skkn: cách xây dựng và sử dụng bản đồ trong dạy học môn lịch sử - Pdf 22

Phòng giáo dục và đào tạo vĩnh bảo
Trờng thcs hng nhân
Tổ khoa học và xã hội
&@&
Sáng kiến kinh nghiệm
đề tài: cách xây dựng và sử dụng bản đồ
trong dạy học môn lịch sử.
Họ và tên: Ngô Gia Nghì
Chức vụ: Giáo viên
Năm: 2008-2009
1
phần i : đặt vấn đề
I. Lý do chọn đề tài
Vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học nói chung và đổi mới phơng pháp dạy học
lịch sử nói riêng đã đợc đề cập và đặt ra trong thực tiễn trong suốt nhiều năm gần đây
và đã thu hút đợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lí giáo dục cũng nh các
giáo viên trực tiếp đứng lớp . Tất cả đều khẳng định phải đổi mới phơng pháp dạy học
theo hớng phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh.
Nghị quyết TW VIII đã khẳng định: phải đổi mới phơng pháp dạy học, khắc phục
lối dạy một chiều từng bớc áp dụng các phơng pháp tiên tiến, phơng tiện hiện đại vào
quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh,
phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thờng xuyên, suốt đời của học sinh.
Trong luật giáo dục của nớc CHXHCN Việt Nam cũng đã qui định: Phơng pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng lớp , từng môn học, bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn luyện, vận
dung kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú trong
học tập cho học sinh.
Thực tiễn quan điểm đổi mới giáo dục nói trên, trong các nhà trờng phổ thông đã
dấy lên một phong trào thi đua đổi mới phơng pháp dạy học đã diễn ra , kết quả đã có
nhiều giờ dạy tốt, tiết học tốt đã góp phần nâng cao hiệu quả bài học.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để phát huy nâng cao hiệu quả bài học

Phần hai: Nội dung
1.Cơ sở lí luận
Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới phơng pháp là một vấn đề đã đợc đề cập và bàn
bạc sôi nổi từ nhiều thập niên qua. Các nhà nghiên cứu GD đã không ngừng tìm tòi,
tiếp thu những thành tựu mới của lí luận dạy học hiện đại để đa nền giáo dục nớc ta bắt
kịp với nền giáo dục của thế giới và đáp ứng đợc nh cầu học tập ngày càng cao của
nhân dân. Những năm gần đây, định hớng đổi mới phơng pháp dạy học đã đợc thống
nhất theo hớng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dới sự tổ chức hớng dẫn
của giáo viên: Học sinh chủ động tự giác tìm tòi, phát hiện, giải quyết nhiệm vụ
nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo những kĩ năng mà các em
thu nhận đợc. SGK lịch sử đợc biên soạn theo chơng trình mới, gồm ba phần: Lịch sử
thế giới Lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phơng bám sát tiến trình lịch sử thế giới và lịch
sử Việt Nam. Nó đảm bảo tính chính xác, đổi mới và Việt Nam (theo quan niệm nhìn
nhận đánh giá của Đảng). Đồng thời tạo đợc sự cân đối về nội dung của SGK với kênh
hình, kênh chữ, phát huy đợc tính tích cực của học sinh trong quá trình sử dụng tài
liệu. Rèn kĩ năng t duy, phân tích, so sánh, đối chiếu hình thành những thói quen đáng
chú ý về cách học tích cực.
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Từ thực tế Thành phố, Sở GD&ĐT đã chọn năm học 2006-2007 và năm học
2007-2008 là năm học: Hội nhập - ổn định - phát triển. Theo mục tiêu đó PGD huyện
Vĩnh Bảo đã triển khai những hoạt động chỉ đạo tích cực giúp các giáo viên nắm đợc
mục tiêu năm học và những đổi mới cơ bản cho việc dạy học và kiểm tra đánh giá.
Việc thực hiện dạy môn lịch sử mới trong chơng trình đã rút đợc kinh nhiệm,
chỉnh sửa, tổng kết, qua quá trình dạy thử nghiệm ở các năm trớc. Nhờ đó giáo viên đã
hình thành đợc mô hình chuẩn thực hiện tiết dạy đạt kết quả tốt trên cả ba phơng diện:
Kiến thức - T tởng - Kĩ năng. Tuy nhiên giờ dạy sử bên cạnh tính khoa học hệ thống
4
các phơng pháp thao tác đặc trng, để tạo nên sự thành công còn chính ở sự nghiên cứu
tài liệu và suy ngẫm của ngời dạy. Điều này góp phần tạo nên màu sắc đa dạng hấp
dẫn trong các bài dạy.

