ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan về các kim loại nặng nghiên cứu (Cd, Pb, Cu, Zn) và sự hình
thành trầm tích 3
1.1.1. Định nghĩa và nguồn gốc của kim loại nặng trong trầm tích các thuỷ vực 3
1.1.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hàm lƣợng kim loại nặng trong trầm tích thuỷ vực 7
1.1.3. Dạng tồn tại của các kim lại nặng nghiên cứu (Cd, Pb, Cu, Zn) trong trầm
tích và ảnh hƣởng của chúng đến đời sống thuỷ sinh vật và con ngƣời 9
1.2. Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích của các LVS trong và
ngoài nƣớc 15
1.2.1. Lƣu vực sông ngoài nƣớc 15
1.2.2. Lƣu vực sông ở trong nƣớc 16
1.3. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội và tình hình ô nhiễm của lƣu vực sông
Nhuệ - Đáy 18
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của lƣu vực sông Nhuệ - Đáy 18
1.3.3. Tình hình ô nhiễm ở lƣu vực sông Nhuệ - Đáy 21
CHƢƠNG 2 – ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu 23
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 25
2.2.1. Phƣơng pháp kế thừa số liệu 25
2.2.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp 25
2.2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm 25
2.2.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu 28
CHC:
Chất hữu cơ
LVS:
Lƣu vực sông
NTS:
Nuôi thủy sản
KLN:
Kim loại nặng
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng từ các ngành công nghiệp 6
Bảng 1.2: Ảnh hƣởng của trạng thái ô xi hoá - khử đến các dạng sản phẩm phân giải
xác hữu cơ 9
Bảng 1.3: Sự biến đổi dạng hoạt tính của một số kim loại nặng trong điều kiện môi
trƣờng khác nhau 10
Bảng 1.4: Hàm lƣợng trung bình kim loại nặng của bùn đáy trong đất liền và ven
biển 17
Bảng 2.1: Chỉ tiêu, tần suất và số điểm thu mẫu bùn đáy trên lƣu vực sông Nhuệ -
Đáy 26
Bảng 3.1: Hàm lƣợng Cd trong trầm tích sông theo mùa (mg/kg) (giá trị trung bình
± SD) 29
Bảng 3.2: Hàm lƣợng Pb trong trầm tích sông theo mùa (mg/kg) (giá trị trung bình
Bảng 3.6: Tổng hợp các mối tƣơng quan giữa các yếu tố hoá - lý trong môi trƣờng nƣớc
và trầm tích với hàm lƣợng kim loại nặng trong bùn ao nuôi thủy sản 54
vii
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Vùng nghiên cứu và địa điểm thu mẫu thuộc lƣu vực sông Nhuệ - Đáy
24
Hình 3.1: Biến động hàm lƣợng Cd trong trầm tích sông theo mùa và vị trí thu mẫu.
Các dấu * biểu thị sự khác biệt của các mặt cắt so với mặt cắt 2 trong mùa thu (*:
0,05 ≥ P ≥ 0,01, **: 0,01 ≥ P ≥ 0,001). Sự khác biệt giữa mùa xuân và mùa thu đƣợc
biểu thị bằng dấu + (+: 0,05 ≥ P ≥ 0,01; ++: 0,01 ≥ P ≥ 0,001). 30
Hình 3.2: Biến động hàm lƣợng Pb trong trầm tích sông theo mùa và vị trí thu mẫu.
Sự khác biệt giữa mùa xuân và mùa thu đƣợc biểu thị bằng dấu + (++: 0,01 ≥ P ≥
0,001; +++: P ≤ 0,001). 31
Hình 3.3: Biến động hàm lƣợng Cu trong trầm tích sông theo mùa và vị trí thu mẫu.
Sự khác biệt giữa các mặt cắt trong mùa xuân so với mặt cắt 1 đƣợc biểu thị bằng o
(o: 0,05 ≥ P ≥ 0,01). Và dấu + biểu thị cho sự sai khác giữa mùa xuân và mùa thu
(++: 0,01 ≥ P ≥ 0,001). 32
Hình 3.4: Biến động hàm lƣợng Zn trong trầm tích sông theo mùa và vị trí thu mẫu.
