hình 7 : Ứng dụng cơng nghệ cọc cừ bản BTCT dự ứng lực bảo vệ bờ trực tiếp
3.1.2. Giải pháp cơng trình bảo vệ bờ gián tiếp cho một số vị trí.
Trong trường hợp sử dụng phương pháp bảo vệ bờ gián tiếp từ xa, kiến nghị định
hướng chung các bước chính như sau :

rất nhiều công sức.
Khuyến cáo người dân tự giác tham gia bảo vệ bờ biển, không khai thác vật liệu tại
những nơi xung yếu, không tác động làm thay đổi các dòng chảy của các cửa sông ven biển,
toàn dân tích cực tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ các bãi biển, coi đây là tài sản quý giá mà
thiên nhiên mang lại, cần được khai thác hiệu quả để góp phần nâng cao đời sống người dân.
Vấn đề khai thác vật liệu cũng như các xí nghiệp khai thác quặng ven biển cũng cần
được quản lý chặt chẽ bằng các quy định, chính sách rõ ràng nhằm hạn chế việc đào xới tạo
ảnh hưởng đến dòng chảy (làm lệch dòng), hướng sóng dẫn đến xói lở bờ. Ngoài ra khi tiến
hành xây dựng các công trình ven biển, công trình bảo vệ bờ ở một khu vực nào đó cần thiết
phải đánh giá tác động, ảnh hưởng đến dòng chảy, hướng sóng sau khi xây dựng có tạo nên
khả năng gây xói lở bờ biển cho vùng khác hay không, nếu có thì giải pháp xử lý như thế nào.
10
Cần phổ biến rộng rãi để người dân nắm được các văn bản về luật phòng chống thiên
tai, luật bảo vệ rừng, các quy định về thưởng phạt trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, bảo
vệ môi trường, nâng cao ý thức, trách nhiệm người công dân đối với những vấn đề về tài
nguyên, môi trường, để chính những người dân địa phương trở thành chủ nhân tích cực cho
công tác bảo vệ bờ biển, chống lại xói lở một cách hữu hiệu, kịp thời và chính xác nhất.
4. KẾT LUẬN
Các giải pháp xây dựng kè bảo vệ bờ theo công nghệ truyền thống và cải tiến đã
phần nào chống và chặn đứng được hiện tượng sạt lở tại một số cung bờ nhằm bảo vệ
các công trình và cơ sở hạ tầng quan trọng như đường giao thông, khách sạn, các khu
công nghiệp, hải cảng vv. Tuy nhiên các giải pháp công trình còn mang tính cục bộ,
tạm thời, giá thành công trình cao, một số nơi phá vỡ cảnh quan môi trường sinh thái
biển, đặc biệt có những đoạn bờ biển bị cứng hóa (bê tông) dẫn đến bãi tắm bị thu hẹp,
hạn chế khai thác tiềm năng du lịch. Giải pháp dùng đê/kè phá sóng từ xa, phá hủy
hoàn toàn 2 vùng hội tụ năng lượng sóng gây xói lở bờ biển khu vực phía Tây của Mũi
Né vào mùa gió Tây Nam và khu vực Hàm Tiến vào mùa gió Đông Bắc đã được đề
nghị. Giải pháp này giảm thiểu xói lở bờ biển sẽ làm cho cảnh quan môi trường bãi
biển ở đây vẫn giữ được gần như với tự nhiên.
Việc đề xuất giải pháp bảo vệ bờ theo quan điểm cải tiến và ứng dụng công

____________________________
11
Người phản biện: PGS.TS. Lê Mạnh Hùng
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status