VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỖ HIỆP
HÁT ĐÚM CỦA NGƯỜI VIỆT
Ở BẮC BỘ
Chuyên ngành Văn hóa dân gian
Mã số: 62 31 70 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2013
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Hồng Lý
PGS.TS. Lê Văn Toàn
Phản biện 1: PGS.TS. Phạm Tú Hương
Phản biện 2: PGS.TS. Trần Đức Ngôn
Phản biện 3: PGS.TS. Vũ Anh Tuấn
Luận án tiến sĩ sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học xã
hội, 477 Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân,
Hà Nội vào hồi… giờ… ngày… tháng… năm 2013
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Quốc gia
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hát Đúm là một loại hình dân ca đối đáp nam nữ phổ biến trong đời sống của người Việt ở vùng châu thổ
Bắc Bộ. Ngoài những yếu tố tương đồng với một số loại hình dân ca đối đáp nam nữ khác, nó còn có những nét
riêng biểu hiện ở phương thức diễn xướng, lối tiến hành âm điệu, thủ pháp phổ thơ, nội dung lời ca. Trong quá
trình phát triển, hát Đúm còn gắn với những phong tục văn hóa địa phương, góp phần làm phong phú thêm cho
đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trong xã hội cổ truyền.
Từ sau năm 1945 đến những thập kỉ 60, 70 của thế kỷ XX và thời điểm trước Đổi mới (1986), hát Đúm
đang tồn tại và biến đổi như thế nào? có những vấn đề gì đặt ra cho loại hình dân ca này trong đời sống văn hóa
xã hội đương đại?.
5. Phương pháp nghiên cứu
2
Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (âm nhạc học, văn hóa học)
- Phương pháp khảo sát thực địa (quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn, ghi chép)
- Phương pháp hồi cố và phục dựng
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu và tổng hợp.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án xác định không gian tồn tại trong quá khứ và hiện trạng của hát Đúm người Việt thông qua khảo
sát đối tượng ở những tiểu vùng văn hóa khác nhau như tiểu vùng đất Tổ trung du, tiểu vùng Kinh Bắc, tiểu
vùng Thăng Long, Hà Nội và tiểu vùng Hải Đông.
- Góp phần làm rõ diện mạo hát Đúm của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ biểu hiện qua khía cạnh nghệ
thuật, khía cạnh văn hóa và những yếu tố xã hội liên quan.
- Nêu bật ý nghĩa của hát Đúm trong xã hội cổ truyền (từ năm 1945 trở về trước).
- Từ thực tế khảo sát trên một địa bàn tiêu biểu, chỉ ra những biểu hiện phục hồi, biến đổi và xác định khả
năng tồn tại của hát Đúm trong xã hội đương đại.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hát Đúm và tình hình nghiên cứu hát Đúm của người Việt
Chương 2: Hát Đúm trong xã hội cổ truyền
Chương 3: Sự phục hồi, biến đổi và tồn tại của hát Đúm trong xã hội hiện đại.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HÁT ĐÚM VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
HÁT ĐÚM CỦA NGƯỜI VIỆT
1.1. Định nghĩa hát Đúm
Trong những tư liệu mà chúng tôi thu thập được, đã có một số tác giả đã nêu định nghĩa về hát Đúm. Nhìn
chung, các định nghĩa đều giải thích hát Đúm là một “lối hát” hay một “hình thức hát” đối đáp nam nữ có một
1.4.1.1. Giai đoạn cuối thế kỷ XX
Chỉ có 4 tư liệu về hát Đúm. Nổi bật là công trình Hát Đúm Hải Phòng của TS. Đinh Tiếp. Ngoài ra còn
một số bài viết khác nhưng mới chỉ đề cập hoặc giới thiệu sơ lược về hát Đúm.
1.4.1.2. Giai đoạn đầu thế kỷ XXI đến nay
5
Trong giai đoạn này, số lượng tư liệu đã tăng lên. Có tất cả 9 công trình, bài viết, phần viết về hát Đúm.
Chất lượng của các công trình cũng được nâng lên rõ rệt.
1.4.2. Đánhh giá tình hình nghiên cứu và hướng nghiên cứu trọng tâm của luận án
1.4.2.1. Những vấn đề đã được đề cập
a. Khía cạnh văn hóa
- Trong những công trình, bài viết, các tác giả đã giải nghĩa tên gọi “hát Đúm”. Trên cơ sở này có thể thấy
tên gọi “hát Đúm” xuất phát từ trò ném quả Đúm và hát giao duyên của các cô đào phường Xoan với trai làng
sở tại ở trung du. Bên cạnh đó, hát Đúm còn mang hàm nghĩa “hát Đám”, hoặc mang nghĩa “đàn đúm”.