Các dấu hoa thị biểu thị sự khác biệt của các mặt cắt so với mặt cắt 1 trong mùa thu
(***: P ≤ 0,001). Sự khác biệt so với mặt cắt 1 trong mùa xuân đƣợc biểu thị bằng o
(o: 0,05 ≥ P ≥ 0,01). Và dấu + biểu thị cho sự khác biệt giữa mùa thu và mùa xuân
(+: 0,05 ≥ P ≥ 0,01; +: 0,01 ≥ P ≥ 0,001; +++: P ≤ 0,001). 33
Hình 3.5: Biến động trung bình năm của hàm lƣợng các kim loại nặng trong trầm
tích sông theo mặt cắt. Các dấu hoa thị biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của
kim loại nặng Zn so với mặt cắt 1 (*: 0,05 ≥ P ≥ 0,01). Sự khác biệt của kim loại
hoạt, sản xuất Song, những lƣu vực sông (LVS) trong nƣớc ta đang ngày càng trở
nên ô nhiễm trầm trọng, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng thiên nhiên và
sức khỏe con ngƣời. Theo báo cáo về môi trƣờng Quốc gia năm 2006 của Bộ Tài
Nguyên môi trƣờng, LVS của 3 hệ thống sông chính của Việt Nam là LVS Cầu, LVS
sông Sài Gòn - Đồng Nai và LVS Nhuệ - Đáy, đều nằm trong tình trạng đáng báo
động về mức độ ô nhiễm, đặc biệt là LVS Nhuệ - sông Đáy.
Sông Nhuệ - sông Đáy, diện tích gần 8.000 km
2
, dân số trên 10 triệu ngƣời,
trong đó có khoảng gần 4 triệu sống ven sông, trên 4.000 cơ sở sản xuất công
nghiệp, gần 500 làng nghề và khoảng 1.400 cơ sở y tế. LVS có nhiều phụ lƣu khá
lớn chảy qua các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, tụ điểm dân cƣ, khu công nghiệp,
khu chế xuất, dịch vụ, làng nghề và là nguồn cấp nƣớc ngọt quan trọng cho sản xuất
và dân sinh. Đây là vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên, môi trƣờng phong phú đa
dạng, có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội
của vùng Đồng bằng sông Hồng, trong đó có Thủ đô Hà Nội. Song, nơi đây đang
gặp phải những vấn đề môi trƣờng bức xúc. Nguyên nhân là do thiên nhiên và con
ngƣời gây ra nhƣ lũ lụt, ngập úng, thoái hóa đất, ô nhiễm môi trƣờng do quá trình
đô thị hóa và công nghiệp hóa nhƣ: các hoạt động kinh tế - xã hội nói chung, công
nghiệp, nông nghiệp và thủy sản nói riêng, gắn liền với LVS là rất lớn và nhu cầu về
nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ngày càng tăng cao. Sự tích tụ, ô nhiễm kim loại nặng
(KLN) trong nƣớc và bùn đáy sông, có nguồn gốc từ sự rửa trôi trong nông nghiệp,
chất thải sinh hoạt, làng nghề và đặc biệt là từ các nhà máy và các khu công nghiệp
thuộc các tỉnh thành phố cùng với các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản,…
trong hành lang thoát lũ có thể dẫn tới sự tích tụ sinh học trong các loài cá tự nhiên và
các loài cá nuôi lấy nguồn nƣớc từ sông
[7]
.
2
KLN bao gồm những kim loại nhƣ Hg, Pb, Cu, Cr, Ni, Cd, Zn, Fe Chúng là
những kim loại có tỷ khối d > 5 và có khối lƣợng riêng lớn hơn 5g/cm
3
. Một số kim
loại có lợi cho cơ thể ngƣời và động vật ở hàm lƣợng và dạng nhất định nhƣ Fe
trong máu, hay Cu, Zn trong các enzim. Mặc dù vậy, hầu hết KLN gây hại cho
ngƣời, động vật và thực vật nhƣ Ni, Pb, Cd, Cr, Cu, Zn khi vƣợt quá một ngƣỡng
cho phép. Tất cả các KLN có thể đƣợc hấp thụ và tích tụ trong các loài sinh vật, kể
cả ngƣời
[25]
.
