Nghiên cứu và đánh giá mức độ đáp ứng về thái độ nghề nghiệp của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển - Pdf 22



5
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CÁM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 01
1. Lý do chọn đề tài 01
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 02
3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 03
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 03
4.1. Câu hỏi nghiên cứu 03
4.2. Giả thiết nghiên cứu 03
4.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 04
4.4. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 09
CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 11
1.2. Cơ sở lý luận thuộc về đề tài 18
CHƢƠNG II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng thể và mẫu nghiên cứu 25
2.2. Tiến trình nghiên cứu 26
2.3. Xây dựng công cụ đo lƣờng 28
2.4. Kiểm tra độ tin cậy, tính hiệu lực của công cụ đo lƣờng 30
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Một số thông tin về khách thể nghiên cứu 35
3.2. Phân tích kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ đáp ứng về kiến

7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Ký hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Số liệu thống kê số sinh viên ngành Điều khiển tàu biển
25
Bảng 2.2
Số liệu thống kê số sinh viên ngành Máy tàu biển
26
Bảng 2.3
Thống kê số lượng cựu sinh viên được điều tra thử nghiệm
30
Bảng 2.4
Hệ số độ tin cậy Alpha của các tiểu thang đo/thang đo điều
tra thử nghiệm
31
Bảng 2.5
Thống kê số lượng cựu sinh viên được điều tra chính thức
32
Bảng 2.6
Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng
về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành ĐKTB

Bảng 3.7
Mức độ đáp ứng về mặt Tần suất kiến thứccủa cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
43
Bảng 3.8
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thứcgiữa
sinh viên ĐKTB thuộc 2 hệ đào tạo
44
Bảng 3.9
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
sinh viên MTB thuộc 2 hệ đào tạo
45
Bảng 3.10
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
sinh viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành ĐKTB
46
Bảng 3.11
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
sinh viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành MTB
47
Bảng 3.12
Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, tần suất sử dụng
48 8
Ký hiệu
Tên bảng
Trang
kiến thức chuyên môn của các item (ĐKTB)

2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
57
Bảng 3.21.
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kỹ năng giữa sinh
viên ĐKTB thuộc 2 hệ đào tạo
58
Bảng 3.22
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kỹ năng giữa sinh
viên MTB thuộc 2 hệ đào tạo
59
Bảng 3.23
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kỹ nănggiữa sinh
viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành ĐKTB
60
Bảng 3.24
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
sinh viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành MTB
61
Bảng 3.25
Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, thành thạo Kỹ năng
chuyên môn của các item (ĐKTB)
62
Bảng 3.26
Giá trị trung bình về mức độ Hữu ích và tần suất sử dụng
kiến thức chuyên môn của các item (ĐKTB)
63
Bảng 3.28
Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, thành thạo Kỹ năng
chuyên môn của các item (MTB)
66

Biểu đồ 3.3
Đồ thị phân tán số liệu giữa 2 mức độ đáp ứng về kiến thức và
mức độ đáp ứng về kỹ năng của sinh viên ngành MTB
69

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nội dung
Viết tắt
Bộ Giáo dục và đào tạo
Bộ GD&ĐT
Bộ Giao thông vận tải
Bộ GTVT
Trường Đại học Hàng hải
ĐHHH
Sinh viên
SV
Điều khiển tàu biển
ĐKTB
Máy tàu biển
MTB
Cán bộ quản lý
CBQL
Điểm trung bình
ĐTB
Độ lệch chuẩn
SD
Tổ chức hàng hải quốc tế
IMO
Đại học
ĐH