- Trước khi bước vào nghiên cứu, một số tác giả đã nêu định nghĩa về hát Đúm.
- Một số tác giả đã nêu giả thuyết về nguồn gốc của hát Đúm.
- Vấn đề thực trạng của hát Đúm đã được một số tác giả đề cập
b. Khía cạnh nghệ thuật
Những tư liệu về hát Đúm chủ yếu tập trung vào hai phương diện: Âm nhạc và văn học.
- Về âm nhạc: Các tác giả đã nêu ra một số đặc điểm âm nhạc của hát Đúm (chủ yếu là hát Đúm ở
Thủy Nguyên, Hải Phòng).
- Về văn học: Các công trình đã phân tích nội dung văn học của lời ca hát Đúm ở một số địa phương như
Đồ Sơn, Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Hải Phòng.
1.4.2.2. Những đóng góp
Những tư liệu đã có một số đóng góp đáng ghi nhận như sau:
6
- Khảo tả khá chi tiết về hát Đúm ở trung du (Phú Thọ, Vĩnh Phúc) và một số địa phương thuộc thành phố
Hải Phòng như Đồ Sơn, Kiến Thụy, Thủy Nguyên
- Bước đầu đề cập đến khía cạnh nghệ thuật và khía cạnh văn hóa của hát Đúm ở một số địa phương.
- Khẳng định những giá trị văn hóa của hát Đúm cùng với những mặt hạn chế của nó.
- Cung cấp một số văn bản lời ca và bản kí âm hát Đúm.
đoạn kết. Trong mỗi giai đoạn lại được phân chia ra thành các chặng (loại hát) khác nhau. Ngoài ra, còn có trường
hợp khác biệt đó là hát Đúm ở trung du không theo một trình tự thông thường vì nó là một thành tố phụ thuộc vào
trình tự diễn xướng chung của hát Xoan - dân ca nghi lễ phong tục.
2.1.2. Phương thức đối lời
8
Đối lời là phương thức đối theo nội dung lời ca trên một làn điệu không thay đổi. Khi hát, người hát sử
dụng những lời ca tương ứng để đối lại, đáp lại lời ca mà người hát trước đưa ra.
Bên cạnh đối lời còn có đối ý. Đó là cách đối lại theo đúng chủ đề, đề tài mà bên đối phương (bạn hát) đặt
ra, tức là tương ứng về nội dung.
2.1.3. Cách hát
2.1.3.1. Hát thuần túy
Hát thuần túy là chỉ có hát, không có nhạc đệm hay kèm theo các động tác múa. Khi hát thường đối đáp
một nam với một nữ tức là đơn đối với đơn. Tập thể chỉ đứng vòng ngoài trợ giúp. Hát Đúm không có phương
thức hát đối đáp giữa hai nam với hai nữ như Quan họ hay đối đáp giữa tập thể với tập thể hoặc phương thức
xướng - xô (một người xướng, tập thể xô) như hò lao động
2.1.3.2. Hát kèm theo đạo cụ
Bên cạnh phương thức hát hát thuần túy, hát Đúm ở trung du còn sử dụng quả Đúm như một đạo cụ bắt
buộc. Quả Đúm được nam nữ sử dụng để tung đi, ném lại cho nhau trong quá trình diễn xướng.
2.1.4. Sử dụng làn điệu dân ca khác
Sử dụng làn điệu dân ca khác là cách mà người hát “ứng phó” “ứng đối” với bạn hát. Với phương thức này hát
Đúm có thể mở rộng trên phương diện nghệ thuật âm nhạc qua hình thức “vay mượn” những làn điệu dân ca khác.
2.2. Yếu tố nghệ thuật trong lời ca
2.2.1. Thể thơ và hệ thống niêm luật phổ biến
9
- Thể thơ phổ biến trong lời ca hát Đúm là thể lục bát và song thất lục bát. Niêm luật (nguyên tắc gieo vần và
hợp thanh) của các thể thơ là cơ sở để những chủ thể diễn xướng vận dụng và sáng tạo lời ca phục vụ cho mục đích
đối đáp.
