Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
1
ĐỀ TÀI
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT NGÂN HÀNG VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
GIẢNG VIÊN: PGS – TS TRẦN HUY HOÀNG
THỰC HIỆN NHÓM 4 – NHĐ5 – K 18
1. HUỲNH TRUNG HIẾU
2. NGUYỄN HỮU HOÀN
3. NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
4. PHAN THỊ TUYẾT OANH
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
2
MỤC LỤC
CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT 5
a. Cố định lãi suất : 13
b. Thả nổi lãi suất : 13
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
3
II. THUẬN LỢI - KHÓ KHĂN VÀ CÁC MẶT TỒN TẠI TRONG ĐIỀU HÀNH
LÃI SUẤT 14
CHƯƠNG IV - KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH
LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG 16
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
4
PHẦN MỞ ĐẦU
Khi nói đến hoạt động của ngân hàng và hoạt động của doanh nghiệp thì chúng ta
không thể không đề cập đến một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan mật thiết giữa ngân
hàng và doanh nghiệp đó chính là lãi suất ngân hàng.
Bất kể một quốc gia nào trên thế giới dù nền kinh tế đang ở trình độ phát triển nào đi
chăng nữa thì chính sách lãi suất của ngân hàng đối với hoạt động doanh nghiệp có một sự
tác động quan trọng. Lãi suất không chỉ đơn giản là khoản giá cả phải trả cho việc sử dụng
một khoản tiền mà còn thể hiện ở tầm cao hơn đó chính là công cụ vĩ mô điều hành chính
sách tiền tệ một quốc gia, tác động trực tiếp đến sự hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
nói riêng, sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
Thực tiễn đã chứng minh ở Việt Nam, từ thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
lãi suất còn mang tính bao cấp, nên Ngân hàng nhà nước đã thực thi chính sách lãi suất có sự
phân biệt và áp dụng chi tiết cho từng ngành kinh tế, thành phần kinh tế với mục đích t ác
động sự phát triển của từng ngành, thành phần kinh tế. Đến giai đoạn đầu của thời kỳ đổi
mới (1988-1992) do lạm phát phi mã nên Ngân hàng nhà nước đã thực thi chính sách "lãi
suất âm" với mức lãi suất huy động danh nghĩa rất cao, nhằm thu hút mạnh tiền vào hệ
thống ngân hàng, từ đó giảm bớt tổng phương tiện thanh toán để ổn định và giữ vững giá trị
đồng tiền nội tệ đồng thời duy trì lãi suất cho vay ở mức độ hợp lý, các Doanh nghiệp có thể
trung gian tài chính: thanh toán lãi suất cho phần tiền gởi của khách hàng và tính lãi suất đối
với tài khoản tiền cho khách hàng vay.
Từ đó có khái niệm về lãi suất (Interest rate): Lãi suất là tỷ lệ % giữa tiền lãi (hay chi
phí phải trả) trên một số lượng tiền mặt nhất định để được sở hữu và sử dụng tiền ấy trong
khoảng thời gian đã thỏa thuận trước.
Mặt khác sự vận động tổng quát của tín dụng là T-T', trong đó T'= T+ T. Với một số lượng
tiền mà ngân hàng đưa ra cho vay sau một thời gian sẽ quay trở về với người sở hữu nó kèm
theo một giá trị tăng thêm đó là lợi tức.
Như vậy lợi tức tín dụng là khoản chênh lệch giữa số vốn thu về và số vốn đã cho
vay; được xem là giá cả của vốn vay, đây là khoản người đi vay phải trả cho người vay sau
một thời gian sử dụng vốn vay. Lợi tức tín dụng được biểu hiện thông qua lãi suất tín dụng.
II. CƠ SỞ HÌNH THÀNH LÃI SUẤT :
Để thấy rõ được tác động của chính sách lãi suất đối với hoạt động doanh nghiệp, cần
nghiên cứu những cơ sở hình thành lãi suất:
Lãi suất là giá cả của vốn tiền tệ, là một chỉ số kinh tế tổng hợp, chịu tác động bởi
nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô, tài chính- tiền tệ ở trong nước và ngoài nước. Các ngân hàng
thương mại (NHTM) ấn định lãi suất kinh doanh (huy động và cho vay vốn) dựa trên cơ sở
cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương (NHTW), xu hướng cung – cầu vốn thị
trường, lạm phát, mức độ rủi ro và lãi suất thị trường quốc tế. Trong những thập kỷ gần đây,
thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ
chế điều hành lãi suất của NHTW các nước thay đổi theo hướng tự do hoá.