người trở thành nhân tố quyết định cho sự phát triển chung đó. Đối với các nước
đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, với quan điểm lấy con người làm
trung tâm, các chiến lược phát triển đều hướng vào phát triển nguồn nhân lực ở
những khía cạnh chủ chốt về giáo dục và đào tạo, thể chất, chăm sóc sức khỏe. Đầu
tư cho con người luôn là dạng đầu tư an toàn nhất và có hiệu quả nhất. Tháng
3/2007, hội nghị trung ương lần thứ 4 đã khẳng định Chiến lược biển Việt Nam với
định hướng: Kinh tế biển (trong đó có ngành Hàng hải ) sẽ đem về cho đất nước
53,55% GDP. Chiến lược trên đặt ra cho ngành Hàng hải phải vươn lên mạnh mẽ về
mọi mặt. Quyết định của Thủ tướng đề cập đến nhiều biện pháp, trong đó nhấn
mạnh: phải tăng cường phát triển nguồn nhân lực theo hướng nâng cao chất lượng 2
đội ngũ cán bộ quản lý, sỹ quan thuyền viên để nâng cao hiệu quả quản lý, kinh
doanh, mở rộng hoạt động dịch vụ hàng hải và xuất khẩu thuyền viên.
Những năm gần đây, ngành Hàng hải Việt Nam phát triển rất mạnh, đội tàu
trong nước và thế giới tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng sỹ quan và
thuyền viên. Hơn nữa, các quy định về an toàn và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
của các điều khoản trong các quy định của Công ước quốc tế ngày một nghiêm
ngặt, đòi hỏi chủ tàu phải đổi mới trang thiết bị phù hợp và buộc phải liên tục cập
nhật, bổ sung kiến thức cho thuyền viên.
Lao động hàng hải thuộc nhóm đặc thù, công việc phức tạp do môi trường làm
việc chịu ảnh hưởng sóng, gió, bão tố và mức độ rủi ro cao, đòi hỏi thuyền viên phải
có sức khỏe tốt, ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, ý thức làm việc, lao động cao, trình
độ kỹ thuật, nghiệp vụ, chuyên môn vững vàng và tinh thông ngoại ngữ. Tuy vậy,
thực trạng nhân lực ngành hàng hải nói chung vẫn trong tình trạng yếu và thiếu.
Trong năm 2010, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đang triển khai kiểm tra việc
thực hiện các công ước quốc tế quy định về vấn đề đào tạo thuyền viên, việc cấp các
chứng chỉ có liên quan cho thuyền viên tại các cơ sở đào tạo có đáp ứng các yêu cầu
đề ra trong công ước quốc tế không? Như vậy, việc nâng cao chất lượng công tác

+ Các mức độ về kiến thức của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu
biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp ứng ở
mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
+ Các mức độ về kỹ năng của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu
biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp ứng ở
mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
+ Các mức độ về thái độ nghề nghiệp của sinh viên chính quy 2 ngành Điều
khiển tàu biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp
ứng ở mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu:
+ Các kiến thức mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển tàu biển
và Máy tàu biển được đào tạo trong Nhà trường đáp ứng tương đối khá tốt những yêu
cầu công việc trên biển.
+ Các kỹ năng mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển tàu
biển và Máy tàu biển được luyện tập trong Nhà trường đáp ứng tốt những yêu cầu
công việc trên biển. 4
+ Thái độ nghề nghiệp mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển
tàu biển và Máy tàu biển được rèn luyện trong Nhà trường đáp ứng tốt những yêu
cầu công việc trên biển.
4.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.3.1. Đối tượng nghiên cứu,
Đối tượng nghiên cứu là các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ
nghề nghiệp của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển
đã được đào tạo và huấn luyện trong Trường Đại học Hàng hải đáp ứng được những
yêu cầu công việc trên biển.
4.3.2. Khách thể nghiên cứu:
+ Sinh viên hệ chính quy đã tốt nghiệp ra trường từ 3 năm trở lại đây (khóa

