LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tại trường, được sự giảng dạy, truyền đạt kiến thức nhiệt
tình của thầy giáo, cô giáo, tôi đã có được một lượng kiến thức nhất định và
sau một thời gian thực tập tại nhà máy bia Sài Gòn – Hà Tĩnh dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của thầy giáo Trần Ngọc Khiêm và các cán bộ, công nhân trong
nhà máy bia Sài Gòn – Hà Tĩnh. Đến nay bài báo cáo tốt nghiệp của tôi đã
hoàn thành, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến:
- Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Huế
- Toàn thể giáo viên khoa Cơ Khí Công Nghệ trường Đại học Nông
Lâm Huế
- Tập thể cán bộ, công nhân trong nhà máy bia Sài Gòn – Hà Tĩnh
Đặc biệt tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến người thầy đã tận tình dạy
dỗ, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp này.
Đồng thời tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các anh chị, bạn
bè, gia đình đã giúp đỡ động viên tôi trong quá trình thực tập
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng tìm tòi nghiên cứu, song không
tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định khi thực hiện báo cáo tốt
nghiệp. Kính mong thầy, cô giáo và các bạn thông cảm và đóng góp ý kiến để
bài báo cáo thêm hoà thiện
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị đã động viên, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện bài báo cáo tốt nghiệp này
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bia là loại đồ uống có cồn được sản xuất bằng quá trình lên men của
đường nó không được chưng cất sau khi lên men.
Bia là loại đồ uống quen thuộc với con người. Chúng đáp ứng nhu cầu
về dinh dưỡng và sở thích của người tiêu dùng. Mặt khác bia mang lại giá trị
kinh tế cao trong nghành công nghệ sản xuất đồ uống, đóng góp ngày càng
nhiều vào ngân sách nhà nước, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội.
Các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau tham gia vào nền
thiên niên kỷ V trước công nguyên thì quá trình làm bia được thực hiện đơn
giản như sau: Hạt đại mạch được nghiền nhỏ, nấu chín sau đó ngâm với nước
rồi lấy nước ngâm đó đi nấu để tiến hành lên men tự do quá trình lên men
rượu với các quá trình sinh hoá dưới tác động của vi sinh vật người ta thu
được một loại đồ uống có vị hơi chua và có nhiều bọt, khi uống vào cơ thể
con người cảm thấy kích thích dễ chịu. Sau đó họ đã biết sử dụng malt đại
mạch tức là hạt đại mạch cho nảy mầm để chế biến nước uống này. Dần dần
con người đã biết dùng hương thơm cỏ dại để tạo hương thơm cho loại đồ
uống nay.
Con người đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo để chất lượng của bia ngày
càng được nâng cao và cũng tại đây họ đã tìm ra hoa houblon cách đây 3000
năm trước công nguyên. Từ khi biết chế biến và sử dụng hoa houblon thì kỹ
thuật sản xuất bia được nâng lên rất nhiều, hương vị của bia cũng được thay
đổi từ đó. Ở những Thành Phố lớn và nơi buôn bán lớn đều có cơ sở sản xuất
bia, đặc biệt các nước Châu Âu phát triển rất nhanh với lợi thế là thời tiết ở
các nước này rất thích hợp để sản xuất các loại nguyên liệu cho sản xuất bia
chính vì vậy nguyên liệu luôn luôn có sẵn trong các nước này. Vào thế kỷ
XIX khi phát minh ra kính phóng đại từ đó con người đã tìm tòi và nghiên cứu
nấm men cùng với sự ra đời của nhiệt kế và tỷ trọng kế chính vì vậy mà công
nghệ sản xuất bia cũng dần được cãi tiến nên đã cho phép các nhà sản xuất bia
tăng tính hiệu quả và kiểm soát nồng độ cồn. Pasteur đã nhận ra rằng tác nhân
chính gây lên men là vi sinh vật và cũng chính nhờ phát hiện này mà thúc đẩy
ngành bia theo một hướng phát triển mới. Tuy vậy pasteur không dừng ở đó
mà ông tiếp tục nghiên cứu và ông đã khẳng định rằng nấm men là vi sinh vật
duy nhất hoạt động để tạo ra quá trình lên men bia. Đến cuối thế kỷ XIX một
số nhà khoa học Đức, Nga đã chứng mình được một số nấm men sinh ra
enzyme chuyển hoá đường thành rượu và C0
2
, đó là hai thành phần quan trọng
của bia. Từ chổ lên men theo tự nhiên con người đã vận dụng kiến thức khoa
Có rất nhiều thống kê về sản lượng bia rượu ở VN. Bộ Công nghiệp cho
rằng sản lượng bia năm 2005 ở VN là 1,3 tỉ lít bia. Song tính toán của hiệp hội
là khoảng 1,5 tỉ lít.