Quan hệ cung cầu về vốn tín dụng trong từng thời kỳ nhất định :
Nếu cung vốn tín dụng lớn hơn cầu vốn tín dụng, lãi suất tín dụng sẽ giảm; ngược lại
nếu cung nhỏ hơn cầu về vốn tín dụng thì lãi suất tín dụng sẽ tăng.
Cơ sở này rất quan trọng nếu nhu vầu về vốn tín dụng của các doanh nghiệp lớn vượt
cả nguồn cung vốn tín dụng của ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ chịu lãi suất tín dụng cao,
như vậy chi phí trả lãi vốn vay cấu thanh trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp sẽ tăng
cao.
Tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế:
III. CÁC LOẠI LÃI SUẤT :
Tùy theo tính chất và đặc điểm giao dịch vốn mà có nhiều loại lãi suất khác nhau.
Phân loại lãi suất như sau :
Đứng trên góc độ điều hành chính sách tiền tệ :
Lãi suất được ngân hàng nhà nước (ngân hàng trung ương) sử dụng như là một công
cụ điều hành chính sách tiền tệ, do đó ngân hàng trung ương áp dụng đối với các ngân hàng
thương mại với tư cách là người cho vay cuối cùng thông qua các nghiệp vụ tái chiết khấu
các thương phiếu, chứng từ có giá; nghiệp vụ tái cấp vốn. Có các loại lãi suất sau:
- Lãi suất cơ bản
- Lãi suất tái cấp vốn
- Lãi suất tái chiết khấu
- Lãi suất này cũng là cơ sở để các ngân hàng thương mại áp dụng hình thành nên
lãi suất giao dịch với các doanh nghiệp, khách hàng.
Đứng trên góc độ giao dịch liên ngân hàng :
Lãi suất liên ngân hàng là loại lãi suất cho vay lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại
được hình thành trên thị trường liên ngân hàng.
Đứng trên góc độ huy động huy động vốn và cho vay vốn của các ngân hàng thương
mại :
a/ Đối với huy động vốn:
Có các loại lãi suất sau:
- Lãi suất tiền gởi có kỳ hạn
- Lãi suất tiền gởi không kỳ hạn
- Lãi suất tiền gởi của các đơn vị tổ chức kinh tế
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
7
- Lãi suất tiền gởi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư
- Lãi suất của các loại chứng từ có giá như kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu…
b/ Đối với sử dụng vốn cho vay:
Lãi suất cho vay bằng tiền (đồng Việt Nam, ngoại tệ)
từng loại tiền gửi, địa bàn kinh doanh của từng tổ chức tín dụng;
Và mới đây, ngày 16/5/2008, bằng Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN lãi suất huy động sẽ
chính thức bị khống chế trong hạn mức không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy
định.
Đối với lãi suất cho vay, tính đến thời điểm này đã trải qua các giai đoạn chính
sau:
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
8
Giai đoạn 1: Lãi suất cho vay được ấn định mức cụ thể (Từ ngày 01/10/1982 –
01/7/1987): Đặt nền tản cho quy định này là Nghị định số 165/HĐBT ngày 23/9/1982. Theo
đó, Nghị định xác định hai chủ thể cho vay là Ngân hàng và Hợp tác xã (HTX) tín dụng.
Đối với Ngân hàng quy định gồm:
Cho vay vốn lưu động
Cho vay vốn cố định;
Đối với HTX Tín dụng chia mức cho vay thành mức ngắn hạn và mức còn lại.
Giai đoạn 2: Áp dụng mức trần và sàn đối với lãi suất cho vay (Từ ngày 01/7/1987–
01/01/1996): Vào ngày 29/6/1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành N ghị định 99-HĐBT quy
định:
Cho vay vốn lưu động trong giới hạn 2,4% đến 6%/tháng
Cho vay vốn cố định từ 2,1% đến 5,4%/tháng.