thường; có độ chính xác cao, đồng thời quản lý và sử dụng hợp lý vật tư, trang thiết
bị được cấp;
 Thường xuyên kiểm tra chất lượng các bình chữa cháy, tổ chức quản lý và
thay thế các chất trong bình khi hết hạn sử dụng; quản lý tốt các dụng cụ, trang bị
phòng chống cháy, đảm bảo cho các trang thiết bị đó luôn ở vị trí quy định và sẵn
sàng hoạt động;
 Giúp đại phó theo dõi việc giao nhận và bốc dỡ hàng hóa theo đúng sơ đồ
đã được thuyền trưởng duyệt;
 Khi có điều động ra tàu, vào cảng phải có mặt ở phía lái tàu hoặc vị trí do
thuyền trưởng chị định để chỉ huy thực hiện lệnh của thuyền trưởng; trường hợp cần thiết
theo sự phân công của thuyền trưởng, đảm nhiệm một số nhiệm vụ của đại phó;
 Ít nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng, phải báo cáo đại phó về các công việc
chuẩn bị của mình cho chuyến đi;
 Đảm nhiệm các công việc của phó ba nếu trên tàu không bố trí chức danh
này trừ nhiệm vụ trực ca do thuyền trưởng đảm nhiệm;
 Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập phó hai;
 Đảm nhiệm ca trực từ 00 giờ đến 04 giờ và từ 12 giờ đến 16 giờ hàng ngày
 Thực hiện các nhiệm vụ khác do thuyền trưởng phân công,
+ Phó ba: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền trưởng khi tàu
hành trình và của đại phó khi tàu không hành trình, có nhiệm vụ sau đây:
 Trực tiếp phụ trách và tổ chức bảo quản, bảo dưỡng các phương tiện cứu
sinh như xuồng cứu sinh, phao tự thổi; phao tròn, áo phao cá nhân và phải đảm bảo
các dụng cụ, thiết bị này luôn ở trạng thái sẵn sàng sử dụng an toàn, thuận lợi khi có
tình huống khẩn cấp xảy ra; 6
 Thường xuyên kiểm tra các trang thiết bị trên xuồng cứu sinh, lập kế
hoạch và định kỳ tiến hành thay thế, bổ sung các dụng cụ, nước ngọt, lương khô,
thuốc cấp cứu sau khi đã được thuyền trưởng phê duyệt;

công việc dưới nước theo sự phân công của đại phó hoặc thủy thủ trưởng phải đảm
bảo an toàn và hoàn thành nhiệm vụ được giao,
+ Máy ba: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của máy trưởng, có nhiệm
vụ sau đây:
 Trực tiếp quản lý và khai thác máy phát điện, máy nén gió độc lập, máy
lọc dầu đốt, bơm dầu đốt, thiết bị hâm nóng nhiên liệu và thiết bị khác, Trên các tàu
máy hơi nước, máy ba phụ trách đốt lò, nồi hơi và các máy móc, thiết bị thuộc lò và
nồi hơi; trực tiếp điều hành công việc của thợ lò, nếu trên tàu không bố trí trức danh
trưởng lò;
 Tổ chức tiếp nhận, bảo quản, phân phối điều chỉnh tính toán nhiêu liệu cho tàu;
 Lập và trình máy trưởng kế hoạch sửa chữa, bảo quản đối với các máy
móc, thiết bị do mình quản lý và tổ chức triển khai việc sửa chữa theo kế hoạch đã
được phê duyệt
 Lập dự trù vật tư kỹ thuật cho máy móc, thiết bị thuộc mình quản lý và tổ
chức quản lý, sử dụng vật tư kỹ thuật theo quy định hiện hành;
 Theo dõi ghi chép các thông số kỹ thuật và quản lý các hồ sơ, tài liệu của
máy móc thiết bị do mình phụ trách;
 Khai thác công suất máy đạt hiệu quả kinh tế cao và bảo đảm tình trạng kỹ
thuật, chế độ hoạt động của các máy móc, thiết bị theo đúng quy trình, quy phạm
hiện hành
 Chậm nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng phải báo cáo máy trưởng biết việc
chuẩn bị của mình cho chuyến đi;
 Đảm nhiệm nhiệm vụ của máy tư nếu trên tàu không bố trí chức danh máy
tư, trừ nhiệm vụ trực ca do máy trưởng đảm nhiệm;
 Hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn thực tập cho máy ba
 Trực ca từ 00 giờ đến 04 giờ và từ 12 giờ đến 16 giờ hàng ngày;
 Đảm nhiệm các công việc khác do máy trưởng phân công
+ Máy tƣ: chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của máy trưởng, có nhiệm vụ sau:
 Trực tiếp quản lý và khai thác hệ thống đường ống, hệ thống nước dằn, hệ
thống ống thông gió buồng máy, hệ thống nước sinh hoạt và vệ sinh, nồi hơi phụ,