Tốc độ đầu tư vào sản xuất rượu bia đã tăng rất cao từ những năm đầu
thập niên 1990 trở lại đây, với sự tham gia của đầy đủ các thành phần kinh tế
4
như quốc doanh, liên doanh, trung ương, địa phương, 100% vốn nước ngoài,
tư nhân, cổ phần. Sản lượng bia cũng tăng trưởng với tốc độ cao: 30% những
năm từ 1990-1996; 10-15% những năm từ 1996 đến nay. Mức tăng trưởng dự
báo trong thời gian tới là 8-10%, sản lượng dự báo đến 2010 là 1,5 tỉ lít. Hiện
tại, mức tiêu thụ bình quân ở nước ta là 15,8 lít bia.(Nguồn: Kết quả nghiên
cứu đánh giá tình trạng lạm dụng rượu bia ở VN - Chương trình hợp tác y tế
VN-Thụy Điển; Cơ quan thực hiện: Viện Chiến lược và chính sách y tế)
‘’So với các nước Đông Nam Á, tiêu thụ bia rượu ở VN là tương đối
lớn do các nước xung quanh phần lớn theo đạo Hồi và đạo Phật, nhưng so với
các nước như Nhật hoặc Trung Quốc thì mức tiêu thụ ở nước ta còn thấp.
Đặc biệt so với các quốc gia châu Âu thì còn thấp hơn nữa. Nếu tính
bình quân 80 triệu dân tiêu dùng 1,5 tỉ lít bia/năm thì mỗi người chưa đến 20
lít. Trong khi ở châu Âu, đặc biệt ở Đức, mức tiêu thụ bia có thể gấp 10 lần
VN. Do đó thị trường bia rượu ở VN còn có thể phát triển rất tốt trong thời
gian tới đây.
Tính bình quân chung thì người VN chưa phải đã uống quá nhiều rượu
bia. Thực tế các loại bia có thương hiệu mới chiếm được 50% thị phần, còn
50% thị phần vẫn thuộc về các loại bia “địa phương”, bia của các cơ sở sản
xuất nhỏ mà chúng ta vẫn gọi là bia cỏ ” Nguyễn Văn Hùng (Phó tổng thư ký
Hiệp hội rượu bia
2.4. CÁC NGUYÊN LIỆU CHÍNH TRONG SẢN XUẤT BIA
2.4.1. Hạt đại mạch
Hạt đại mạch là nguyên liệu chính để sản xuất bia, sau khi nảy mầm thì
nó có tên gọi là malt đại mạch. Nó có tên khoa học là Hordeum sativum.
+ Hoạt lực amylase 220 – 280
0
W
Malt đại mạch được Tổng công ty Bia – Rượu – NGK Sài Gòn cung
cấp về nhà máy
6
Bảng 2.1. Thành phần hoá học của hạt đại mạch
STT Thành phần hoá học % Chất khô
1 Tinh bột 63
2 Saccharoza 1 – 1,8
3 Đường khử 1,2
4 Nhựa tan 1 – 1,5
5 Hemixenllulose 8 – 10
6 Xenllulose 4 – 5
7 Lipit 2 – 3
8 Protein 10 – 12
9 Chất khoáng 2
10 Nitơ tổng hợp 1,712
11 Nitơ hoà tan 0,212
12 Nitơ axit amin 80(mg%)
13 Axit nucleic 0,2 – 0,3
14 Vitamin, enzyme 5 – 6
* Nước:
Thuỷ phần của malt đại mạch ảnh hưởng rất lớn đến quá trình vận
chuyển và bảo quản hạt. Hàm ẩm cao sẽ kích thích hô hấp và tự bốc nống của
hạt. Người hạt đại mạch.