- Bên cạnh những văn bản lời ca tuân theo niêm luật thơ truyền thống còn xuất hiện một số câu thơ không
tuân theo niêm luật. Hiện tượng phá cách này vẫn được chấp nhận đáp ứng nhu cầu mở rộng nội dung lời ca và
ứng đối nhanh nhạy của những chủ thể diễn xướng.
2.3.2. Ý nghĩa xã hội của lời ca
2.3.2.1. Tạo sự đồng cảm, đồng tình giữa người hát và người tham dự
Lời ca hát Đúm luôn gần gũi với đời sống tình cảm của con người trong xã hội cổ truyền nên nó luôn được
đông đảo thanh niên nam nữ hướng tới. Lời ca đã tạo nên sự đồng cảm, đồng tình giữa những người hát (chủ
11
thể diễn xướng) và những người tham dự (người xem, người nghe). Những người xem hát tưởng như người hát
(đôi nam nữ) đang nói hộ lòng mình và nói hộ nhiều người.
2.3.2.2. Bổ sung kiến thức tự nhiên, xã hội cho người dân lao động
Thông qua những nội dung lời ca, thanh niên nam nữ và cộng đồng còn trau dồi thêm được nhiều kiến thức
bổ ích về tự nhiên, đời sống, gia đình và xã hội.
2.4. Âm nhạc và mối quan hệ giữa âm nhạc với lời ca
2.4.1. Thang âm
2.4.1.1. Thang 3 âm
Trong hát Đúm ở các địa phương phổ biến dạng thang 3 âm có cấu trúc 5.2 (có 5 nửa cung từ âm thấp nhất
tới âm kế tiếp và 2 nửa cung từ âm kế tiếp tới âm trên cùng - ví dụ rê - son - la) và thang 3 âm có cấu trúc 7.3
(có 7 nửa cung từ âm thấp nhất tới âm kế tiếp và 3 nửa cung từ âm kế tiếp tới âm trên cùng - ví dụ rê - la - đô).
Hai dạng cấu trúc thang 3 âm này còn phổ biến trong hát Ví ở đồng bằng Bắc Bộ. Dấu hiệu này cho thấy mối
quan hệ gần gũi giữa hát Đúm với hát Ví.
2.4.1.2. Thang 4 và 5 âm
- Thang 4 âm xuất hiện trong hát Đúm với dạng cấu trúc 3.2.2. và 5.2.3. Nó xuất hiện trong một số bài hát
Đúm ở Hải Dương như Đúm xếp, Đúm đôi và hát Đúm ở Bắc Ninh.
- Thang 5 âm xuất hiện với một số dạng cấu trúc khác nhau. Phổ biến là cấu trúc ứng cách sắp xếp các
âm của điệu Chủy trong âm nhạc ngũ cung Trung Hoa (ví dụ: đồ - rê - pha - xon - la) hoặc điệu Bắc trong âm
nhạc cổ truyền Việt Nam. Dạng cấu trúc thang 5 âm này xuất hiện trong hát Đúm ở Phú Thọ. Ngoài ra, trong
một số bài Đúm ở Hải Dương, thang 5 âm còn xuất hiện ở dạng đan xen, pha trộn một số dạng cấu trúc khác
12
nhau như dạng cấu trúc thang 5 âm tương ứng với cách sắp xếp các bậc của điệu Cung (ví dụ: xon - la - xi -
rê - mi), điệu Chủy (ví dụ: đô -rê - pha - xon - la) và điệu Vũ (ví dụ: rê - pha - xon - la - đố) trong âm nhạc
ngũ cung Trung Hoa.
2.4.2. Phương thức phát triển giai điệu
định không thay đổi nhưng lại có rất nhiều lời ca khác nhau nên trong trường hợp này, giai điệu có vai trò chủ
yếu là phương tiện dùng để chuyển tải nội dung lời ca phục vụ mục đích đối đáp, thi tài của những chủ thể diễn
xướng. Hiện tượng kết hợp trái qui luật giữa thanh điệu lời thơ với giai điệu âm nhạc còn phổ biến trong hát Ví
đúm của người Mường ở Hòa Bình ở một số địa phương như Hòa Bình và Ninh Bình. Dấu hiệu này cho thấy
mối quan hệ tương đồng trong lối phổ thơ của hát Đúm người Việt với hát Đúm của người Mường.
