Viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam
học viện khoa học xã hội
Biện thị quỳnh nga
hệ thống thể loại truyền thống
trong thơ mới 1932 - 1945
CHUYÊN NGàNH: VĂN HọC VIệT NAM
Mã Số: 62.22.34.01
Tóm tắt Luận án tiến sĩ văn học
hà nội - 2013
Công trình đợc hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phan Trọng Thởng
PGS.TS. Lu Khánh Thơ
Phản biện 1: PGS.TS. Phạm Thành Hng
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện
Phản biện 3: TS. Chu Văn Sơn
Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học Xã hội
vào hồi giờ .phút, ngày .tháng năm .
Có thể tìm hiểu luận án tại th viện:
1. Th viện Học viện Khoa học Xã hội
2. Th viện Quốc gia
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ mới cho đến nay vẫn là một hiện tượng độc đáo của thơ Việt cần
phải được tiếp tục nghiên cứu, nhất là trên phương diện loại hình - thể loại.
1.2. Thơ mới thực sự đã thuộc loại hình thơ hiện đại. Liệu đây có phải là
hiện tượng phủ định truyền thống hoặc không liên quan gì đến truyền thống?
Trên con đường đi đến hiện đại (mà ở đây là trên lĩnh vực văn học nghệ thuật,
cụ thể hơn là thơ ca), các thành tố truyền thống có vai trò, ý nghĩa gì không?
Thiết nghĩ nhìn Thơ mới từ phương diện thể loại, đặc biệt ở đây là những thể
của nó về cả 3 phương diện (chức năng, nội dung và thi pháp); xác định vị thế,
vai trò của nó trong cấu thành loại hình thơ hiện đại Việt Nam, từ đây đề xuất
một số vấn đề cho việc nghiên cứu Thơ mới nói riêng, thơ ca dân tộc nói chung
trên con đường đi đến hiện đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Xác định vị thế và vai trò của các thể thơ truyền thống trong hệ thống
thể thơ của Thơ mới.
3.2.2. Khảo sát, phân tích, luận giải, xác định đặc trưng chức năng và nội
dung của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới.
3.2.3. Khảo sát, phân tích, xác định đặc trưng thi pháp của các thể thơ truyền
thống trong Thơ mới. Cuối cùng rút ra một số kết luận về hệ thống các thể thơ
truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các
phương pháp chính: Phương pháp loại hình, phương pháp thống kê - miêu tả,
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp cấu trúc
- hệ thống và một số phương pháp của thi pháp học,
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu đặc trưng chức năng, nội
dung và thi pháp của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 với
một cái nhìn hệ thống; xác định vị thế, vai trò, sức sống và khả năng của nó
trong thơ Việt Nam hiện đại. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng
4
định con đường đi đến hiện đại của thơ ca dân tộc rõ ràng không phải là con
đường tách rời, cắt mạch với truyền thống. Sức mạnh của các yếu tố mang giá
trị của truyền thống vẫn có thể tạo nên thành tựu mới nếu biết phát huy và làm
mới nó. Ngoài ra, kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, giúp
cho việc dạy - học văn học trong nhà trường và tiếp nhận Thơ mới, thơ hiện đại
được tốt hơn.
6. Cấu trúc của luận án
(Nguyễn Phan Cảnh), Thơ mới - bình minh thơ Việt Nam hiện đại (Nguyễn
Quốc Túy), Con mắt thơ (Đỗ Lai Thúy), Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu,
thời kỳ trước 1945 (Lê Quang Hưng), Ba đỉnh cao Thơ mới Xuân Diệu - Nguyễn
Bính - Hàn Mặc Tử (Chu Văn Sơn), Thơ tình Xuân Diệu (Lưu Khánh Thơ),
Dưới dạng các khóa luận tốt nghiệp đại học, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ,
vấn đề thể thơ của Thơ mới ngày càng được khai thác nhiều: Kết cấu thơ trữ
tình (Phan Huy Dũng), Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Trần Thị
Lệ Thanh), Thơ mới với thơ Đường (Lê Thị Anh), Thơ mới 1932 - 1945 nhìn từ
sự vận động thể loại (Hoàng Sĩ Nguyên), Nhìn chung, Thơ mới và vấn đề thể
thơ của Thơ mới đã được quan tâm, nghiên cứu nhiều nhưng chưa có công trình
nào tập trung khảo sát vấn đề này một cách đầy đủ, hệ thống.