Trầm tích là các vật chất tự nhiên bị phá vỡ bởi các quá trình xói mòn hoặc do
thời tiết, sau đó đƣợc các dòng chảy vận chuyển đi và cuối cùng đƣợc tích tụ thành
các lớp trên bề mặt hoặc đáy của một khu vực chứa nƣớc nhƣ ao, hồ, sông, suối,
biển. Quá trình hình thành trầm tích là một quá trình tích tụ và lắng đọng các chất
cặn lơ lửng (bao gồm cả các vật chất vô cơ và hữu cơ) để tạo nên các lớp trầm tích.
Ao, hồ, sông, biển tích lũy trầm tích thành các lớp theo thời gian
[12]
. Vì vậy trầm
tích là một hỗn hợp phức tạp của các pha rắn bao gồm đất và những vật liệu đá gốc
có chứa sét, silic oxit, các chất vô cơ, các chất chất hữu cơ, quần thể các vi sinh vật,
và có thể chứa các hóa thạch. Trầm tích cũng có thể là nơi thành tạo của các nhiên
liệu hóa thạch nhƣ than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên.
b) Nguồn gốc của kim loại nặng trong trầm tích các thủy vực
Thủy quyển chiếm một diện tích lớn hơn rất nhiều thạch quyển trên bề mặt Trái
đất (khoảng 75%) và đƣợc chia thành các hồ, sông, cửa sông và biển. Kim loại tồn tại
trong thủy quyển nhƣ là chất hòa tan và các hạt lơ lửng ở trong nƣớc và trầm tích.
Trầm tích trong các hồ, sông, cửa sông và biển chứa hàm lƣợng lớn KLN trong thủy
4
Các nguyên tố thƣờng ở dạng keo là Fe, Al, Mn, Si và nhiều KLN
[11]
.
Nƣớc ngầm: có đặc điểm độ khoáng cao hơn nƣớc mặt và thƣờng đƣợc chia
thành 3 loại: nhạt (< 1g/L), lợ (1 - 25 g/L) và mặn (25 - 50 g/L). Các nguyên tố chính
có nồng độ > 1mg/L, Si nhiều nhƣng thƣờng ở dạng không tan H
4
SiO
4
. Các nguyên
tố phụ và vết (Fe, Mn, Se, Hg…) có hàm lƣợng < 1 mg/L
[11]
.
KLN (As, Pb, Cr(VI), Cd, Hg ) có mặt trong nƣớc do nhiều nguyên nhân:
trong quá trình hoà tan các khoáng chất, các thành phần kim loại có sẵn trong tự
nhiên hoặc sử dụng trong các công trình xây dựng, các chất thải công nghiệp.
5
b2) Nguồn nhân tạo
Nguồn nhân tạo là nguồn chính đƣa các KLN vào trong nƣớc. Trong số các
nguồn nhân tạo trƣớc hết phải kể đến nguồn KLN đƣợc đƣa vào nƣớc mặt từ khí
quyển. Do ô nhiễm từ các hoạt động giao thông, công nghiệp và nông nghiệp đã đƣa
các KLN vào khí quyển và sau đó lắng đọng lên mặt đất.
Một số nghiên cứu chi tiết cho thấy, môi trƣờng xung quanh lò nấu kim loại
thƣờng bị ô nhiễm. Một số trƣờng hợp đƣợc biết rõ là các lò nấu Ni - Cu ở Sudbury,
xƣởng đúc Cu ở Gusum, Thụy Điển và lò nấu Pb - Zn ở Avenmouth, Anh và ở Việt
Nam, các làng nghề đúc Cu ở Huế hay Bắc Ninh, các xƣởng nấu thép ở Thái
Nguyên… đã là nguồn gây ô nhiễm KLN. KLN giải phóng vào môi trƣờng diễn ra ở
đầu dây chuyền sản xuất, bất cứ khi nào quặng đƣợc khai thác, trong suốt quá trình
As, Cd, Hg, Pb, Ni, Cr, Zn, Cu
2
Nhựa
Co, Cr, Cd, Hg
3
Dệt
Zn, Al, Ti, Sn
4
Vi điện tử
Cu, Ni, Cd, Zn, Sb
5
Bảo quản gỗ
Cu, Cr, As
6
Lọc dầu
Pb, Ni, Cr
7
Lắng đọng từ khí quyển
As, Cd, Cr, Cu, Mn, Ni, Pb, Zn
8
Phân bón hóa học
Cd, As, Cu, Mn
9
Bùn thải
Cd, Cr, Cu, Hg, Mn, Ni, Pb, Zn
10
Vôi
As, Pb
Nguồn nƣớc thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trƣờng
học, cơ quan cũng đƣa vào nguồn nƣớc một lƣợng KLN đáng kể. Đặc biệt là cặn
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích thuỷ vực
Trong môi trƣờng nƣớc, nồng độ, sự di chuyển, sự biến đổi và độc tính của
kim loại trƣớc hết bị kiểm soát bởi: (1) các đặc tính lý học, hóa học của hợp chất;
(2) các đặc tính lý, hóa, sinh học của hệ sinh thái và (3) nguồn và tỉ lệ của kim loại
trong môi trƣờng
[8]
.