2.4.3.2. Sử dụng các yếu tố thêm thắt, đưa đẩy
14
Thêm thắt đưa đẩy là thuật ngữ chỉ những từ hoặc cụm từ phụ nằm ngoài cấu trúc của lời thơ. Trong hát
Đúm có những loại thêm thắt đưa đẩy như sau:
a. Cụm từ có nghĩa
Là một tập hợp bao gồm một số từ biệt lập với cấu trúc của lời thơ. Những cụm từ này chỉ xuất hiện khi thơ
được phổ nhạc. Cụm từ có nghĩa thường xuất hiện ở đầu và cuối của một bài bản với chức năng báo hiệu mở
đầu và kết thúc một bài bản hoặc một câu hát.
b. Nguyên âm, từ đơn và từ không có nghĩa
Khi được phổ nhạc, những câu thơ được thêm vào những từ phụ là nguyên âm, từ đơn và từ không có
nghĩa. Những từ phụ này có chức năng làm tiếng đưa hơi, âm lấy đà và âm đệm tạo thêm tính chất sinh động
cho giai điệu âm nhạc nhưng không có nghĩa về mặt nội dung.
2.5. Ý nghĩa của hát Đúm trong xã hội cổ truyền
2.5.1. Hát đối đáp nam nữ - một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực
Bên cạnh mục đích giao duyên, thi tài, hình thức hát đối đáp nam nữ trong hát Đúm còn là một biểu hiện
phổ biến của tín ngưỡng phồn thực. Thông qua hình thức hát đối đáp, trai gái bày tỏ tình cảm của mình với bạn
hát là người khác giới và dẫn tới hành động xích lại gần nhau của hai giới nam nữ trong sự giao hòa âm dương,
cầu sự sinh sôi nảy nở, nhân đa vật thịnh.
2.5.2. Một loại hình nghệ thuật rèn luyện khả năng vận dụng, trau dồi làn điệu và sáng tạo thơ ca cho
thanh niên nam nữ
- Kiểu vận lời thơ giúp cho những chủ thể diễn xướng hát Đúm rèn luyện khả năng vận dụng thanh điệu,
tiết tấu nhịp điệu của lời thơ kết hợp với yếu tố âm nhạc để tạo thành những câu hát.
15
- Phương thức đối lời, và ứng tác lời ca tại chỗ giúp những chủ thể diễn xướng hát Đúm rèn luyện khả
năng ứng đối nhanh nhạy và sáng tạo trên lĩnh vực thơ ca.
được trợ giúp bởi công nghệ ghi hình, ghi tiếng (in đĩa CD và VCD). Qua hình thức in băng đĩa này mà hát
Đúm ở Thủy Nguyên có cơ hội sống lại và được quảng bá rộng rãi hơn.
3.1.3. Một số hình thức hát Đúm mới
3.1.3.1. Karaoke đúm
Karaoke đúm là một hình thức hát mà khi hát, người hát chỉ nhìn vào văn bản lời ca chép sẵn trên giấy
để hát mà không cần thuộc trước lời ca. Hiện nay hình thức này rất phổ biến ở Thủy Nguyên.
3.1.3.2. Hát Đúm chạy sô
17
Hát Đúm chạy sô là hình thức tương tự như hình thức các ca sĩ nhạc nhẹ thay đổi nhiều địa điểm trình diễn.
Hình thức này chỉ có ở Thủy Nguyên, Hải Phòng.
3.1.3.3. Hát Đúm trên sân khấu
Khác với hát Đúm trong xã hội cổ truyền, hiện nay hát Đúm ở Thủy Nguyên, Hải Phòng (cả bên Quảng
Yên, Quảng Ninh) còn được trình diễn trên sân khấu và hát với âm thanh loa máy giống như hình thức biểu
diễn ca nhạc hiện đại. Người xem có thể lên tặng hoa, thưởng tiền cho người hát.
3.2. Nhận định từ sự phục hồi hát Đúm
3.2.1. Một cách làm văn hóa truyền thống sống lại trong hình thức mới
Với những hình thức phục hồi của hát Đúm ở Thủy Nguyên, Hải Phòng chúng tôi cho rằng đây là một
phương cách mà người dân địa phương làm văn hóa truyền thống sống lại trong hình thức mới còn gọi là hình
thức tân truyền thống (kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố mới) trong xu hướng biến đổi văn hóa ở các
địa phương thuộc châu thổ Bắc Bộ hiện nay mà các nhà nghiên cứu văn hóa đã chỉ ra.