1.2. Vấn đề nghiên cứu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới
Các thể thơ truyền thống trong Thơ mới, nhất là các thể lục bát (LB), song
thất lục bát (STLB), ảnh hưởng của thể hát nói (HN) đến thể 8 chữ, và thơ
Đường luật (ĐL), được nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm. Trước 1945,
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu bước đầu khảo sát âm luật
cùng thể cách Thơ mới. Hoài Thanh trong Một thời đại trong thi ca ít nhiều chú
ý nhận diện một số thể thơ dân tộc trong Thơ mới. Đặc biệt nhất phải kể đến ý
kiến của chính những người đương thời Thơ mới bàn về Thơ mới, trong đó vấn
đề các thể truyền thống cũng được đề cập rải rác ở một vài khía cạnh.
Từ 1945 đến 1986, một số công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, công
phu về Thơ mới có tìm hiểu vấn đề này. Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học
sử giản ước tân biên có chú ý “sự đổi mới về thể cách” của Thơ mới. Đến 1971,
6
vấn đề nghiên cứu các thể thơ trong Thơ mới đạt một bước tiến mới, được đánh
dấu bởi sự ra đời của công trình Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại (Bùi
Văn Nguyên, Hà Minh Đức). Bên cạnh việc khảo sát, phân tích khá thuyết phục
một số đặc trưng thi pháp của các thể truyền thống, Hà Minh Đức đã có những ý
kiến sâu sắc về chức năng, nội dung các thể thơ này trong thời đại mới
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, vấn đề các thể thơ truyền thống
cứu, phân tích, đánh giá. Tuy nhiên, chung quanh việc nghiên cứu các thể thơ
truyền thống của Thơ mới vẫn còn nhiều bỏ ngỏ. Vì vậy, vấn đề này vẫn cần
phải được tiếp tục nghiên cứu trên một quy mô lớn hơn và theo một góc nhìn
toàn diện, chuyên biệt hơn.
Chương 2
VỊ THẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG
TRONG THƠ MỚI 1932 - 1945
2.1. Nhìn chung về loại hình Thơ mới 1932 – 1945
2.1.1. Hiện tượng Thơ mới 1932 - 1945 trong lịch sử thơ ca dân tộc
Sự xuất hiện của Thơ mới là một sự kiện thiết yếu đối với lịch sử thơ ca dân
tộc, nó giải phóng thơ Việt thoát khỏi những khuôn khổ mang tính quy phạm
chặt chẽ của loại hình thơ trung đại để bước sang phạm trù hiện đại với một
loại hình thơ mang “tinh thần tự do”, tự do về biểu hiện tư tưởng, cảm hứng, tự
do về cách thức thể hiện. Với ý nghĩa đó, Thơ mới xứng đáng là cuộc cách tân
thơ ca lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.
2.1.2. Loại hình Thơ mới 1932 - 1945, nhìn từ góc độ thể thơ
2.1.2.1. Thơ mới 1932 - 1945, một cuộc cách tân về thể thơ
Thơ mới thực sự là một cuộc cách tân về thể thơ. Thơ mới đã kế thừa và phát
triển các thể thơ cổ truyền dân tộc, tân tạo các thể thơ vay mượn, đồng thời
sáng tạo những hình thức mới thích hợp biểu hiện “dòng cảm xúc mới” của
thời đại.