Hàm lƣợng KLN trong trầm tích sông, hồ biến đổi rất lớn theo vị trí từ gần với
hàm lƣợng tự nhiên đến hàm lƣợng cao gấp hàng ngàn lần ở những nơi gần với các
nguồn công nghiệp hay khai mỏ liên quan đến kim loại.
Các yếu tố ảnh hƣởng có thể đến hàm lƣợng KLN trong trầm tích đƣợc biểu
thị bằng hàm số:
Hàm số: T = f (L, H, G, C,V, M, e)z
[8]
Trong đó: T - hàm lƣợng các nguyên tố vết trong trầm tích;
L - ảnh hƣởng của quá trình hình thành đá;
H - tác động thuỷ học;
G - đặc điểm địa lý;
C - tác động nhân tạo;
V - ảnh hƣởng của thực vật;
M - tác động của khai khoáng;
e - sai số (tất cả các yếu tố không đƣợc tính đến).
Tại một khu vực, một hay nhiều yếu tố có thể cùng tác động và hàm lƣợng của
nguyên tố vết sẽ phụ thuộc vào tính chất và cƣờng độ các yếu tố tham gia. Các quá
trình quan trọng ảnh hƣởng đến dạng tồn tại của KLN trong trầm tích gồm hấp phụ
8
hoá học lên các oxit Mn/Fe, kết tủa các hợp chất KLN, kết tụ/tạo phức của KLN với
đƣợc thể hiện bằng Eh cao; ngƣợc lại, đất ngập nƣớc, bí, chặt, trong đất chứa nhiều
chất khử (H
2
, Fe
2+
, Mn
2+
, Cu
+
, vi sinh vật yếm khí và các sản phẩm phân giải xác
hữu cơ trong điều kiện yếm khí) đƣợc biểu hiện qua giá trị Eh thấp. Dù trong điều
kiện ô xi hoá hay điều kiện khử ôxi, CHC vẫn đƣợc phân huỷ chỉ khác nhau về tốc
độ phản ứng và sản phẩm phân giải. Thế ô xi hóa khử ảnh hƣởng trực tiếp đến dạng
tồn tại của các KLN trong trầm tích và vùng nƣớc lân cận. 9
Bảng 1.2: Ảnh hƣởng của trạng thái ô xi hoá - khử đến các dạng sản phẩm
phân giải xác hữu cơ
[17]
Thành phần chất hữu cơ
Sản phẩm ô xi hoá (ox)
Sản phẩm khử (Red)
C
N
S
P
Fe
CH
4
, CO
NH
3
, N
2
H
2
S
PH
3
Fe
2+
Mn
2+
Cu
+
CHC tích tụ ở bề mặt giữa nƣớc và đất. Trên lớp bề mặt này diễn ra hoạt động
rất mạnh của các vi khuẩn. Do nƣớc không di chuyển tự do trong nền đáy nên hoạt
động của vi khuẩn nhanh chóng làm giảm hàm lƣợng ô xi trong nƣớc ở nền đáy. Sự
phân hủy CHC trong bùn dẫn đến hàm lƣợng ô xi hòa tan thấp do sự tiêu hao ô xi
trong các quá trình ô xi hóa.