 Thực hiện các công việc bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị, vệ
sinh buồng máy, nơi làm việc, tiếp nhận phụ tùng, vật tư theo sự phân công của máy hai,
 Sử dụng máy móc, thiết bị cứu hỏa, cứu sinh, phòng độc, chống nóng, chống
khói, lọc nước biển, dầu mỡ, phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy trình quy phạm, 9
4.4. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu:
4.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Nghiên cứu Bộ luật về các tiêu chuẩn Huấn luyện cấp bằng đi ca cho thuyền viên
trong Công ước quốc tế STCW của tổ chức Hàng hải Quốc tế 1996: Bảng A-II/1: Quy
định về tiêu chuẩn năng lực tối thiểu đối với sỹ quan boong trực ca biển trên tàu 500 T
đăng ký toàn phần hoặc lớn hơn; Bảng A-II/3: Quy định về tiêu chuẩn năng lực tối thiểu
đối với sỹ quan boong trực ca biển và đối với thuyền trưởng trên tàu nhỏ hơn 500 T đăng
ký toàn phần, đảm nhận hành trình gần bờ; Bảng A-II/4: Quy định tiêu chuẩn năng lực
tối thiểu cho thủy thủ là thành viên của một ca trực biển; Bảng A-III/1: Quy định về tiêu
chuẩn năng lực tối thiểu cho sĩ quan máy trực ca trong máy có người điều khiển hoặc
phân công làm nhiệm vụ sỹ quan máy trong một buồng máy không có người điều khiển
theo chu kỳ; Bảng A-III/4: Quy định tiêu chuẩn năng lực tối thiểu đối với thợ máy là
thành viên của ca trực máy.
- Nghiên cứu Mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra cho sinh viên 2 ngành ĐKTB và MTB.
- Nghiên cứu các văn bản của quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến
công tác giáo dục đại học: Luật giáo dục; Chuẩn nghề nghiệp
- Nghiên cứu Bộ công ước quốc tế STCW về tiêu chuẩn thuyền viên; Luật Hàng
hải dành cho sinh viên ngành Điều khiển tàu biển và sinh viên ngành Máy tàu biển.
- Nghiên cứu chương trình khung, mục tiêu đào tạo, số liệu về đội ngũ cán bộ,
giảng viên, sinh viên, thuyền viên có liên quan chất lượng đầu ra của sinh viên 02
ngành đi biển của Trường Đại học Hàng hải.
4.4.2. Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp điều tra khảo sát.
11
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc :
1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước:
+ Trong các hội thảo do Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đề cập nhiều tới mối
quan hệ giữa đào tạo và việc sử dụng nguồn nhân lực, Tại hội thảo quốc gia “Đào
tạo theo nhu cầu xã hội” tổ chức năm 2005, 2007 hay “Đổi mới quản lý hệ thống
giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2020” của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
năm 2010 đã cho thấy vấn đề đáp ứng công việc của sinh viên sau khi ra trường.
Các nghiên cứu được trình bày trong các hội thảo tập trung chủ yếu về: Khả năng
đáp ứng thị trường lao động của nguồn nhân lực hiện có về số lượng và cơ cấu; Cơ
chế và giải pháp rút ngắn khoảng cách giữa chương trình đào tạo và nhu cầu sử
dụng nhân lực thực tế [15, tr 21]. Các nhà nghiên cứu và các trường đại học tham
gia hội thảo đã trình bày những đánh giá chất lượng giáo dục đại học thông qua
nhãn quan của họ và không nghiên cứu đề cập đến quan điểm đánh giá của các nhà