2.1.2.2. Hệ thống thể thơ của Thơ mới 1932 - 1945
Khái niệm thể loại (hay thể, thể tài) chỉ dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác
phẩm văn học, đấy là các dạng thức tổ chức ngôn ngữ thành những hình thức
8
nghệ thuật riêng biệt, thể hiện cách cảm nhận và thái độ, tình cảm của con
người về các hiện tượng đời sống.
Hệ thống thể thơ của Thơ mới hết sức đa dạng, phong phú; chủ yếu quy tụ
vào hai hệ thống lớn: hệ thống thể thơ thuần Việt và hệ thống thể thơ du nhập.
Trong đó, phổ biến nhất là các thể 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, LB, hợp thể và tự do,
vẹn: Tiếng sáo thiên thai - Thế Lữ, Buồn đêm mưa - Huy Cận); dạng phối xen
(các dòng LB phối hợp và xen kẽ với các thể thơ khác để làm thành bài thơ).
Song song với LB, trong bảng thể thơ của Thơ mới còn có sự hiện diện của thể
STLB, nhưng số lượng góp mặt của thể này không đáng kể: 18 bài (1,68%).
Các bài STLB toàn vẹn đều có quy mô nhỏ. Riêng thể HN, trong Thơ mới
không có bài nào viết theo thể thơ này. Nhưng theo nhận định của số đông giới
nghiên cứu hiện nay, thể HN được xem là tiền thân của thể 8 chữ do các nhà
thơ mới sáng tạo nên. Thể 8 chữ chiếm giữ một số lượng rất lớn trong hệ thống
thể thơ của Thơ mới: 277/1072 tác phẩm (25.84%). Khuôn khổ các bài thơ 8
chữ tương đối rộng mở. Hầu hết 277 bài đều ở dạng nguyên thể (toàn câu 8
chữ), thi thoảng có sự đan xen một số câu có số chữ nhiều hoặc ít hơn 8 chữ do
yêu cầu của tâm trạng, nhưng số này không nhiều. Thể 8 chữ còn xen vào 35
bài thơ thuộc nhiều thể khác nhau làm cho sự biểu hiện cảm xúc càng thêm
phong phú Ngoài ra, còn có một số thể thơ dân tộc khác cũng tham gia vào
Thơ mới nhưng số lượng rất ít.
Nhìn chung, các thể thơ truyền thống đều được nhiều nhà thơ mới khai thác,
sử dụng với những tỉ lệ, số lượng và hình thức nhất định, góp phần tạo nên vị
trí, diện mạo riêng trong Thơ mới 1932 - 1945.
2.2.3. Khả năng lôi cuốn độc giả của các thể thơ truyền thống trong sự
“cạnh tranh” với các thể thơ khác của Thơ mới 1932 - 1945
Qua thống kê và khảo sát số lượng, tỉ lệ các thể truyền thống trong Thơ mới,
luận án rút ra một số nhận xét khái quát: Trong khả năng có thể, các nhà thơ
mới đã cố gắng thể nghiệm một cách phong phú, đa đạng nhất các thể thơ
truyền thống. Xét tương quan giữa hai hệ thống thể thơ, các thể truyền thống
thuần Việt chiếm tỷ lệ áp đảo. Trong đó, thể LB, bước sang thời hiện đại, vẫn
duy trì được sức sống của mình. LB chiếm một vị trí quan trọng (148 tác phẩm,
10
chiếm 13.81%). Đặc biệt LB còn chiếm ưu thế hơn hẳn thể thơ tự do. LB hấp
dẫn khá nhiều nhà thơ mới. Thậm chí nhiều người đạt con số hàng chục bài
(Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, ). Có những tác
dẫn mạnh mẽ của các thể thơ truyền thống, đặc biệt là thể truyền thống thuần
Việt, trong thế cạnh tranh với các thể thơ khác của thơ hiện đại.
