Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Việc chuyển nền kinh tế nớc ta sang nền kinh tế thị trờng là xu hớng tất
yếu khách quan bao gồm mở rộng quan hệ hàng hoá, tiền tệ, quan hệ thị tr-
ờng với các quy luật khắt khe của nó ngày càng chi phối mạnh mẽ đến mọi
mặt của đời sống kinh tế- xã hội, đến hoạt động mọi mặt của các doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng. Thị trờng mở rộng cả
trong và ngoài nớc, các doanh nghiệp phải tự khẳng định mình trong cuộc
đấu tranh sinh tồn này bằng lợi thế cạnh tranh về chất lợng, giá cả và hiệu
quả.
Việc tối thiểu hoá chi phí sản xuất kinh doanh nhằm hạ giá thành sản
phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Mức hạ giá thành và tỷ lệ
hạ giá thành phản ánh trình độ sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguyên
vật liệu, máy móc thiết bị, kỹ thuật tiên tiến của mỗi doanh nghiệp. Tuỳ vào
đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà có những biện pháp hữu
hiệu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Công ty Cơ khí Hà Nội là một công ty sản xuất công nghiệp có quy mô
lớn bao gồm nhiều phân xởng mà quy trình sản xuất vừa mang tính riêng biệt
vừa mang tính liên tục. Sản phẩm sản xuất ra với chu kỳ dài, khối lợng lớn đa
dạng về chủng loại, mẫu mã,... Do đặc điểm công nghệ sản xuất nh vậy nên
nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh là
nhiệm vụ cấp bách của công ty. Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát
triển.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc hạ giá thành sản phẩm, trong
thời gian thực tập tại công ty đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo TS. Ngô
Thị Hoài Lam cùng với các cô chú, anh chị trong công ty, em mạnh dạn chọn
đề tài: Hạ giá thành sản phẩm máy khoan K525A của công ty Cơ khí
Hà Nội nhằm nâng cao sức cạnh tranh.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn tốt nghiệp của em đợc
Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: mặt hao phí
sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát
sinh trong kỳ, kỳ trớc chuyển sang) và các chi phí trích trớc có liên quan đến
khối lợng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu
giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng
tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể kỳ nào nhng có
liên quan đến khối lợng công việc, sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Giá thành
đợc xác định cho từng loại sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể và chỉ tính toán đối
với sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành (thành phẩm) hoặc chỉ mới kết thúc
một số giai đoạn công nghệ nhất định (nửa thành phẩm).
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá phản ánh l-
ợng hao phí lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản xuất
và tiêu thụ. Do vậy, cần phải đợc bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà
không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp. Những chi phí đa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh đợc giá trị
thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi
phí khác có liên quan đến việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi
cách tính toán chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá
thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá-tiền tệ, không
xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản
đơn và tái sản xuất mở rộng.
b- Mối quan hệ giá thành với chi phí, giá trị và giá cả
Giá thành công xởng sản phẩm với chi phí sản xuất có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Giá thành công xởng sản phẩm đợc tính trên cơ sở
chi phí sản xuất đã đợc tập hợp và sản lợng sản phẩm hoàn thành.
Nội dung giá thành công xởng của sản phẩm chính là chi phí sản
xuất đợc tính cho sản lợng và loại sản phẩm đó. Tuy nhiên, chi phí sản
xuất và giá thành công xởng cũng có sự khác nhau cần đợc phân biệt.
Giữa giá thành và giá cả có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giá thành
sản phẩm là cơ sở để xây dựng chính sách giá cả của doanh nghiệp. Giới hạn
thấp nhất của giá bán hàng hoá là do giá thành sản phẩm đó quy định. Hơn
nữa, giá thành sản phẩm lại bị ảnh hởng của sự thay đổi giá cả. Thị trờng giá
cả sản phẩm này thay đổi kéo theo sự thay đổi giá cả của sản phẩm khác và
nh vậy gián tiếp ảnh hởng tới giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá cả hàng hoá đợc xây dựng trên cơ sở giá thành sản phẩm. Ngoài ra
giá thành sản phẩm chính là giá mua mà bản thân nhà sản xuất đã bỏ ra để
sản xuất hàng hóa nghĩa là giá mua do chính quy trình sản xuất hàng hoá
quyết định. Trong nền kinh tế thị trờng thì giá cả do quan hệ cung cầu quyết
định. Vì vậy, giá thành chỉ cung cấp thông tin để nhà quản trị ra quyết định
linh hoạt và kịp thời.
c- Các loại chi phí trong giá thành .
* Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá và các khoản chi phí khác mà doanh
nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong kỳ.
Nh vậy, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm
riêng biệt có những mặt khác nhau. Chi phí sản xuất luôn gắn với từng
thời kỳ phát sinh chi phí, còn giá thành lại gắn với khối lợng sản phẩm
công việc, lao vụ đã sản xuất hoàn thành. Chi phí sản xuất trong kỳ không
chỉ liên quan đến sản phẩm hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm
dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm không bao
gồm chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng, nhng
lại bao gồm chi phí sản phẩm dở dang kỳ trớc chuyển sang. Ta có thể thấy
mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm qua sơ đồ sau:
Biểu1.1: Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất sản phẩm dở
Việc phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng đối với công tác
phân tích và lập kế hoạch giá thành, so sánh những chỉ tiêu về giá thành
trong các thời kỳ khác nhau, giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại
sản phẩm. Ngoài ra việc phân loại chi phí còn có tác dụng thiết thực đối với
việc phát hiện những năng lực tiềm tàng về hạ giá thành sản phẩm, cung cấp
những thông tin chính xác, kịp thời để xây dựng chính sách giá cả hợp lý.
Nhằm những mục đích cụ thể khác nhau, ngời ta phân loại chi phí theo
nhiều phơng pháp khác nhau.
Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế và theo công dụng cụ thể
của chi phí trong sản xuất :
+ Theo nội dung kinh tế của chi phí, chi phí sản xuất đợc phân thành 8
yếu tố chi phí sản xuất. Những yếu tố này đợc sử dụng khi lập dự toán chi
phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật t, kế hoạch quỹ tiền lơng, tính
toán nhu cầu vốn lu động định mức. Phân loại theo nội dung kinh tế giữ đ-
ợc tính nguyên vẹn của từng yếu tố chi phí, mỗi yếu tố đều là chi phí ban
đầu do doanh nghiệp chi ra và không phân tích đợc nữa. Mỗi yếu tố đều
bao gồm mọi khoản chi có cùng nội dung và tác dụng kinh tế giống nhau
không kể nó đợc chi ra ở đâu và quan hệ của nó với quá trình sản xuất nh
thế nào.
+ Căn cứ vào công dụng cụ thể của chi phí trong sản xuất ngời ta chia
các chi phí thành những khoản mục nhất định. Các khoản mục này đợc
dùng trong việc xác định giá thành đơn vị sản phẩm cũng nh giá thành
sản lợng hàng hoá. Ngoài ra, cách phân loại này còn cho thấy ảnh hởng
của từng khoản mục đến kết cấu và sự thay đổi của giá thành. Qua đó, nó
cung cấp những thông tin cần thiết để xác định phơng hớng và biện pháp
hạ giá thành sản phẩm.
Những yếu tố chi phí sản xuất và những khoản mục chi phí để tính
giá thành đối chiếu với nhau và đợc sắp xếp theo biểu sau:
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Nguyên vật liệu chính, phụ dùng vào sản xuất
- Nhiên liệu, động lực dùng vào sản xuất
- Công cụ lao động nhỏ dùng vào sản xuất
- Chi phí trực tiếp khác bằng tiền
+ Chi phí gián tiếp là những chi phí có quan hệ đến hoạt động chung
của phân xởng, của doanh nghiệp và đợc tính vào giá thành một cách
gián tiếp bằng phơng pháp phân bổ. Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng t-
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ơng tự nh chi phí trực tiếp, nhng những khoản này đợc chi ra cho hoạt
động quản lý của doanh nghiệp hoặc các bộ phận khác cuả doanh nghiệp.
Cách phân loại này không cứng nhắc, cố định mà tuỳ thuộc vào đặc
điểm của từng ngành công nghiệp.
Phân loại theo cách này có tác dụng trong việc tính toán giá thành kế
hoạch cũng nh hạch toán giá thành thực tế của đơn vị sản phẩm và sản l-
ợng hàng hoá.