Giai đoạn 3: Áp dụng mức trần lãi suất cho vay (Từ ngày 01/01/1996 – 05/8/2000):
Với quyết định 381/QĐ-NH1 ngày 28/12/1995, NHNN chính thức bỏ mức sàn mà chỉ áp
dụng trần lãi suất cho vay.
Giai đoạn 4: Lãi suất cho vay được vận dụng bằng cơ chế lãi suất cơ bản cộng với
biên độ giao động trong từng thời kỳ (Từ ngày 05/8/2000 – 01/6/2002). Theo quyết định số
tới lãi suất tiền gởi, lãi suất tiền vay của các ngân hàng trung gian. Trên cơ sở đó các ngân
hàng trung gian tùy tình hình thị trường mà áp dụng lãi suất tiền gởi, tiền vay đối với các
doanh nghiệp nhưng thường là cao hơn lãi suất chiết khấu. Khi ngân hàng trung ương tăng
lãi suất chiết khấu, điều đó có nghĩa là ngân hàng trung ương muốn hạn chế sự tăng thêm
tiền ra lưu thông.
+ Ở các nước đang phát triển:
Ấn định mức lãi suất tiền gởi, tiền vay ở mức tối đa và giao cho ngân hàng trung
ương quyền điều chỉnh mức lãi suất đó. Lý do không thể cho thị trường quyết định mức lãi
suất là vì thị trường tiền tệ trong nước chưa đủ sức cạnh tranh.
Tuy nhiên qua nghiên cứu thực tế của ngân hàng thế giới cho thấy lãi suất trần cứng
ngắc đã làm cản trở sự tăng trưởng về tiết kiệm tài chính và giảm thiểu hiệu năng của đầu tư.
Do đó nhiều nước đã thực hiện lãi suất chịu sự quản lý của nhà nước có thể có hại, không có
tác động tích cực đối với nền kinh tế nói chung, hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng.
Do đó họ có khuynh hướng để cho thị trường có tiếng nói lớn hơn. Trong điều kiện sự ổn
định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập, nhà nước có thể quản lý lãi suất.
+ Ở Việt Nam chính sách lãi suất hiện đang được cải tiến. Đ ây chính là yếu tố quan
trọng để góp phần cải cách lĩnh vực tài chính. Về nguyên tắc cơ chế thị trường có sự cạnh
tranh thì tốt nhất là lãi suất nên để cho thị trường quyết định thông qua lãi suất cơ bản. Tuy
nhiên ở Việt Nam hiện nay, khi tình hình kinh tế vĩ mô chưa được ổn định và các NHTM
quốc doanh làm chủ thị trường, thì chính phủ không tránh khỏi việc áp dụng chính sách lãi
suất tích cực.
Chính sách lãi suất hiện nay có tác động:
+ Khuyến khích tích lũy và là trung gian tài chính
+ Hướng các nguồn tài chính vào các hoạt động có tỷ suất lợi nhuận cao nhất.
+ Lãi suất tín dụng đươc sử dụng như một công cụ để vận hành cơ chế tạo tiền.
* Nếu muốn hạn chế việc tạo tiền của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng nhà
nước sẽ tăng lãi suất tái cấp vốn, từ đó kéo theo lãi suất trên thị trường giữa các ngân hàng
tăng lên, vốn khả dụng giảm, Ngân hàng nhà nước sẽ thận trọng trong việc cấp tín dụng, do
đó tín dụng được cấp cho doanh nghiệp rất ít. Mặt khác về phía các doanh nghiệp khi lãi
suất tín dụng tăng sẽ giảm nhu cầu tín dụng, khối lượng tín dụng cấp ra giảm đi có nghĩa là
bán phải tăng lên để đảm bảo có lợi nhuận. Nhưng thực ra, viêc ấn định giá mua và giá bán
như thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có thể giá bán thấp để tranh thủ các khách
hàng lớn, có tín nhiệm để t iếp thị thu hút khách hàng. Có thể bán giá cao để làm nản lòng
những khách hàng thiếu tín nhiệm, hoặc để mạo hiểm đầu tư vào những thương vụ có lợi
nhuận siêu ngạch, mặc dù phải chấp nhận rủi ro cao.