3.2.2. Một biểu hiện tìm về với văn hóa truyền thống và bản sắc địa phương của lớp trung niên và người
cao tuổi
- Hiện nay, những người thuộc lớp trung niên và cao tuổi ở Thủy Nguyên, Hải Phòng vẫn yêu thích hát
Đúm. Họ ý thức được nó là một loại hình văn hóa truyền thống có thể giúp họ có lại được sự cân bằng, thư thái
trong tâm hồn và ôn lại những kỷ niệm về một thời quá khứ đã qua. Người già tham gia ca hát không phải để
thi thố tài năng, phân thắng, thua mà để được hát, được chuyện trò, giao lưu, kết bạn với nhau.
- Theo qui luật tâm lý lứa tuổi, một bộ phận những người thuộc lớp trung niên và cao tuổi hiện nay thường
không thể thích ứng nhanh với các loại hình văn hóa nghệ thuật hiện đại mà giới trẻ đang yêu thích và thực
18
hành nên họ tìm về với văn hóa truyền thống, tìm về với quá khứ của chính họ trong bối cảnh xã hội công
cho những người mới tham gia ca hát, đặc biệt là những thanh niên nam nữ. Về phương thức truyền dạy, theo
chúng tôi nên duy trì và phát huy phương thức truyền dạy qua các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ hát Đúm ở các xã
như hiện nay. Chẳng hạn, trong những buổi sinh hoạt Câu lạc bộ nên mời nghệ nhân đến truyền dạy cho những
thành viên tham gia, đặc biệt là những người mới tham gia để họ có điều kiện nắm bắt được bài bản, làn điệu từ
“nước đầu nguồn”. Bên cạnh đó, các địa phương nên tiếp tục phát huy phương thức truyền dạy trực tiếp tại
những buổi sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
3.4.2. Thu hút giới trẻ và phát huy vai trò của nghệ nhân
- Hát Đúm là loại hình ca hát giao duyên, nó chủ yếu dành cho giới trẻ, họ mới là những chủ thể diễn
xướng chính của loại hình dân ca này. Do đó, hiện nay, ở địa phương, việc thu hút thanh niên nam nữ đến với
hát Đúm là cần thiết. Sức sống tuổi trẻ mới thực sự mang lại sự hấp dẫn cho hát Đúm.
20
- Muốn phát huy và thu hút được thanh niên thời hiện đại đến với hát Đúm thì nghệ nhân lại là một yếu
tố quan trọng, không thể bỏ qua. Do đó, địa phương cần chú trọng chăm lo đến nghệ nhân hơn nữa qua
những việc làm cụ thể như: Có chế độ đãi ngộ và hỗ trợ kinh phí cho các buổi truyền dạy của nghệ nhân tại
các Câu lạc bộ hát Đúm, thăm hỏi sức khỏe, động viên kịp thời.
3.4.3. Duy trì hình thức in băng đĩa, bảo lưu lời cổ, sáng tác lời mới
- Cần tiếp tục duy trì và nhân rộng hình thức in băng đĩa hát Đúm ở địa phương, song bên cạnh đó, địa
phương nên chú ý đến chất lượng của ấn phẩm băng đĩa. Nên mở rộng ghi hình, ghi tiếng nhiều đôi hát khác
nhau, tạo thêm sự phong phú, đa dạng về chủ thể diễn xướng.
- Bên cạnh những sáng tạo mới, cần phục dựng hát Đúm truyền thống gần với nguyên gốc nhất giúp cho
công việc nghiên cứu và lưu giữ vốn văn hóa cổ cho thế hệ mai sau.
- Trong công việc bảo tồn hát Đúm hiện nay, địa phương nên kết hợp song song cả hai hình thức: bảo lưu
lời cổ và khuyến khích người dân địa phương sáng tác lời mới. Đây là một trong những phương cách giúp cho
hát Đúm có thể tiếp tục tồn tại trong xã hội đương đại. Tính cập nhật, tính đời sống của nội dung lời ca mới sẽ
góp phần giúp cho hát Đúm đến gần với giới trẻ và cộng đồng.
3.4.4. Áp dụng phương thức bảo tồn phát triển, gắn hát Đúm với những chương trình văn hóa nghệ thuật
địa phương và môi trường học đường
- Cụm từ bảo tồn phát triển được hiểu là việc khai thác chất liệu hát Đúm tạo nên những tác phẩm mới
mang hơi thở đương đại. Chúng tôi cho rằng, hiện nay có nhiều phương cách khai thác khác nhau. Chẳng hạn,
tiết tấu hoá cho hát Đúm và bổ sung thêm một số yếu tố nghệ thuật âm nhạc ngoài hát Đúm, tạo thêm sự phong