Là nguồn cung cấp chính chất hoà tan cho dịch đường trước khi lên
men. Tinh bột được phân bố chủ yếu ở nội nhũ và một phần nhỏ ở phôi.
Tinh bột bao gồm 2 polysaccharit hợp thành: là amyloza và
amylopectin. Khối lượng của amyloza chiếm khoảng 17 – 24% còn của
* Xenlulose
Xellulose của hạt đại mạch chủ yếu được phân bố ở lớp vỏ trấu và
chiếm khoảng 20% chất khô của vỏ. Nó không tan trong nước và hầu như
không thay đổi về thành phần và cấu trúc trong suốt quá trình sản xuất bia. Nó
đóng vai trò quan trọng trong quá trình lọc dịch đường vì lớp vỏ trấu là vật
liệu tạo màng lọc phụ lý tưởng
* Hemicenllulose
Là thành phần chủ yếu cấu tạo nên thành tế bào, hemicenllulose bị
thuỷ phân tạo thành hexose và pentose, các đường đơn này hoà tan bền vững
vào dịch đường và tạo thành chất chiết, là nguồn cung cấp dinh dưỡng quan
trọng cho nấm men.
8
* Các chất đắng, chất chát:
Trong hạt đại mạch thì có nhóm lipid là nguyên nhân gây ra vị đắng khó
chịu cho bia, biên pháp để loại là ta cho ngâm hạt vào môi trường kiềm nhẹ
* Các chất khoáng:
Chủ yếu là P, K, Mg, Si, Ca, Các chất khoáng đóng vai trò chủ yếu
trong việc hình thành hệ thống đệm của dịch đường
* Các vitamin:
Vitamin đóng vai trò là nhân tố điều hoà sinh trưởng cho nấm men,
trong hạt đại mạch chứa các loại vitamin đó là B
1
, B
2
, C và tiền vitamin A.
2.4.2. Gạo
Trong công nghệ sản xuất bia đẻ giảm giá thành sản phẩm người ta
đưa một số nguyên liệu khác để thay thế một phần malt đại mạch. Các loại
nguyên liệu thay thế có thể được chia làm hai nhóm: nhóm dạng hạt và nhóm
4 Chất béo 0,5 – 0,8
5 Xenllulo 0,5 – 0,8
6 Chất khoáng 1 – 1,2
Dựa vào mức độ chứa đầy protein của tế bào, mức độ liên kết của
protein với các hạt tinh bột cũng như kích thước và hình dáng của tinh bột mà
nội nhũ của gạo có thể là trắng trong hoặc trắng đục, trắng trong từng phần.
Hạt trắng trong khác hạt trắng đục bởi hàm lượng protein cao hơn, hạt chắc
hơn và cứng hơn. Để thay thế malt đại mạch ta nên chọn gạo có độ trắng đục
cao hơn.
Gạo có hàm lượng tinh bột khá cao, protein hàm lượng vừa phải, chất
béo và cenllulose thấp. Với các chỉ số như vậy nên gạo là nột nguyên liệu thay
thế lý tưởng cho sản xuất bia.
2.4.3. Hoa houblon
Hoa houblon được con người biết đến và đưa vào sử dụng cách đây gần
3000 năm trước công nguyên. Hoa houblon là nguyên liệu quan trọng đứng vị
trí thứ hai sau đại mạch trong công nghệ sản xuất bia.
Hoa houblon làm cho bia có vị đắng dịu, hương thơm đặc trưng, làm
tăng khả năng tạo bọt và giữ bọt, làm tăng độ bền keo và ổn định thành phần
sinh học của sản phẩm. Do vậy mà trải qua hàng ngàn năm với sự phát triển
của ngành bia nhưng hoa houblon vẫn là nguyên liệu không thể thay thế trong
công nghệ sản xuất bia.