2.3. Vai trò của các thể thơ truyền thống đối với Thơ mới 1932 - 1945
Một cái nhìn tổng quát về hệ thống các thể thơ của phong trào Thơ mới như
trên bước đầu cho phép khẳng định phần nào vị thế, vai trò đặc biệt quan trọng
của các thể thơ truyền thống trong việc tạo nên diện mạo và đặc sắc của Thơ
mới nói riêng và thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung. Sự hiện diện của hệ
thống thể thơ truyền thống rõ ràng là khó có thể thay thế trong việc tạo nên tính
phong phú, đa dạng cho một loại hình Thơ mới - hiện đại, là bằng chứng khẳng
định chắc chắn con đường đi đến hiện đại của thơ Việt là con đường tiếp nối và
kế thừa truyền thống (tiếp nối và kế thừa trên cơ sở làm mới và cách tân).
Ngoài ra, các thể thơ truyền thống trong Thơ mới còn có vai trò “điều tiết” giữa
“cái cổ điển” và “cái hiện đại” cho một loại hình thơ “mới”.
Chương 3
CHỨC NĂNG VÀ NỘI DUNG CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG
TRONG THƠ MỚI 1932 - 1945
3.1. Khái luận về chức năng và nội dung của các thể thơ
Nội hàm khái niệm chức năng nhằm chỉ khả năng, vai trò, nhiệm vụ của một
thể thơ trong việc biểu biện một nội dung nhất định nào đó. Nội dung của thể
thơ chỉ “cái được biểu đạt” của thể thơ bao hàm các hiện tượng của đời sống
(xã hội, tự nhiên, con người, v.v…), các thông điệp ý nghĩa mà thể thơ đó quan
tâm nhận thức, chuyển tải…
3.2. Các thể truyền thống trong lịch sử thơ ca dân tộc trước Thơ mới
3.2.1. Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập
3.2.1.1. Cổ phong
Cổ phong (còn gọi là cổ thi hay cổ thể, nhằm phân biệt với thể thơ ĐL, tức
thơ cận thể) là thể thơ cổ của trung Quốc, có từ trước đời Đường. Thơ CP phổ
biến là thể 4 câu và 8 câu, ngoài ra còn có dạng trường thiên, còn gọi là thể
hành. Đây là thể tương đối dài, không hạn chế câu chữ, không cần niêm, đối
12
3.2.2.3. Hát nói (thơ ca trù)
Hát nói - một thể thơ dân tộc độc đáo sinh ra từ nhu cầu của bộ môn nghệ
thuật ca trù, nên còn gọi là thơ ca trù. HN xuất hiện muộn (vào khoảng nửa đầu
thế kỷ XVIII) và phát triển mạnh ở thế kỷ XIX. Chức năng cơ bản của HN là
trữ tình, sẻ chia tâm sự Nội dung chủ yếu của HN là những nỗi niềm tâm sự
buồn vui cá nhân, khát khao chờ đợi tri âm, tri kỷ Đây là thể thơ có sự kết
hợp giữa yêu cầu “ngâm” và yêu cầu “nói”
3.3. Đặc trưng chức năng và nội dung các thể truyền thống trong Thơ mới
3.3.1. Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập
3.3.1.1. Cổ phong
Cảm hứng lãng mạn trữ tình, khát vọng “tráng sĩ hành” (tráng sĩ ra đi) của
cái tôi cá nhân trong thời đại mới là chức năng và nội dung chủ đạo của các bài
hành Thơ mới. Cảm hứng ra đi vì đại nghĩa, vì lí tưởng cao đẹp được cất lên
qua khẩu khí ngang tàng, ngạo nghễ đầy dứt khoát, bạo liệt trong thơ hành của
Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Phan Văn Dật, Bích Khê Trong
cảm hứng lãng mạn về “tráng sĩ hành”, các bài hành Thơ mới cũng tiềm ẩn cả
cảm hứng bất bình, phản kháng đối với thực tại xã hội đương thời Với âm
điệu trữ tình bi tráng, các bài hành Thơ mới còn hướng đến một khát vọng đổi
thay, một ý chí xóa cũ tạo mới táo bạo. Nội dung này thể hiện rõ nhất trong thơ
Thâm Tâm.