GS.TS Nguyễn Hữu Châu [9].
Đối với các ngành đi biển của Hàng hải việc cung ứng nguồn nhân lực của
không nằm ngoài quy luật chung so với các ngành nghề khác, có một số bài báo khoa
học, các công trình nghiên cứu cũng nêu bật được một số nội dung về tình hình đáp
ứng nguồn nhân lực đi biển, phương hướng và giải pháp cho các giai đoạn tiếp theo:
+ Trong bài viết của Ngô Lực Tài – Phó chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Biển
Tp HCM „„Xuất khẩu thuyền viên có phải là một thế mạnh của ngành Hàng hải Việt
Nam ?‟‟ – tạp chí số 9/2009 - Biển Việt Nam, nhấn mạnh, trong khi đó nền kinh tế
thế giới đang sử dụng nhiều lao động đa quốc tịch mà nguồn lao động do nhiều
nước tham gia đào tạo, huấn luyện dựa theo những tiêu chuẩn của công ước quốc tế
về hàng hải và lao động được thế giới thừa nhận. Đội tàu biển thế giới sử dụng mỗi
năm từ 1 triệu đến 1,1 triệu thuyền viên trong đó 38%-40% được cung cấp từ các
quốc gia công nghiệp phát triển (OECD), phần lớn là sỹ quan có trình độ Đại học,
có kiến thức chuyên môn cao, giỏi Anh ngữ, được đào tạo bài bản để đáp ứng nhu
cầu hiện đại hóa và chuyên môn hóa đội tàu biển. Còn lại đến 60% là thủy thủ, thợ
máy, phục vụ viên đến từ cá quốc gia châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh. Lực lượng
trên được huấn luyện, đào tạo theo mô hình “thực hành”. Họ có sức khỏe tốt, thông
thạo nghiệp vụ đi biển và ngoại ngữ chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật cao, khả
năng thích nghi với điều kiện làm việc và hội nhập cộng đồng nhanh chóng [10]. 13
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với
sử dụng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS.TS Nguyễn Văn Nam cũng
đã chỉ rõ vấn đề: Từ trước đến nay ai cũng nghĩ rằng ưu thế của Việt Nam trong hội
nhập thế giới chính là lực lượng lao động trẻ, dồi dào. Cả nước có hơn 53 triệu
người ở độ tuổi lao động (chiếm 63% dân số) thì chỉ mới có 27% được đào tạo nghề
đạt chất lượng quốc tế, còn lại 73% đào tạo chưa đến nơi đến chốn hoặc không có
nghề nghiệp, nhất là vùng nông thôn. Đây chính là điểm yếu của Việt Nam mặc dù

Hiện tại, Philippins có một hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải bao gồm 50
cơ sở trong đó có 01 học viên hàng hải do Nhà nước quản lý, còn lại là các trường
và trung tâm huấn luyện dưới hình thức tư nhân, liên doanh, liên kết hoặc do các
công ty vận tải biển nước ngoài lập tại Philippins.
Trong khu vực Đông Nam Á, ngoài Philippins thì Indonesia cũng là một trong
những nước có số thuyền viên xuất khẩu lớn. Theo báo cáo Quốc gia của Indonesia
tháng 12/2010 tổng số thuyền viên được xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài
là khoảng 143,000 người. Hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải của Indonesia được
nhà nước rất quan tâm, Chính phủ Indonesia đã vay chính phủ Mỹ trên 100 triệu
USD bằng nguồn vốn phát triển chính thức để nâng cấp một số cơ sở đào tạo huấn
luyện hàng hải do Nhà nước quản lý. Cũng tương tự như Philippins, Indonesia đã
đưa vào ban hành hệ thống quản lý đăng ký thuyền viên qua mạng máy tính liên
thông với các cơ quan chức năng có liên quan, Nước này cũng ban hành những
chính sách giảm thuế thu nhập cho thuyền viên xuất khẩu.
Hay một đất nước gần ta nhất là Trung Quốc, đây là đất nước có đội tàu biển
lớn nhất thế giới với tổng tấn trọng trên 70 triệu DWT. Số lượng thuyền viên của họ
là 1,2 triệu người (khoảng 400,000 người làm việc trên các con tàu viễn dương).
Trung Quốc có 5 trường hàng hải đào tạo sỹ quan bậc đại học, Để có được đội ngũ
sỹ quan thuyền viên và đội tàu vào bậc nhất thế giới thì việc đào tạo, huấn luyện
con người của Trung quốc cũng khá đặc trưng như :
 Thay đổi tư duy về đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo. Theo họ thì dạy
không đơn thuần là cung cấp kiến thức cho sinh viên, mà còn phải dạy sinh viên
cách học, Giáo viên tích cực khuyến khích sinh viên hoạt động sáng tạo, Triết lý về
đạo tạo hàng hải của Trung Quốc là “Thể lực tốt là điều kiện đầu tiên, nghiệp vụ tốt
là then chốt và tâm lý tốt là sự đảm bảo”. Vậy nên bên cạnh nhiệm vụ đào tạo tốt
nghiệp vụ cho sinh viên, còn phải nâng cao chất lượng đào tạo tâm lý cho các sỹ
quan thuyền viên. 15