Cây hoa houblon có tên khoa học là Humulus lupulus. Nó được trồng
nhiều ở vùng Trung Âu và Bắc Mỹ. Ở nước ta do điều kiện tự nhiên không
phù hợp nên mặc dù đã có nhiều dự án của các nhà khoa học nông nghiệp
trồng thử nhưng vẫn không thành công ( Hồ Sương, 1992 )
10
Nhà máy bia Sài Gòn – Hà Tĩnh lấy hoa houblon từ Tổng Công Ty Bia
– Rươu – NGK Sài Gòn cung cấp
Bảng 2.3. Thành phần hoá học của hoa houblon
mặt hoá học, vật lý, vi sinh họcvà được bảo hoà với CO
2
để tránh sự liên kết
với O
2
11
+ Nước dùng trong quá trình nấu bia:
Là loại nước sử dụng trực tiếp để sản xuất bia, nó có mặt trong bia
thành phẩm do đó nó đòi hỏi độ tinh khiết cao, phải đảm bảo các tính chất vật
lý, hoá học, vi sinh học và tính chất cảm quan. Ngoài ra nó còn yêu cầu về
thành phần hoá học, chủ yếu là hàm lượng một số ion quan trọng phải nằm
trong giới hạn cho phép
- Các phương pháp xử lý nước
+ Trung hoà caxi và magie bằng axit
Người ta dùng axit lactic để chuyển hoá các muối của canxi và magie
thành muối lactat tương ứng. Với phương pháp này thì độ cứng của nước đã trở
thành độ cứng của muối lactat, loại độ cứng này không ảnh hưởng đến quá trình
sản xuất bia cũng như không ảnh hưởng gì đến chất lượng của bia thành phẩm.
Việc sử dụng axit lactic ngoài khử độ cứng của nước nó còn làm giảm pH của
dịch malt để tăng cường hoạt lực của hệ enzyme thuỷ phân ở trong malt.
+ Cân bằng ion
Nước được cân bằng ion trước khi đưa vào sản xuất. Đó là quá trình
loại bỏ tất cả hay một phần chất khoáng có trong nước cùng với việc điều
chỉnh pH. Cân bằng ion bằng cách là dùng sữa vôi để loại CO
3
-
nhờ vào tính
không tan của CaCO
3
và MgCO
xuất bia. Do đó chỉ cần cho nước chạy qua than cực tím là được
13
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu:Quy trình công nghệ và quản lý chất lượng của
công ty cổ phần bia Sài Gòn – Hà Tĩnh
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty cổ phần bia Sài Gòn – Hà Tĩnh
- Thời gian nghiên cứu: từ 07/01 – 15/04/2010
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu quy trình sản xuất bia, bao gồm
+ Tìm hiểu các khâu trong dây chuyền sản xuất: nghiền, đường hoá,
dịch hoá, houblon hoá, lắng, lọc, làm lạnh, lên men
+ Tìm hiểu các thiết bị trong nhà máy
- Tìm hiểu quản lý chất lượng trong nhà máy
+ Các chỉ tiêu chất lượng
+ Hệ thống quản lý chất lượng
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phương pháp quan sát
- Quan sát toàn bộ quá trình sản xuất từ khi tiếp nhận nguyên liệu đến
khi có được bia thành phẩm
- Quan sát các chi tiết bên ngoài và một số chi tiết bên trong của thiết
bị trong nhà máy
- Quan sát cách vận hành các thiết bị trong nhà máy
- Quan sát các cán bộ KCS kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng trong nhà
máy
3.3.2. Phương phát mô tả
- Mô tả dây chuyền sản xuất bằng sơ đồ công nghệ
- Mô tả cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của thiết bị bằng sơ đồ thiết bị
- Mô tả chỉ tiêu chất lượng bằng cách đưa ra các thông số đánh giá chỉ
với thiết bị hiện đại, đồng bộ được nhập khẩu từ Công hòa Liên Bang Đức đi
vào hoạt động đã mở ra một diện mạo mới cho Công ty, bước đầu góp phần
thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh.
Trong quá trình sản xuất, Công ty không ngừng đầu tư những thiết bị
mới, nâng cao chất lượng sản phẩm. Sản lượng bia của Công ty năm sau cao
hơn năm trước, thị trường tiêu thụ được mở rộng. Đến thời điểm hiện tại,
Công ty đã đạt sản lượng trên 13 triệu lít/năm, trong đó bia chai là 10 triệu lít,
bia hơi là trên 3 triệu lít.