3.3.1.2. Đường luật
Thể ĐL trong Thơ mới đã có nhiều đổi khác so với truyền thống. Thứ nhất,
thể ĐL không còn giữ vị trí quan trọng là thể thơ chính thống trong hệ thống
các thể thơ như trước. Thứ hai, nhìn trên diện rộng, có thể thấy, Thơ mới tiếp
thu thơ Đường trên nhiều cấp độ, từ hình thức đến nội dung cảm hứng. Thứ ba,
trong Thơ mới, thể ĐL được khai thác theo hai khuynh hướng chủ yếu: khuynh
hướng trở về với thơ Đường cổ điển (Quách Tấn, Nguyễn Giang, J.Leiba, Thái
Can, Vân Đài, Lưu Kỳ Linh, Cẩm Lai,…) và khuynh hướng cách tân (Thế Lữ,
Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương,…). Cả hai khuynh
hướng dù khác nhau về đề tài và cách diễn đạt nhưng đều thống nhất ở chức
nội dung bày tỏ tình cảm, tâm trạng của cái tôi cá nhân cá thể. Các bài STLB
15
Thơ mới hoàn toàn không còn hiện tượng hoá thân, nhập vai của tác giả vào
nhân vật trữ tình nữa. Phần lớn STLB Thơ mới là lời giãi bày trực tiếp của chính
nhà thơ. Đây là cốt lõi làm nên sự khác biệt về chức năng, nội dung của STLB
trong văn học trung đại và STLB Thơ mới Ngoài ra, STLB Thơ mới còn có
chức năng trào phúng với nội dung châm biếm, phê phán Tuy vậy, chừng ấy
thay đổi dường như cũng chưa đủ tạo nên một ấn tượng mới, rõ rệt. Tính chất
trữ tình, hồi cố vốn được tạo ra từ thời hoàng kim của thể thơ vẫn chiếm ưu thế.
3.3.2.3. Hát nói và thể thơ 8 chữ trong Thơ mới 1932 - 1945
Ý thức cá nhân của người tài tử trong HN rất gần với ý thức cá nhân của con
người tư sản, hiện đại trong Thơ mới. Đây là điểm gặp gỡ đầu tiên trong chức
năng và nội dung phản ánh của HN với thể thơ 8 chữ của Thơ mới. Từ thơ HN
truyền thống đến Thơ mới 8 chữ là cả hành trình vận động và phát triển của con
người cá nhân. Con người cá nhân giờ đây được coi là những thực thể độc lập
và biết tôn trọng những nhân cách độc lập khác; yếu tố thị tài của người tài tử
được thay thế bằng khuynh hướng phát triển lạnh lùng, ích kỉ và tự thị của con
người cá nhân tư sản; quan niệm tình yêu “tài tử giai nhân” vẹn toàn được thay
thế bằng quan niệm “tình chỉ đẹp khi còn dang dở” (Hồ Dzếnh). Hình ảnh
người kỹ nữ trôi nổi giang hồ trong thơ Tản Đà (Cánh bèo) đến Xuân Diệu đã
trở nên khủng hoảng “chớ để riêng em lại gặp lòng em” (Lời kỹ nữ). Sự ý thức
về cuộc đời ngắn ngủi “thuở trung gian thiếu tráng có là bao” (Nguyễn Công
Trứ) đến Xuân Diệu đã được nâng lên thành triết lí, tuyên ngôn sống (Vội
vàng). Đời sống tâm hồn con người cá nhân trong thơ 8 chữ phong phú và
phức tạp hơn trước
Với ưu thế rộng mở của khuôn khổ câu văn và nhịp điệu tự do, Thơ mới 8
chữ còn phát triển khả năng tự sự tiềm tàng của HN nói riêng và thơ văn trung
đại nói chung. Bên cạnh đó, các nhà thơ mới còn mạnh dạn thí nghiệm thể 8
chữ trên nhiều loại chức năng và nội dung khác nhau
3.3.3. Những thành công và bất cập về chức năng và nội dung của các thể
Thơ mới và của cả bản thân các thể thơ
17
Chương 4
THI PHÁP CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG
TRONG THƠ MỚI 1932 - 1945
4.1. Thi pháp và thi pháp các thể thơ
Nói đến thi pháp các thể thơ là nói đến các yếu tố cấu trúc thành chỉnh thể
toàn vẹn một bài thơ như: bố cục, cấu trúc câu thơ, vần, nhịp, giọng điệu và
ngôn ngữ Những yếu tố thi luật này sẽ là cơ sở để chúng tôi khảo sát đặc
trưng thi pháp của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới.