1.1.3. Dạng tồn tại của các kim lại nặng nghiên cứu (Cd, Pb, Cu, Zn) trong trầm
cũ, vì vậy tính độc cũng hoàn toàn thay đổi. Ví dụ, Cu trong điều kiện pH trung
tính, Cu ở dạng phức chelate, không độc lắm, nhƣng khi vào vùng nƣớc phèn, Cu sẽ
ở dạng hoạt hóa CuO, còn khi vào vùng phèn mặn Cần Giờ sẽ có thể là sulphate
đồng (CuSO
4
) có độ độc cao hơn rất nhiều lần so với chính nó khi còn ở trong kênh
rạch thành phố… Sự thay đổi này đƣợc thể hiện dƣới bảng sau:
Bảng 1.3: Sự biến đổi dạng hoạt tính của một số kim loại nặng trong điều kiện
môi trƣờng khác nhau
[9]
Kim loại nặng
Môi trƣờng phèn
Môi trƣờng mặn
Cd
Cd
2+
, CdSO
4
, CdCl
+
Cd
2+
, CdSO
4
, CdCl
+
, CdHCO
3
+
,
Cu(B(OH)
4
)
2
Zn
Zn
2+
, ZnSO
4,
ZnHCO
3
+
ZnHCO
3
+
, ZnCO
3
, Zn
2+
, ZnB(OH)
4
+11
Trong nƣớc, một chất có thể tồn tại dƣới ba dạng khác nhau và đều có thể ảnh
hƣởng đến sự tác động của nó đối với sinh vật, đó là: (1) hòa tan; (2) bị hấp thụ bởi
tích hay trong thức ăn. Các độc chất tan trong nƣớc có tính hoạt động hơn các hóa
12
chất không tan trong nƣớc là những hóa chất thƣờng kết nối với các vật thể lơ lửng,
chất hữu cơ, Các chất tan trong nƣớc có thể xâm nhập cơ thể sinh vật qua toàn bộ
diện tích bề mặt cơ thể, qua mang, qua miệng. Các độc chất trong thức ăn có thể bị
hấp thụ qua đƣờng tiêu hóa. Các độc chất đƣợc hấp thụ có thể xâm nhập cơ thể sinh
vật thông qua da, mang, đi vào máu và gây tác động độc lên sinh vật.
Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, một số KLN đƣợc tích lũy trong rau muống,
cây lúa và trong động vật đáy nhƣ nghêu, sò, ốc,.… KLN tích lũy trong bùn đáy, sau
đó thực vật phù du hấp thụ, động vật phù du, nguyên sinh và tôm, cá nhỏ ăn thực vật,
lại tích lũy trong chúng, cá lớn ăn những cá, tôm nhỏ sẽ tiếp tục tích lũy và sau cùng
con ngƣời ăn tôm, cá sẽ tích lũy dƣ lƣợng KLN đó và bị ngộ độc. Sự tích lũy này có
tính tăng dần và dẫn đến ngộ độc cấp tính hay mạn tính. Thực tế ở Nhật Bản, bệnh
"Itai - Itai" (đau nhức nhối các khớp, xƣơng) là do ngƣời ta ăn phải gạo từ lúa trồng
trên cánh đồng đã bị ô nhiễm Cd (0,91 - 4,23 ppm trong gạo hạt) thải ra từ thành phố
lân cận
[9]
. Cũng tại Nhật Bản, ô nhiễm Hg trong trầm tích ven biển thuộc vịnh
Tokyo đã tích lũy vào cá, ngƣời ta ăn phải cá bị ngộ độc và 40 năm sau sự ô nhiễm
vẫn còn gây ảnh hƣởng.
Dƣới đây là phân tích cụ thể về sự ảnh hƣởng của một số KLN lên con ngƣời
và đời sống thủy sinh vật.
- Cadimi (Cd):
Đối với thủy sinh vật: Cd hấp thụ vào các cơ quan gan tụy, vỏ, mang và các bộ
phận khác của tôm. Gan tụy và mang hấp thụ cao nhất. Tuy nhiên, Cd ít ảnh hƣởng
đến quá trình lột xác của tôm. Đối với giáp xác, hàm lƣợng Cd trong nƣớc phải nhỏ
hơn 2,0 mg/L
[27]
và vùi mình trong lớp bùn, nên chúng có khả năng bị hấp thụ Pb với hàm lƣợng khá
lớn
[10]
.