Tháng 7/2002, Công ty đã ký hợp đồng hợp tác sản xuất bia chai Sài
gòn. kết quả năm 2002 với gần 2 triệu lít bia chai Sài Gòn đạt chất lượng hóa
lý và cảm quan tốt đã tạo tiền đề vững chắc để Công ty tiếp tục thực hiện hợp
đồng hợp tác lâu dài và từng bước trở thành đơn vị thành viên của Tổng Công
ty Bia - Rượu - NGK Sài Gòn (SABECO).
Trước xu thế hợp tác và hội nhập với các nước trong khu vực cũng như
trên thế giới, Công ty Bia - NGK Hà Tĩnh luôn tìm các giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác quản lý kinh tế và quản lý sản xuất - kinh doanh. Tháng
16
5/2003, Công ty được các tổ chức quốc tế Quacert việt nam, AZN - Australia
và New Zealand cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
quốc tế ISO 9001 - 2000.
Ngày 01/10/2004, Công ty Bia - NGK Hà Tĩnh chính thức trở thành
đơn vị thành viên của Tổng công ty Bia - Rượu - NGK Sài Gòn, theo Quyết
định số 380/QĐ.UB.DN ngày 06/8/2004 của UBND tỉnh Hà Tĩnh và Quyết
định số 90/2004/QĐ-HĐQT ngày 28/9/2004 của Tổng Công ty Bia - Rượu -
NGK Sài Gòn.
Ngày 07/01/2005, Công ty Bia Bia - NGK Hà Tĩnh được Bộ trưởng Bộ
Công Nghiệp phê duyệt phương án và chuyển Công Ty Bia - NGK Hà Tĩnh
thành Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn - Hà Tĩnh theo Quyết định số 3555/QĐ-
BCN của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp.
Ngày 22/9/2006 Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn Hà Tĩnh, hợp nhất với
4.1.2.2. Vệ sinh an toàn thực phẩm
Đối với mọi nhà máy thực phẩm nói chung và nhà máy bia nói riêng ,
vấn đề vệ sinh là nhiệm vụ hàng đầu, nhằm bảo đảm vệ sinh tại mọi vị trí mọi
khâu sản xuất , để bảo đảm một sản phẩm an toàn khi đưa ra thị trường phục
vụ người tiêu dùng . Nắm rỏ tính chất quan trọng đó nhà máy đã đề ra những
yêu cầu bảo đảm vệ sinh hết sức nghiêm ngặt .
- Đối với nguyên liệu thì nguyên liệu được nhập vào phải đảm bảo vệ
sinh ít lẫn tạp chất và hàm lượng vi sinh vật là ít nhất.
- Các thiết bị trong nhà máy trước và sau khi sử dụng phải CIP vệ sinh
sạch sẽ
- Nền nhà phải lau chùi thường xuyên để tránh lẫn nhiễm vi sinh vật lạ
ở nền nhà làm ảnh hưởng chất lượng vệ sinh bia thành phẩm
- Các công nhân trực tiếp sản xuất phải tuân thủ vệ sinh trong nhà máy
- Đối với hệ thống cống rãnh, các đường ống dẫn trong nhà máy thì
theo định kỳ phải được vệ sinh bằng hóa chất tẩy rửa hoặc được phun sối bởi
các vòi nước vệ sinh phun vơi áp lực cao.Đặt biệt nhà máy có hệ thống xử lý
nước thải nhằm bảo đảm chất lượng nước thải không gây ô nhiễm khi thải ra
môi trường .
18
4.1.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
19
Phân xưởng động
lực
Phân xưởng
công nghệ
Kíp
C
Kíp
B
Kíp
PX lên men 42m
3
Dàn lạnh, CO
2
Khu vực lò hơi
Khu vực tháo bã hèm
Khu vực xử lý nước thải
Kho Bia
chai
Khu vực xử lý
nước sx và
glycol
Khu vực bia hơi
Phòng KCS
PX lên men 24m
3
Phòng xay, nghiền PX nấu
Kho chứa
nguyên liệu
Kho chứa Bia
thành phẩm
PX chiết rót
Nhà ăn
Khu vực chứa TB hỏng
Khu vực
hành chính
Phân xưởng động lực
4.2. KẾT QUẢ TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT BIA TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN HÀ TĨNH.