4.2. Thi pháp các thể truyền thống trong lịch sử thơ ca dân tộc trước
Thơ mới
4.2.1. Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập
4.2.1.1. Cổ phong
CP là thể thơ tương đối tự do về nhiều mặt Thể hành là một dạng của thơ
CP, mỗi bài gồm nhiều câu, kéo dài mấy cũng được. So với ĐL, thơ CP phóng
túng hơn, ít bị trói buộc trong niêm luật, câu chữ, Đây là điểm thuận lợi cơ
bản giúp thể CP dễ tiến vào Thơ mới.
4.2.1.2. Đường luật
ĐL có nhiều dạng bài thơ, nhưng thất ngôn bát cú là dạng chính vì từ đây có
thể suy ra các dạng khác. Vì vậy, luận án khái lược đặc điểm thi luật của dạng
ĐL này Cấu trúc thi luật chặt chẽ, “hoàn hảo” đã tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho
thơ ĐL. Nó vừa tạo sức hấp dẫn vừa đặt ra thử thách cho những tài thơ đến sau.
4.2.2. Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ thuần Việt
4.2.2.1. Lục bát
Trước Thơ mới, LB là thể chủ yếu của ca dao và hàng trăm truyện Nôm. Nó
đã đạt đến trình độ cổ điển với đỉnh cao là kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn
Du. Từ đây, có thể khái quát mô hình chuẩn của LB trong thơ ca truyền thống.
4.2.2.2. Song thất lục bát
Trước Thơ mới, STLB đã đạt đến trình độ cổ điển. Nó là thể chủ yếu của
19
Thứ hai, về vần và nhịp. Các bài thơ thể hành đều ưa sử dụng vần bằng theo
kiểu vần gián cách và thường là độc vận Các câu thơ thất ngôn đều luân phiên
bằng trắc theo đúng niêm, luật và ngắt nhịp theo trình tự chẵn / lẻ (4/3, 2/2/3)
Thứ ba, giọng điệu và ngôn ngữ. Điểm nhấn các bài hành Thơ mới nằm ở
giọng điệu và ngôn ngữ. Phái thơ hành mang một giọng điệu đặc biệt: giọng
điệu hào hùng, tràn đầy chính khí, bi phẫn, bi hùng và thường lựa chọn
những câu từ gân guốc, gai góc
Ngoài thể hành, một số bài thơ (có khi là câu thơ) ngũ ngôn, thất ngôn trong
Thơ mới cũng có dáng dấp CP nhưng đã được làm mới, biến đổi rất nhiều
nhằm phù hợp hơn với lòng người hiện đại.