c. Thông thường trong thực tế những doanh nghiệp thừa vốn tức là có nguồn cung về
vốn tiền tệ; những doanh nghiệp thiếu vốn - cần có vốn, tức là có cầu về vốn tiền tệ nhưng
họ khó có thể gặp nhau để giải quyết được các quan hệ cung cầu này hoặc họ thiếu thông
tin, nhưng không gặp được nhau, nhưng nếu có thông tin đi chăng nữa nhưng giữa cung và
cầu về vốn không thể đáp ứng cho nhau được nên họ phải cần đến ngân hàng và như vậy
chính sách lãi suất của ngân hàng là cơ sở để giải quyết mối quan hệ cung cầu vốn này là rất
quan trọng.
Những doanh nghiệp tạm thời thừa vốn, chưa sử dụng đền có thể gởi vào ngân hàng
và tùy tính chất nguồn vốn doanh nghiệp có thể gởi có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn hoặc đầu
tư vào các tín phiếu ( chứng từ có giá) do ngân hàng phát hành để được hưởng lợi tức thay
vì doanh nghiệp phải đầu tư vào các lĩnh vực khác có nhiều rủi ro.
Ngược lại các doanh nghiệp thiếu vốn, đang có nhu cầu về vốn họ sẵn sàng đến ngân hàng
nơi có nhiều sản phẩm dịch vụ thanh toán đáp ứng được cho nhu cầu của họ. Tùy vào số
lượng nhu cầu vốn, thời gian sử dụng vốn mà họ có thể vay nhiều, ít, vay ngắn hạn, trung
dài hạn; vay VND hoặc vay ngoại tệ. Doanh nghiệp có thể cân nhắc lựa chọn đồng tiền vay,
số lượng vốn vay, thời gian vay để sử dụng sao cho hiệu quả nhất.
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
11
II. CẦU NỐI GIỮA SẢN PHẨM NGÂN HÀNG - KHÁCH HÀNG :
a. Lãi suất ngân hàng là yếu tố quan trọng để có thể quyết định được việc nối kết giữa
sản phẩm ngân hàng với khách hàng. Thực vậy, các doanh nghiệp hoạt động không chỉ bằng
nguồn vốn tự có của mình mà thông thường còn phải nhờ vào nguồn vốn đi vay. Nếu lãi
suất tín dụng của ngân hàng quá cao, sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp đi vay để đầu
nối giữa sản phẩm ngân hàng và khách hàng.
III. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SỐ LỢI NHUẬN BÌNH QUÂN CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP:
a. Lãi suất ngân hàng cao hay thấp thường được so sánh với lợi tức bình quân của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Những giai đoạn phát triển khác
nhau của nền kinh tế thường kéo theo những lợi tức doanh nghiệp khác nhau.
ẹe taứi : Nhng vn c bn v lói sut Ngõn hng v vai trũ ca nú i vi Doanh nghip.
12
Thc tin kinh nghim ca nhiu nc, trong quỏ trỡnh phỏt trin ó cho thy rng li
tc doanh nghip luụn t l nghch vi trỡnh v mc phỏt trin ca nn kinh t mi
quc gia. M t quc gia ang giai on kộm phỏt trin, dn tng bc tin vo giai on
phỏt trin thỡ li tc doanh nghip thng mc cao v nn kinh t cũn nhiu tim nng
cha c khai thỏc ht. Nhng khi quc gia ú bc vo giai on phỏt trin, ti nguyờn
c khai thỏc mt cỏch y cnh tranh, thỡ li tc doanh nghip s gim dn.
Nh vy li tc doanh nghip l mt i lng bt nh, gim dn theo mc phỏt
trin ca nn kinh t. Vỡ vy chớnh sỏch lói sut l iu ht sc quan trng v iu cn duy
trỡ to s tng trng n nh. Nhng mc lói sut ny cng phi thay i theo tng thi
k tng ng vi s thay i ca li tc doanh nghip.
b. Li nhun rũng ca doanh nghip liờn quan mt thit n lói vay ngõn hng. ng
c kớch thớch doanh nghip m rng sn xut mnh hay khụng hon ton tựy thuc vo li
nhun m h cú th hng. ú l lý do ti sao mt mc lói sut thp luụn l phng sỏch
tt cho sc bt ca nn kinh t.