mang tính toàn cầu, với điều kiện phải đạt được mục tiêu về an toàn, sử dụng năng 16
lượng một cách tinh tế và bảo vệ môi trường; chú trọng đào tạo về công nghệ của
các phần mềm, phần cứng có liên quan đến vận tải biển”. Bên cạnh đó, đào tạo
theo tín chỉ bắt đầu được ứng dụng.
- Khái niệm Hệ thống phối kết hợp với tàu trong đào tạo hàng hải, Mấu chốt
của khái niệm này là “tàu” tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo hàng hải ở
Nhật. Hay nói cách khác đó chính là các công ty có trách nhiệm tham gia sâu vào
quá trình đào tạo hàng hải, cụ thể là tham gia vào xây dựng chương trình đào tạo
huấn luyện, tài trợ kinh phí đào tạo cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tai nạn và
khuyến khích nghiên cứu các vấn đề khoa học mà các công ty quan tâm.
*) Hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải :
- Nhiệm vụ mới : các cơ sở đào tạo hàng hải phải đảm bảo được 5 vấn đề cơ bản :
+ Đào tạo sáng tạo.
+ Đào tạo có chất lượng.
+ Ứng dụng phương pháp giảng dạy mới.
+ Tạo cho sinh viên trở thành con người quốc tế.
+ Áp dụng hệ thống đào tạo kết hợp với tàu.
*) Mục tiêu huấn luyện : Phải đảm bảo cho người học có khả năng thực hiện
công việc tốt nhất cho dù họ làm việc ở đâu, Vậy mục tiêu của huấn luyện là :
+ Biết đạt được mục tiêu.
+ Biết giải quyết các vấn đề.
+ Biết tìm công việc và tự giải quyết công việc.
*) Chương trình đào tạo hàng hải :
+ Ý tưởng cơ bản để thiết kế chương trình đào tạo hàng hải ở Nhật là: thời
gian đào tạo 4 năm; nội dung chính là chương trình bao gồm các vấn đề vận hành,
khai thác tàu và quản lý tàu. Các lĩnh vực cần phải dạy sinh viên bao gồm cấu trúc
tàu, bảo hiểm, tiền tệ, năng lượng, điện tử, máy móc, bảo quản hàng hóa kho bãi,