học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng việt , lịch sử dân tộc, địa lí và văn hoá Việt
Nam.
+ Nhận thức đợc vai trò, vị trí của bộ môn Lịch sử trong sự nghiệp giáo dục , bản
thân ngời giáo viên Lịch sử đã không ngừng tự học, tự đào tạo về chuyên môn nghiệp
vụ, đến nay hầu hết đã chuẩn hoá , một số còn vơn lên trình độ cao hơn để đáp ứng
nghiệp vụ , yêu cầu ngày càng cao của bộ môn . Địa vị của ngời giáo viên Lịch sử
trong trờng phổ thông ngày càng có uy tín, đợc xã hội và học sinh tôn vinh.
+ Bản thân học sinh ngày càng nhận thấy vai trò tác dụng của bộ môn trong việc
học tập , rèn luyện để trở thành con ngời có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết để đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ đổi mới và hiện đại hoá đất nớc.
Bên cạnh hoàn thành nhiệm vụ của bộ môn đã nêu trên chúng ta phải thừa nhận
rằng kết quả đó còn thấp so với yêu cầu ngày càng cao của xã hội , nhất là trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc hiện nay.
Do điều kiện khách quan và chủ quan chất lợng bộ môn lịch sử còn có những biểu
hiện giảm sút, thể hiện ở những điểm sau :
+ Không nhớ các sự kiện lịch sử hoặc nếu có nhớ thì không chính xác là hiện tợng
không chỉ ở một số ít học sinh. Theo dõi cuộc thi: Đờng lên đỉnh OlimPia, đa số học
sinh trả lời không đúng . Là một giáo viên lịch sử, chúng ta không khỏi đau lòng khi
biết kết quả của một cuộc thăm dò, không ít học sinh rất khó khăn trong việc nhớ lịch
sử dân tộc , nhng lại rất nhạy bén trong việc nhớ tiểu sử, tính cách, thành tích của một
vận động viên , một ca sĩ mà các em yêu thích.
+ Cho đến nay, đa số học sinh vẫn còn quan niệm rằng học sử chỉ cần học thuộc
lòng, nên đã dẫn tới hậu quả đáng buồn. Khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp và
khả năng tìm hiểu nguyên nhân , bản chất của sự kiện , hiện tợng lịch sử khả năng
xâu chuỗi các sự kiện lịch sử để tìm ra nét truyền thống, những bài học còn bị hạn chế
rất nhiều , do đó làm hạn chế hiệu quả giảng dạy và học tập của bộ môn .
6
+ Sự biết và hiểu lịch sử của học chủ yếu là lịch sử đấu tranh bảo vệ tổ quốc ,
phần biết về lịch sử văn hoá , phong tục tập quán , lối sống của dân tộc qua các kỳ thi
lịch sử quả là còn hạn chế rất nhiều .

xác, nhầm lẫn sự kiện này với sự kiện kia và nhớ không nhiều
- Một số giáo viên còn dạy chay, nên nó làm tăng thêm sự hạn chế trong việc
nhận thức lịch sử của học sinh.
3. gợi ý cách xây dựng bản đồ và sử dụng bản đồ trong dạy học lịch
sử.
. 1- Kĩ năng xác định nội dung lịch sử đợc thể hiện trên bản đồ.
Bản đồ lịch sử hiện nay là đồ dùng trực quan chủ yếu trong dạy học lịch sử ở tr-
ờng phổ thông, nó không chỉ minh hoạ, cụ thể hoá kiến thức mà còn bổ sung, làm
phong phú kiến thức c bản trình bày trong sách giáo khoa. Bản đồ lịch sử là một nguồn
cung cấp kiến thức mới, ôn tập, phát triển t duy, khả năng hoạt động độc lập của học
sinh. Đồng thời việc sử dụng bản đố lịch sử cũng tránh đựơc sự "quá tải", "nhồi nhét"
kiến thức cho học sinh . Vậy bản đồ giáo khoa lịch sử phải thể hiện những nội dung
kiến thức sau
Trớc hết, đó là những t liệu về những điều kiện tự nhiên của đời sống của xã
hội, nhất là những tài liệu về địa lí có liên quan đến sự kiện lịch sử đang học nh : núi,
sông, đờng biên giới, địa hình Điều này rất
cần cho việc học lịch sử các quốc gia cổ đại
(lớp 6 ) và diễn biến các trận đánh. Trình bày,
tìm hiểu diễn biến các trận đánh mà không nắm
vững địa hình thì không thấy đợc tài nghệ trí
thông minh của cha ông, của các dân tộc bị áp
bức, bị xâm lợc trong việc sử dụng điều kiện tự
nhiên, để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình.
Ví dụ lợc đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938 ( lớp 6 ) sẽ thấy đợc điều này.
Thứ hai, đó là những hoạt động trong đời sống của con ngời nh các điểm dân c,
các lãnh thổ, quốc gia, những cơ sở sản xuất ( nông nghiệp, công nghiệp, thơng
8
nghiệp, văn hoá Đây là nội dung thể hiện tính toàn diện của lịch sử xã hội trên mọi
mặt của đời sống xã hội.
Việc xác định các biên giới, quốc gia, các lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng bậc