Thc t cho thy s lói phi tr vay ngõn hng l mt yu t chim t trng khỏ ln
trong tng chi phớ hot ng ca doanh nghip. Do vy nu lói sut cho vay cao, dn n chi
phớ tr lói cao, giỏ thnh sn phm hng húa dch v ca doanh nghip cao, giỏ bỏn s tng
theo, nờn khú bỏn c sn phm, hng húa, dch v; nu cnh tranh c trong c ch
th trng, buc doanh nghip phi h giỏ bỏn xung, t ú lm cho li nhun rũng ca
doanh nghip thp, khụng khuyn khớch doanh nghip u t m rng sn xut, kinh doanh,
lạm phát, hay giảm lãi suất để kích cầu đầu tư) thì mới tác động đến thị trường chứng khoán.
CHƯƠNG III - NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TỒN TẠI
TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
I. CÁC CÁCH QUẢN LÝ LÃI SUẤT:
Trong quá trình điều hành chính sách lãi suất theo từng giai đoạn phát triển của nền
kinh tế, Ngân hàng nhà nước đã thực hiện hai cách quản lý lãi suất :
a. Cố định lãi suất :
Theo cách này, N gân hàng nhà nước đưa ra các thang lãi suất đã lập sẵn để thông báo
cho khách hàng khi có nhu cầu vay vốn từ ngân hàng và khách hàng chỉ chấp nhận khi muốn
vay tiền. Cách này có những ưu, nhược điểm sau :
- Ưu điểm:
+ Giúp ngân hàng tính toán khá chính xác được lợi nhuận từ mỗi khoản vay.
+ Chủ động tính được lãi suất cần đưa ra để huy động tiền gởi và các loại tài sản nợ
khác.
- Nhược điể m:
+ Cố định lãi suất làm cho ngân hàng tự hạn chế về khả năng cho vay đầu tư. N gân
hàng không thể cho vay dưới mức ấn định, do đó có tình trạng nhiều khi ngân hàng thừa vốn
mà không thể hoặc không dám đầu tư do lãi suất không đạt được yêu cầu của doanh nghiệp.
+ Do lãi suất cố định nên không có sự thương lượng giữa ngân hàng và doanh nghiệp,
nếu doanh nghiệp chấp nhận được thì vay, nếu không thì doanh nghiệp không thể vay và
ngân hàng cũng không thể cho vay được.
+ Cố định lãi suất sẽ làm cho ngân hàng khó đầu tư vào chứng khoán, vì hầu hết
chứng khoán ngày nay đều để lãi suất do cung cầu quyết định.
+ Việc quản lý lãi suất cố định trên thế giới chỉ thịnh hành từ thập niên 60 trở về
trước, còn ở Việt Nam vẫn còn áp dụng cho đến đầu năm 1996. Từ đầu năm 1996 đến 1998
Ngân hàng nhà nước đã thay đổi cách điều hành lãi suất từ qui định lãi suất chi tiết tiền gởi,
tiền vay đến việc qui định trần, sàn, chênh lệch lãi suất. Từ cuối năm 1998 đến cuối tháng
7/2000 chỉ còn qui định trần lãi suất.
của doanh nghiệp, dựa trên tỷ suất lợi nhuận mà loại hình doanh nghiệp đó mang lại nên có
sự công bằng, nhưng thực tế có khó khăn trong điều hành lãi suất của ngân hàng, do có quá
nhiều loại lãi suất; đồng thời về phía khách hàng sẽ thiếu sự năng động do có sự ỷ lại vào
mức lãi suất áp dụng cho mình còn mang tính bao cấp.