4.2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất
Bảng 3.1. Thành phần nguyên liệu sử dụng cho một mẻ nấu
Thành phần Khối lượng
Malt 1000 kg
Gạo 250 kg
Hoa viên 1,361 kg
Cao hoa 0,501 kg
CaCl
2
0,8 kg
Lactic 500 ml
Caramen 0,5 kg
ZnCl
2
2,0 g
H
2
S0
4
18 ml
Nước
2. Phương pháp bảo quản nguyên liệu
Gạo và malt sau khi được chuyển vào nhà máy được hệ thống xe nâng
hiện đại đưa vào kho bảo quản malt và gạo. Nền của kho bảo quản được lát
gạch rất sạch sẽ, malt và gạo được đặt tên các sạp gỗ cao 12 cm, dài 120 cm,
được làm từ các tấm gỗ ghép lại với nhau. Kho bảo quản của nhà máy rất
thông thoáng nên rất thuận lợi cho quá trình bảo quản malt và gạo. Hoa
houblon được đựng trong túi ni lon màu bạc kín, cao hoa được chứa trong hộp
bằng kim loại, cả hại đều được bảo quản trong tủ lạnh. Các hoá chất khác đều
được đặt trong kho bảo quản ở điều kiện thích hợp
22
xuống cyclon (5). Còn vỏ trấu và tấm lớn trên sàng sẽ đi xuống cặp trục
nghiền thứ hai (4) để nghiền lại một lần nữa và xuống thiết bị cyclon (5). Malt
sau khi nghiền được hệ thống xích tải chuyển vào nồi nấu malt bụi sẽ được ra
ngoài theo hệ thống Cyclon. Trong quá trình nghiền ta phải thường xuyên
kiểm tra chất lượng bột Malt bằng cách ta mở cửa phía dưới thiết bị và lấy
mẫu ra kiểm tra bằng mắt. Chất lượng của bột Malt sau khi nghiền đảm bảo là
vỏ malt tách ra không nát, phần bột malt nhỏ, mịn đều và không còn hạt
nguyên (so với mẫu đối chứng). Còn nếu malt không đạt yêu cầu sẽ cho trở lại
phễu cùng với lượng malt ban đầu để xay lại, không cho lên thùng chứa bột
malt. Sau khi xay đủ một mẻ thì ta ta tắt máy theo nguyên tắc công tắc nào bật
trước thì tắt trước. Malt tiếp tục được hệ thống xích tải đưa lên nồi nấu.
2. Nghiền gạo
+ Mục đích
Gạo là nguyên liệu thay thế trong sản xuất của nhà máy Bia Sài Gòn –
Hà Tĩnh, Nó chưa được qua giai đoạn ươm mầm. Nghiền gạo nhằm mục đích
phá vỡ thành tế bào, tinh bột, protein khó bị thuỷ phân nhằm tạo điều kiện
trích ly được nhiều chất hoà tan vào dịch đường trình dịch hoá và giúp cho
quá trình dịch hoá xẩy ra nhanh hơn và triệt để hơn
+ Yêu cầu của bột gạo: Bột càng mịn càng tốt
+ Cấu tạo thiết bị xay gạo:
24
Hình 1.2: Máy xay gạo
Chú thích: 1 – Phễu nạp liệu 4 – Cyclo chứa
2 – Xích tải 5 – Cặp trục nghiền
3 – Sàng tách kim loại 6 – Vít tải
+ Nguyên tắc hoạt động của máy xay gạo
Gạo cần xay sẽ được công nhân đưa vào phễu nạp liệu. Nguyên liệu
được hệ thống xích tải (2) đưa lên sàng tách kim loại(3), sau đó được đưa vào
cyclo chứa (4) và được xay mịn nhờ cặp trục nghiền (5), bột gạo được xích tải