4.3.2.2. Đường luật
Thứ nhất, cấu trúc bài thơ và nghệ thuật tổ chức câu thơ, dòng thơ. Phần
lớn các bài ĐL Thơ mới đều đảm bảo khuôn hình cấu trúc cố định. Nổi lên ở
cấp độ câu thơ, dòng thơ là tính chất điệu nói, vắt dòng, nhiều câu trên một
dòng được tổ chức theo nguyên tắc hướng ngoại, tạo hình
Thứ hai, vần và nhịp. Thể ĐL Thơ mới chủ yếu sử dụng vần bằng và là vần
chân, độc vận. Các bài thơ luôn tuân thủ niêm, luật. Có nhiều bài đạt đến chuẩn
mực thơ luật: Lời tuyệt mệnh (Bích Khê), Đêm thu nghe quạ kêu (Quách
Tấn), Ngoài nhịp ngắt phổ biến là chẵn/lẻ (4/3, 2/2/3, 2/2/2/1 câu thất và 2/3
câu ngũ), ĐL Thơ mới còn có nhiều khuôn nhịp linh hoạt, mới lạ
Thứ ba, giọng điệu và ngôn ngữ. Giọng điệu ĐL Thơ mới nhìn chung đơn
điệu, thuần nhất; không giàu sắc thái bằng các thể thơ khác Ngôn ngữ là nơi
thể ĐL thực hiện cách tân rõ nét nhất. ĐL Thơ mới (chữ Quốc ngữ) trở thành
một bộ phận thơ ca có đặc điểm ngôn ngữ phức tạp, nhiều thành phần
Trong Thơ mới, nhiều bài 5 chữ, 7 chữ hiện đại còn có hiện tượng mỗi khổ
thơ, câu thơ đi theo niêm, luật, vần, đối khá chỉnh, tựa như một bài tứ tuyệt.
Mặc dù kế thừa nhiều yếu tố thi pháp của thơ luật, nhưng thể 5 chữ, 7 chữ đã
có những nét khác nhờ những cách tân về khổ thơ, vần điệu Ngoài các thể
tiêu biểu trên, một số thể du nhập khác cũng có mặt trong Thơ mới (phú ĐL, từ
21
lục - bát; STLB Thơ mới cũng có những phá cách. Còn phối thanh, một số câu
thơ dòng thất phạm luật nhưng những biến đổi này không nhiều.
Thứ ba, giọng điệu và ngôn ngữ. Giọng điệu bi ai, sầu não đặc thù của
STLB đã tìm thấy sự đồng điệu ở những tâm hồn bế tắc, mang nặng niềm đau
thương nhân thế ở những cái tôi Thơ mới Bên cạnh nốt chủ âm trầm buồn ấy,
STLB còn được thứ âm thanh tâm hồn đa điệu của thời đại phổ vào lắm cung
bậc Về ngôn ngữ, các tác giả STLB chú trọng khai thác từ láy, lớp từ ngữ
hình ảnh mang tính ẩn dụ, biểu tượng, các từ ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng
ngày, các thành ngữ, hô ngữ, các trợ từ Tóm lại, STLB Thơ mới tuy đã được
làm mới ở một số yếu tố nhưng trên cơ bản vẫn giữ nguyên hình hài, dáng vẻ
từng đạt đến giá trị cổ điển thời trung đại. Sức mạnh truyền thống quá lớn của
thể thơ xét về cả ba phương diện chức năng, nội dung và thi pháp là rào cản
khó vượt qua.
4.3.3.3. Hát nói và thể thơ 8 chữ trong Thơ mới 1932 - 1945
Thứ nhất, mối quan hệ giữa hát nói và thể thơ 8 chữ trong Thơ mới. So sánh
và phân tích cụ thể HN và thể 8 chữ trên các phương diện thi pháp có thể thấy
từ thơ HN truyền thống đến Thơ mới 8 chữ là tiến trình vận động, làm mới và
phát huy bản sắc truyền thống của thơ ca Việt Nam.