Dựa vào những quy ớc trên ta
cũng có thể tự vẽ một lợc đồ nào đó nếu
đồ dùng đó cha có hay nhiều loại bản
đố mà ta cần. Tuy nhiên, chữ viết trên
bản đồ cần rõ ràng, đẹp để học sinh quan sát, việc thể hiện nội dung, hình thức trên
bản đồ phải tuân theo qui tắc chung, bảo đảm tính tính khoa học, tính t tơng, tính s
phạm.
2- Kĩ năng xây dựng bản đồ lịch sử:
Xây một bản đồ lịch sử dùng để giảng dạy cần căn cứ vào yêu cầu nội dung tài
liệu bản đồ lịch sử, các sách giáo khoa lịch sử ( kể cả sách giáo khoa, át lát lịch sử của
nớc ngoài) và các sách báo lịch sử khác .
3.Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử:
a. Sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử .
Khi đã xây dựng đợc bản đồ, việc sử dụng bản đồ nh thế nào trong dạy học lịch sử
cung là yếu tố hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học. Muốn sử dụng có
hiệu quả yêu cầu ngời giáo viên phải tuân theo quy trình sau:
- Xác định mục đích của việc làm .
- Hiểu rõ những kiến thức lịch sử, địa lí đợc thể hiện trên bản đồ : Tên bản đồ, đọc
bản chú giải trên bản đồ để biết kí hiệu qui ớc, kí hiệu biểu tởng địa lí, lịch sử biểu t-
ợng trên bản đồ
- Cách tiến
hành bài giảng
khi sử dụng bản
đồ lịch sử ( Chú
ý cách treo, cách
chỉ bản đồ)
10
Khi treo bản đồ không nên treo ở giữa bảng đen, vì bảng còn dùng để viêt, phải treo ở
chỗ cao ở góc bên phải bảng, nơi có đủ ánh sáng cho tất cả học sinh nhìn thấy rõ. Giáo
viên phải đứng bên phải bản đồ, dùng bút chỉ bản đồ ( hay là một cái dâu ăng ten của

Tiến hành thực hành nhiều lần với bản đồ.
4. Phơng pháp sử dụng lợc đồ cụ thể trong bài
a. Chuẩn bị lợc đồ.
Bài này là tiết 36, 37 học kì II thuộc nội dung chơng trình lịch sử lớp 9. Giáo viên
chuẩn bị 2 lợc đồ ( lợc đồ Điện Biên
Phủ là lợc đồ "câm)
- Lợc đồ chiến trờng Đông Dơng
( trên đất liền) (1953-1954) để học sinh
nắm đợc vị trí của Điện Biên Phủ, từ đó
học sinh sẽ hình dung đợc trong đầu
đây là một tập đoàn cứ điểm bị cô lập
sau các cuộc tấn công của ta ( cuối
1953 đầu nă 1954). Lợc đồ này dùng
cho phần 1.
- Thứ hai là lợc đồ các đợt tiến
công của quân ta vào " Điện Biên Phủ".
Lợc đồ nỳ dùng cho cả phần 1 và phần
2 .
b. Cách vẽ các kí hiệu trên bản đồ, lợc đồ.
Với lợc đồ: các đợt tiến công của quân ta vào Điện Biên Phủ cần kí hiệu nh sau:
- Cần vẽ đợc ba phân khu:
+ Phân khu Bắc : Vẽ đợc các cứ điểm của địch ở đồi Him Lam, Độc lập và Bản
Kéo bằng chấm đen ( ) và Bản ( ).
+ Phân khu trung tâm Mờng Thanh : Vẽ các kí hiệu sau: chỉ huy địch ; () cứ
điểm địch
( ): Trờng bay ; các đồi A1, C1, D1
12
+ Phân khu Nam: Vẽ ( ) sân bay Hồng Cúm, () cứ điểm địch
Ngoài ra còn vẽ : vòng vây sau đợt 1 ( đờng đứt đoạn tô mầu hồng nhạt); vòng vây sau
đợt 2( là đờng liền và tô mầu hồng đậm hơn) ; ngoài ra vẽ hàng rào dây thép gai quanh