- Nếu điều hành lãi suất theo hướng trần, sàn lãi suất có chênh lệch lãi suất đầu vào,
đầu ra. Tuy cách điều hành lãi suất này khắc phục các tồn tại của các điều hành lãi suất như
đã nêu ở trên nhưng vẫn chưa tạo được mặt hoàn toàn chủ động của các ngân hàng trong
việc tự mình án định lãi suất cho vay các doanh nghiệ, các khách hàng; hơn nữa chưa theo
được tín hiệu thị trường về cung cầu vốn tín dụng nên cũng chưa khuyến khích doanh
nghiệp có nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất hoặc doanh nghiệp có nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi gởi vào ngân hàng.
- Điều hành lãi suất theo lãi suất cơ bản: Cách điều hành lãi suất này cho đến nay là
cách điều hành hoàn thiện nhất, phản ảnh được quan hệ cung cầu và theo tín hiệu thị trường.
Khi giao dịch các ngân hàng thương mại được phép cộng hoặc trừ theo một biên độ cho
phép. Nhưng đến nay cách điều hành lãi suất cơ bản này vẫn gặp những khó khăn nhất định.
- Giai đoạn hiện nay nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại, nếu lãi suất cơ bản
được nâng cao lên thì không thể kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng để tăng trưởng kinh tế
được.
- Nếu lãi suất cơ bản giảm xuống thấp, thì lãi suất huy động đầu vào của ngân hàng
cũng giảm thấp, không khuyến khích doanh nghiệp, khách hàng, dân cư gởi tiền vào ngân
hàng, dẫn đến nguồn cung vốn qua ngân hàng bị giảm thấp, trong khi tỷ giá USD luôn biến
động tăng tạo nên sự chuyển dịch từ đồng Việt Nam sang ngoại tệ (USD) làm cho tình trạng
khan hiếm tiền đồng xảy ra ở các ngân hàng.
NHỮNG THÀNH TỰU VÀ TỒN TẠI
a. Thành tựu :
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
15
Vào năm 1999 với việc áp dụng công cụ trần lãi suất cho vay thay vì khống chế lãi suất
nhạy cảm , có mức độ rủi ro cao , nợ gốc khó đòi nên dễ gây thua lỗ cho các Ngân hàng, ảnh
hưởng đến tâm lý đối với các cán bộ tín dụng và làm ảnh hưởng đến các hoạt động của Ngân
hàng. Chính sách hỗ trợ lãi suất của ngân hàng Nhà nước vào năm nay cũng chưa đạt được
hiệu quả mong muốn bởi vì trên thực tế thủ tục cũng khá phức tạp lại không được hướng
dẫn cụ thể từ phía Ngân hàng nhà nước , và các ngân hàng thương mại lo ngại rằng khi đoàn
thanh tra của N gân hàng Nhà nước kết luận họ cho vay không đúng đối tượng sẽ không
nhận được tiền hỗ trợ lãi suất của Ngân hàng nhà nước. Mặt khác, các Doanh nghiệp cũng
không mấy mặn mà bởi hàng tồn trong kho còn nhiều nên họ cũng không mấy hào hứng mở
rộng sản xuất, hơn nữa đối tượng hỗ trợ lãi suất chỉ là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với
lượng vốn vay ít nên mức giảm này cũng không nhiều ý nghĩa đối với chi phí bỏ ra để giải
trừ hàng tồn kho.
Ñeà taøi : Những vấn đề cơ bản về lãi suất Ngân hàng và vai trò của nó đối với Doanh nghiệp.
16
CHƯƠNG IV - KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH
LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG
Chính sách lãi suất của ngân hàng thực sự có vai trò rất quan trọng, tác động đến hoạt
động, phát triển và đi lên của doanh nghiệp nói riêng và là công cụ để điều hành chính sách
tiền tệ để phát triển nền kinh tế nói chung. Do đo, chính sách lãi suất phải được điều hành
phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Lãi suất ngoại tệ hiện nay đã được điều hành theo cơ chế thả nổi theo quan hệ cung
cầu trên thị trường, Do đó vấn đề còn lại phải làm là cơ chế điều hành lãi suất đồng Việt
Nam phải có phương pháp điều hành thích hợp theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh
tế.