different approaches to evaluation of learning outcome in the Nordic countries
G,Gallavara, 2008, Cuốn sách trình bày những kinh nghiệm cụ thể của việc đánh
giá kết quả học tập được thực hiện tại các quốc gia này. Đó là các kinh nghiệm về:
sử dụng khảo sát và phỏng vấn sinh viên tốt nghiệp; sử dụng khảo sát và phỏng vấn
người tuyển dụng nhằm khai thác mức độ đạt các mục tiêu giáo dục. Từ đó, các tác
giả còn đưa ra kiến nghị về việc áp dụng đánh giá kết quả học tập trong tương lai
như sử dụng trong kiểm toán chất lượng giáo dục. 18
+ Cuộc khảo sát của tạp chí Update (Nhật Bản) thực hiện năm 1996, khảo
sát của Việt Giáo dục Hàn Quốc (KEIDI) thực hiện năm 2003, khảo sát của Viện
Quản lý Đào tạo nhân lực (NIAM) của Hà Lan đối với các doanh ngiệp sử dụng lao
động. Nội dung của cuộc khảo sát là tìm ra các tiêu chí mà các doanh nghiệp đánh
giá cao ở người lao động trong quá trình tuyển dụng.
+ Năm 1990, B.P Allen (Mỹ) đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của sinh
viên thông qua hệ thống tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường đại học,
Theo tác giả này, điều kiện cơ bản của sự đáp ứng công việc của sinh viên được
phân các nhóm kỹ năng: Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân; Kỹ năng hình
thành các hành động học tập và các phẩm chất khác; Kỹ năng làm chủ các cảm xúc
tiêu cực; Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính
chất nghề nghiệp; Theo cách hiểu này, sự đáp ứng nghề nghiệp của sinh viên được
giải thích chủ yếu do sinh viên có một số kỹ năng nào đó mà ít chú ý đến khía cạnh
tổ chức trong hệ thống giáo dục của trường Đại học.
1. 2. Cơ sở lý luận thuộc về đề tài:
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản :
+ Đánh giá: là căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định đánh giá năng lực
và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết
định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo, Đánh giá có thể là định lượng
dựa vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị [01].

Mức độ đáp ứng khá tốt : So với việc đào tạo khi còn học trong trường,
khả năng đáp ứng công việc của sinh viên ở mức độ này là hoàn thành tốt các công
việc được giao khi làm việc trên tàu.
Mức độ đáp ứng tốt: việc ứng dụng khối lượng kiến thức, kỹ năng, thái
độ khi được đào tạo trong trường đã giúp sinh viên hoàn thành các công việc được
giao khi làm việc trên tàu.
Mức độ đáp ứng không tốt, trung bình: So với việc được đào tạo trong
trường, khả năng chuyên môn, nghiệp vụ mà sinh viên áp dụng vào các công việc
trên tàu chỉ đáp ứng được một phần công việc được giao.
Mức độ đáp ứng không hoàn toàn tốt: So với việc được đào tạo trong
trường, sinh viên không đáp ứng được công việc chuyên môn trên tàu.
+ Thuyền bộ: là những thuyền viên (thành viên) thuộc định biên của tàu biển,
bao gồm thuyền trưởng, các sĩ quan và các chức danh khác được bố trí làm việc trên
tàu biển [18, tr 9]. 20
 Môi trường làm việc trên biển: bao gồm các hoạt động diễn ra trên biển.
Các thuyền viên làm việc độc lập trên biển sẽ chịu tác động lớn về sự ổn định của
tàu do điều kiện thời tiết (sóng, gió, bão, thủy triều, mớn nước,…), ngoài khả năng
về chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ thuyền viên còn phải học cách thích nghi với các
tình huống khẩn cấp xảy ra như : phòng cháy chữa cháy, tìm kiếm cứu nạn, y tế,
vấn đề ô nhiễm trên biển ; khả năng ứng phó với điều kiện thời tiết khí hậu xấu,
diễn biến phức tạp [18, tr 10].
1.2.2. Mô hình lý thuyết được sử dụng trong đề tài :
*) Mô hình của Benjamin Bloom (1956):
Đã phân biệt ba khía cạnh của hoạt động giáo dục, bao gồm: Cung cấp nhận
thức: các kỹ năng trí tuệ (Kiến thức); Tác động thái độ: sự phát triển trong các lĩnh
vực tình cảm hoặc cảm xúc (Thái độ); Hình thành kỹ năng: các kỹ năng thuộc về
chân tay hay thể chất (Kỹ năng), Các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng, thái độ này cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status