ngừng đợc nâng cao lên rõ rệt.
6. Bài học kinh nghiệm.
Dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng yêu cầu ngời giáo viên phải biết linh
hoạt sử dụng đồ dùng trực quan đặc biệt là lợc đồ thì mới giúp cho học sinh khắc sâu
kiến thức một cách chủ động. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng cần phải sử dung lợc
đồ và bản đồ. Nếu sử dụng không đúng cách, không đúng chỗ sẽ làm giảm chất lợng
bài giảng. Do đó yêu cầu ngời giáo viên phải có nghệ thuật s phạm khi sử dụng đồ
dùng trực quan. Biết vẽ và hớng dẫn học sinh vẽ "đọc" đợc các lợc đồ và bản đồ và
hiểu nó một cách sâu sắc. Từ đó biết phân tích, nhận xét, đánh giá sự kiện lịch sử.
Biết vận dụng vào từng bài cụ thể, khéo léo vận dụng và đặc biệt là phải biết trẻ
nhỏ các sự kiện quan trọng, cụ thể để xây dựng các lợc đồ nhỏ cho từng phần nhỏ .
Phần iii: Kết luận chung
Bộ môn lịch sử đã đợc xác định từ lí luận cũng nh thực tiễn vai trò, ý nghĩa của
nó trong giáo dục thế hệ trẻ. Nhân dân ta đã có nhiều kinh nghiệm, quý giá trong việc
giáo dục truyền thống dân tộc.Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, nhà nớc ta trên cơ sở coi
trọng giáo dục truyền thống dân tộc cho thanh thiếu niên học sinh đã chú ý nhiều đến
dạy học các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn trong đó có bộ môn Lịch sử
Do vậy, trong những năm gần đây việc giáo dục lịch sử đã có nhiều tiến bộ , điều
đó đợc thể hiện trong nhận thức của học sinh qua các kỳ thi.
Tuy nhiên kết quả giáo dục lịch sử cũng còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề cần đề
cập đến. Điều này phụ thuộc nhiều vào đIều kiện khách quan chủ quan nh những tác
14
động của cơ chế thị trờng, sự thiếu sót trong chơng trình, sách giáo khoa, sự quản lí,
chỉ đạo bộ môn. Trong đó nổi lên là vấn đề đổi mới phơng pháp trong dạy học lịch sử.
Việc đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử đòi hỏi phải tiến hành trên nhiều cơ sở
khoa học, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm và cải tiến cho phù hợp với yêu cầu,
nội dung dạy học hiện nay.
Với trách nhiệm của một ngời giáo viên lịch sử , thiết nghĩ mỗi giáo viên lịch sử
hãy làm cho mình và hiểu rõ sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ, nội dung, đặc trng của
lao động giảng dạy lịch sử. Trong thời đại hiện nay đòi hỏi ngời giáo viên lịch sử cần

những thiếu sót , vậy rất mong nhận đợc sự đóng góp của các đồng nghiệp.
Hng Nhân, ngày 03 tháng 02 năm 2009.
Ngời viết
Ngô
Gia Nghì
CNG HềA X HI CH NGHA VIT NAM
c lp T do Hnh phỳc
BN CAM KT
I. TC GI:
16
H v tờn: Ngụ Gia Nghỡ
Ngy, thỏng, nm sinh: 06/07/1981
n v : THCS Hng Nhõn
in thoi: 031.3984.191 Di ng: 093.4425442
E-mail: [email protected]
II. SN PHM:
Tờn sn phm:Cách xây dựng và sử dụng bản đồ trong dạy học môn Lịch sử.
III. CAM KT
Tụi xin cam kt sỏng kin kinh nghim ny l sn phm ca cỏ nhõn tụi. Nu cú xy ra
tranh chp v quyn s hu i vi mt phn hay ton b sn phm sỏng kin kinh nghim, tụi
hon ton chu trỏch nhim trc lónh o n v, lónh o S GD&T v tớnh trung thc ca
bn Cam kt ny.
Hng Nhõn, ngy 03 thỏng 02 nm 2009
Ngi cam kt
(Ký, ghi rừ h tờn)

Ngô Gia Nghì
Danh sách các tên sáng kiến kinh nghiệm
TT Tên SKKN Thể loại Năm viết
Xếp loại

1 I. Đặt vấn đề 2-3
2 II. Nội dung 4-14
1.Cơ sở lí luận 4
2. Thực trạng 4-8
3. Gợi ý cách sử dụng bản đồ 8-12
4. Phơng pháp sử dụng cụ thể 12-14
5. Kết quả, bài học kinh nghiệm 14
3 III. Kết luận 15-16
4 Bản cam kết 17
5 Danh sách các sáng kiến kinh nghiệm 18
6 Mục lục 19
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status