Từ thực tế thị trường tài chính-ngân hàng và quản lý của NHNN thời gian gần đây
cho phép rút ra ba bài học mới sau:
Thứ nhất, cần mạnh dạn giảm bớt can thiệp mang tính hành chính, đồng thời nâng
17
nhà khoa học, là cần thiết cho hoạt động điều hàng của NHNN, cho phép nâng cao dần tính
đúng đắn và hiệu quả của NHNN trong kinh tế thị trường ở nước ta.
Thứ ba, cần cân nhắc đầy đủ tính hai mặt của quản lý theo trần lãi suất ngân hàng.
Ngoài ra, để sớm hoàn thiện cơ chế thị trường trong quản lý khu vực ngân hàng, trong đó có
quản lý lãi suất, cần sớm có sự hoàn thiện hơn cơ sở luật pháp cho hoạt động này. Thực tế
cho thấy, việc áp dụng lãi suất cho vay thoả thuận, việc linh hoạt điều chỉnh trần LSHĐ sẽ
có những tác động tích cực đến thị trường tài chính-ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói
chung, nhất là tạo thuận lợi cho việc tăng huy động vốn cho đầu tư xã hội thông qua hệ
thống ngân hàng và nâng cao vị thế ngân hàng trong nền kinh tế; Bỏ trần LSHĐ sẽ giúp các
cơ quan quản lý có thông tin về các động thái, diễn biến của thị trường chính xác, minh
bạch, rõ ràng hơn và ra các quyết định quản lý thích hợp, hiệu quả hơn. Cơ chế thị trường sẽ
sớm xác lập và hoàn thiện hơn, và do đó tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước
với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài; Gia tăng cơ hội và lợi ích cho doanh nghiệp
trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng và trong đầu tư xã hội. Nguồn vốn ngân hàng huy động
được dồi dào hơn và có tính thanh khoản cao hơn; các doanh nghiệp sẽ có thể nhận được lãi
suất cho vay của các ngân hàng thấp dần nhờ hệ quả của áp lực quy luật cung - cầu thị
trường và áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàngcũng như sự hỗ trợ thích hợp của NHNN như
đã nêu trên.
Việc gỡ bỏ đồng bộ trần lãi suất ngân hàng cả đầu vào và đầu ra còn giúp loại bỏ
những loại bỏ các doanh nghiệp kinh doanh yếu kém, các dự án vay không mang tính thị
trường hay có tính đầu cơ cao; đồng thời tăng nguồn vốn đầu tư cho những dự án kinh
doanh sản xuất hiệu quả; Gia tăng lợi ích của người gửi tiền vào ngân hàng và kích thích tiết
kiệm chi tiêu xã hội, giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, hạn chế đầu cơ không có lợi vào
các hoạt động kinh doanh khác, như chứng khoán, bất động sản, góp phần giảm lạm phát,
tăng luông vốn đổ vào trong nước trong nước từ các nguồn vốn rẻ trên thế giới… Ngoài ra,
việc bãi bỏ trần LSHĐ bất chấp những điều kiện chưa chín muồi cũng có thể phát sinh
những hệ quả bất lợi khó lường định, như có thể gia tăng các hoạt động cạnh tranh không
lành mạnh, lừa đảo và quá trình dịch chuyển nguồn vốn bất thường, nếu kiểm soát không tốt
cũng chính là sự thành công của ngân hàng; sự thành công của ngân hàng càng tạo điều kiện
góp phần tốt hơn cho sự phát triển của Doanh nghiệp. Mối quan hệ này được thực hiện cũng
nhờ thông qua chính sách lãi suất của ngân hàng. Vì vậy chính sách lãi suất đã có một vai
trò tác động hết sức quan trọng không thể thiếu được đối với hoạt động Doanh nghiệp trong
việc điều chỉnh quan hệ cung cầu vốn của Doanh nghiệp, là cầu nối giữa sản phẩm ngân
hàng, là nhân tố ảnh hưởng đến tỷ số lợi nhuận bình quân của các Doanh nghiệp tác động
đến doanh thu và lợi nhuận.
Do đó Ngân hàng nhà nước điều hành lãi suất phải đảm bảo phù hợp với trình độ phát
triển nền kinh tế ở giai đoạn đó và phải đạt được mục tiêu phát triển doanh nghiệp nói riêng
và của toàn nền kinh tế Việt Nam nói chung.