Quá trình hấp thụ Pb của cá chủ yếu xảy ra qua đƣờng hô hấp và tiêu hóa. Khả
năng hấp thụ Pb của cá phụ thuộc vào khu vực sống, chủng loài, giới tính, độ tuổi
và độ chín của khả năng sinh sản. Pb tích tụ trong các bộ phận khác nhau trong cơ
thể cá với hàm lƣợng khác nhau.
Độc tính của Pb đối với các sinh vật thủy sinh phụ thuộc vào loài sinh vật và
hàm lƣợng cũng nhƣ dạng tồn tại của Pb trong nƣớc. Tetraalkyl chì độc hơn nhiều
so với Pb vô cơ, trong đó tetraethyl chì là độc nhất. Trên thực tế, tetraethyl chì gần
nhƣ không độc nhƣng khi bị quang phân tạo thành triethyl chì thì hợp chất này có
khả năng gây ức chế nghiêm trọng đối với sự sinh trƣởng của tế bào.
Đối với tảo, hàm lƣợng gây độc của Pb thay đổi trong khoảng từ 10 µg/L đến
1 mg/L. Pb ở hàm lƣợng >1 mg/L có thể gây độc cấp tính cho cá. Tình trạng nhiễm
độc bán cấp kèm theo những ảnh hƣởng về hệ tạo máu, hệ thần kinh và sự tăng
14
trƣởng xảy ra ở cá khi hàm lƣợng Pb trong nƣớc là 10 - 15 µg/L. Nhiễm độc mãn
tính đối với các sinh vật nhạy cảm xảy ra ở nồng độ Pb khoảng 5 – 10 µg/L
[10]
.
Đối với con người: Trong cơ thể, Pb không bị chuyển hóa, chỉ đƣợc vận
chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác, một phần bị đào thải qua đƣờng bài tiết
và phần lớn đƣợc tích tụ lại trong một số cơ quan với hàm lƣợng tăng dần theo thời
gian tiếp xúc. Chính vì vậy, ảnh hƣởng gây độc của Pb là rất nghiêm trọng và lâu
dài.
Thông thƣờng, mức độ nhiễm độc Pb đƣợc biểu thị thông qua hàm lƣợng Pb
trong máu (gọi tắt là PbB). Đồng thời, các tiêu chuẩn về sức khoẻ và môi trƣờng
tin về các thay đổi xảy ra khi Cu tích lũy ở gan
[10]
.
Cu
2+
ảnh hƣởng đến 80% quá trình quang hợp của tảo ở nồng độ 0,1 mg/L. Ở
nồng độ 0,05 mg/L ức chế sự phát triển của tảo đến 40%. Liều lƣợng 16~32 mg/kg
thức ăn sẽ ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng của cá nheo Mỹ nhƣng không ảnh hƣởng
15
đến tế bào máu cũng nhƣ là cơ cá. Tuy nhiên, loài cá này sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn ở
liều 63 mg/L ở dạng Cu
2+
của CuSO
4
.5H
2
O
[27]
.
Đối với con người: Khi thiếu hụt hay dƣ thừa Cu đều gây ảnh hƣởng nghiêm
trọng cho sức khỏe vì Cu cần thiết trong việc sử dụng Fe và một số enzim tham gia
trong các quá trình sinh lý sinh hóa của cơ thể sinh vật. Các hợp chất của Cu không
độc lắm, các muối Cu gây tổn thƣơng đƣờng tiêu hóa, gan, thận và niêm mạc. Độc
nhất là muối đồng xyanua.
- Kẽm (Zn):
Đối với thủy sinh vật: Zn là một trong những nguyên tố quan trọng trong sự
phân chia tế bào và sự phát triển của cả động vật lẫn thực vật bởi vì là thành phần
chủ yếu của metallo enzim và là đồng tác nhân cho việc điều khiển hoạt động của
tiêu chuẩn an toàn của thế giới đối với các kim loại Pb, Cd, Cr, As và Hg
[26]
.
Sông Hằng, Ấn Độ giờ không những không thể dùng ăn uống, tắm giặt mà còn
không thể dùng cho sản xuất nông nghiệp. Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các
kim loại độc trong nƣớc sông khá cao nhƣ thủy ngân (nồng độ từ 65 - 520 ppb), Pb
(10 - 800 ppm), crom (10 - 200 ppm) và nickel (10 - 130 ppm)
[26]
.