Thứ hai, cấu trúc bài thơ và nghệ thuật tổ chức câu thơ, dòng thơ. Về cấu
trúc, thể 8 chữ không quy định số câu, số khổ như HN và thường có dung
lượng lớn. Về câu thơ, dòng thơ: ngoài kiểu loại câu 8 chữ như trong HN, các
nhà thơ mới còn có thể co giãn linh hoạt số chữ trong dòng thơ tùy biên độ
giao động của cảm xúc Về cơ bản, câu thơ thể 8 chữ trùng lặp với dòng thơ,
nhưng cũng có trường hợp phá cách: một dòng thơ bao chứa nhiều câu thơ,
hiện tượng câu thơ vắt dòng, câu thơ tách khổ đứng độc lập trong bài thơ
Thứ ba, vần và nhịp. Thơ 8 chữ rất gần với HN trong cách gieo vần, nó dùng
cả vần bằng và vần trắc, vần lưng và vần chân. Việc gieo vần chân cũng được
sắp xếp theo quy luật luân phiên thanh điệu vần như HN. Vần trong thơ 8 chữ
phong phú và đa dạng hơn: có vần liên tiếp, gián cách, ôm nhau, hỗn hợp,
của mình trên thi đàn với bản sắc riêng độc đáo. Nhưng vì là một thể thơ cách
23
luật từng đạt giá trị điển phạm, hơn nữa chất dân dã bình dân từ trong cốt tuỷ
của nó đã khiến cho LB trở nên quá đỗi quen thuộc nên khó có thể xáo trộn, phá
vỡ khuôn thơ để diễn đạt những diễn biến nội tâm phức tạp. Còn STLB, thường
hướng theo những chuẩn mực truyền thống nên ít có cơ hội xuất hiện. Thơ 8 chữ
đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ thế mạnh thi pháp của HN, đặc biệt trên các
phương diện số chữ, gieo vần và nhịp điệu; đồng thời làm mới ở một số đặc
điểm thi luật như câu thơ, dòng thơ, mở rộng khả năng ngôn ngữ nhằm chuyển
tải đắc lực những bộn bề tâm tư của đời sống hiện đại. Nhưng câu thơ 8 chữ
nhiều khi không tránh khỏi lủng củng, lắm lời Trong Thơ mới còn có sự xuất
hiện một số thể truyền thống du nhập và thuần Việt khác, số lượng quá ít và
không mấy biến chuyển nên không có khả năng sinh tồn trong môi trường mới.
Tiềm năng và sức sống của một số thể truyền thống từ sau Thơ mới hãy còn,
thậm chí là dồi dào, nhất là LB. Diễn trình cùng những thành công và bất cập
của các thể thơ truyền thống từ và sau Thơ mới đã cho thấy một thực tế va đập
sôi động giữa các yếu tố, giá trị truyền thống phương Đông với văn hóa
phương Tây cũng như khả năng thích ứng của chúng trong đời sống văn hóa
hiện đại. Khi không còn khả năng chuyển tải được những tư tưởng mới, các thể
truyền thống hoặc phải nhanh chóng tự tân tạo mình, hoặc những thể mới sau
nó sẽ thích ứng và nhanh chóng chớp lấy tính truyền thống trong những thể thơ
cũ tạo nên những giá trị mới phù hợp với thời đại.
KẾT LUẬN
1. Nghiên cứu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới là vấn đề có nhiều ý
nghĩa khoa học sâu sắc. Qua nó, không chỉ nhận thấy bản chất và sự vận động
của các thể thơ truyền thống trong thời hiện đại mà còn thấy được diện mạo đặc
sắc của thơ Việt Nam hiện đại qua Thơ mới khi có sự tham gia của các thể
truyền thống này. Rõ ràng, trong hệ thống thể thơ của Thơ mới, các thể truyền
thống vẫn giữ một tỉ lệ và vai trò, vị trí quan trọng. Các thể truyền thống trong
Thơ mới, đặc biệt là LB, đã để lại những tác phẩm thực sự có ý nghĩa, đạt giá trị
con đường đi đến hiện đại của thơ ca nói riêng và văn học dân tộc nói chung.
25