Sông Marilao, Philippineses đang bị ô nhiễm nặng nề với đủ thứ rác thải sinh
hoạt hàng ngày. Các chất ô nhiễm từ các khu vực sản xuất nhƣ thuộc da, tinh chế
kim loại, đúc Pb còn gây ra các vấn đề về sức khoẻ cho cƣ dân trong vùng và xa
hơn nó còn gây hại tới ngành đánh bắt thủy sản tại vịnh Manila
[30]
.
Sông King, Australia có độ phèn rất cao do chịu tác động của hơn 1,5 triệu tấn
chất thải sunfit từ hoạt động khai khoáng đƣợc đổ xuống mỗi năm. Lƣợng chất thải
hiện là hơn 100 triệu tấn, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho con sông này
[30]
.
1.2.2. Lưu vực sông ở trong nước
Trầm tích bùn đáy kênh rạch thành phố là kết quả lắng tụ của chất thải từ hoạt
động công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, sinh hoạt… Vì vậy, bùn đáy có đầy đủ
các loại ô nhiễm: hữu cơ yếm khí gây thối, hóa chất, KLN, ô nhiễm dầu, tàn dƣ
phân bón và thuốc trừ sâu; trong đó, đáng quan tâm là ô nhiễm hóa chất và ô nhiễm
KLN. Kết quả phân tích cho thấy, mùn chiếm tối thiểu là 0,2 - 12,4%; lân từ 0,3 -
0,6%; kali từ 0,2 - 1,0%; đạm từ 0,1 - 0,8%
[9]
. Đặc biệt, trong đó hàm lƣợng dinh
dƣỡng dễ tiêu cũng khá cao, nhƣ đạm hòa tan dạng NH
0,003 - 0,007
0,003 - 0,007
Cd
0,002 - 0,004
0,0001 - 0,0005
Zn
0,01 - 0,016
0,008 - 0,015
Co
0,001 - 0,003
0,001 - 0,003
Ni
0,004 - 0,007
0,0004 - 0,001
Sông Sài Gòn - Đồng Nai: Kết quả của bốn đợt quan trắc hàm lƣợng KLN
trong bùn lắng hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai cho thấy hàm lƣợng các KLN
nhƣ Cu, Pb, Cr, Ni, Cd trong bùn lắng nhìn chung không có sự dao động đáng kể
giữa 10 thủy vực lấy mẫu phân bố đều khắp hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai, ở
mức từ 10 - 50 µg/g, ngoại trừ có sự tăng vọt của hàm lƣợng Ni ở thủy vực đầu
nguồn sông Đồng Nai với hàm lƣợng phát hiện đƣợc trong khoảng 70 - 95 µg/g
[10]
.
Riêng với chỉ tiêu Zn, nồng độ phát hiện đƣợc khá cao tại các điểm thu mẫu nằm
gần các khu công nghiệp tập trung và trung tâm đô thị. Mặc dù vậy, các kết quả
nghiên cứu bƣớc đầu cũng đã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm KLN trong hệ thống sông
này đang đe dọa sự an toàn môi trƣờng thông qua chuỗi thức ăn sinh học và các hệ
sinh thái tự nhiên.
18
- Phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà với chiều dài khoảng 33km.
- Phía Tây và Tây Nam là đƣờng phân lƣu giữa LVS Hồng và LVS Mã bởi dãy
núi Ba Vì, Cúc Phƣơng - Tam Điệp, kết thúc tại núi Mai An Tiêm (nơi có sông Tống
gặp sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Càn dài 10 km, rồi đổ ra biển tại cửa Càn.
- Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài khoảng 95 km từ cửa Ba
Lạt tới cửa Càn.
a2) Đặc điểm tự nhiên của các khu vực có lƣu vực sông Nhuệ - Đáy chảy qua
- Hà Nội:
+ Xã Liên Châu, Thanh Oai: có tổng diện tích là 618,43 ha (trong đó, diện
tích đất dành cho việc NTS là 109,66 ha và hiện xã đang đề xuất mở rộng diện tích
này lên 200 ha). Phía Bắc giáp xã Thanh Liệt; phía Tây giáp xã Hồng Dƣơng, xã