Phân loại chi phí căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí và tình hình
tăng, giảm sản lợng hàng hoá. Ngời ta chia ra: chi phí biến đổi (biến phí)
và chi phí cố định (định phí)
+ Chi phí biến đổi là những chi phí có thể thay đổi (tăng hay giảm) tỷ
lệ thuận hay tỷ lệ nghịch với tình hình thay đổi của sản lợng sản phẩm
làm ra
+ Chi phí cố định là những chi phí về nguyên tắc không thay đổi theo
sản lợng sản phẩm trong giới hạn đầu t. Đó là những khoản chi phí mà
doanh nghiệp phải ứng chịu trong mỗi đơn vị thời gian cho các đầu vào cố
định. Nói cách khác, chi phí cố định là những khoản chi phí tồn tại ngay
cả khi không sản xuất sản phẩm, nó hoàn toàn không chịu sự tác động của
bất kỳ sự biến đổi nào của việc thay đổi sản lợng sản phẩm trong một giới
hạn quy mô nhất định. Ví dụ khấu hao TSCĐ, chi phí lãi vay ngân hàng
(trung và dài hạn), chi phí bảo hiểm, tiền thuê đất đai, tiền lơng của những
nhng đợc xác định không phải trên cơ sở mức khấu hao cho cả kỳ kinh
doanh mà trên cơ sở mức hiện hành cho từng giai đoạn trong kỳ kinh
doanh (tháng, quý, năm,..). Việc xây dựng giá thành này cho phép các
nhà quản lý xác định kịp thời những chênh lệch so với định mức, trên
cơ sở đó tìm ra biện pháp thích hợp để hạ giá thành sản phẩm.
- Giá thành thực tế: đợc xác định thờng vào cuối kỳ kinh doanh.
Nó cũng bao gồm toàn bộ chi phí gắn liền với sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm. Nhng đợc lập ra trên cơ sở quy mô và giá cả thực tế của các chi
phí đã phát sinh, kể cả chi phí do khuyết điểm chủ quan của doanh
nghiệp gây ra.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Theo phạm vi tính toán và phát sinh chi phí, ta có thể chia ra: giá
thành phân xởng, giá thành công xởng và giá thành toàn bộ để quản
lý.
- Giá thành phân xởng: bao gồm tất cả những chi phí trực tiếp,
chi phí quản lý phân xởng và chi phí sử dụng máy móc thiết bị. Nói
cách khác, nó bao gồm những chi phí của phân xởng và tất cả những
chi phí khác của phân xởng nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất sản
phẩm tại phân xởng đó.
- Giá thành công xởng: bao gồm giá thành phân xởng và chi phí
quản lý doanh nghiệp. Có thể nói, giá thành công xởng (giá thành sản
xuất) bao gồm tất cả những chi phí để sản xuất sản phẩm trong phạm
vi toàn doanh nghiệp.
- Giá thành toàn bộ: bao gồm giá thành công xởng và chi phí tiêu
thụ (chi phí ngoài sản xuất).
Giá thành toàn bộ đợc tính theo công thức:
Giá thành phân xởng, công xởng hay toàn bộ đều đợc tính cho từng
đơn vị sản phẩm, loại sản phẩm, loạt sản phẩm và toàn bộ sản lợng hàng
hoá tiêu thụ.
+ Phơng pháp tổng cộng chi phí: áp dụng đối với các doanh nghiệp mà
quá trình sản xuất đợc thực hiện ở nhiều bộ phận (phân xởng) sản xuất, nhiều
giai đoạn công nghệ, chi phí sản xuất đợc tập hợp theo chi tiết hoặc bộ phận
sản phẩm, giá thành sản phẩm đợc xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất
của từng chi tiết, bộ phận sản phẩm hoặc chi phí sản xuất của các giai đoạn
tham gia sản xuất sản phẩm.
Giá thành thành phẩm=Z
1
+Z
2
+Z
3
+ +Z
n
Phơng pháp tổng cộng chi phí đợc áp dụng phổ biến trong các doanh
nghiệp khai thác, nhuộm, dệt,...
+ Phơng pháp hệ số
Phơng pháp hệ số đợc áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong
cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên vật liệu và một
lợng lao động nhng đồng thời thu đợc nhiều sản phẩm khác nhau và chi
phí không đợc tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm mà đợc tập hợp
chung cho cả quá trình sản xuất. Theo phơng pháp này trớc hết phải căn
12
Tổng giá thành sản phẩm
Khối lợng sản phẩm hoàn thành
Tổng giá
thành sản
phẩm
=
Tổng chi phí sản
phẩm gốc
=
Giá thành đơn
vị sản phẩm
từng loại
=
Giá thành
đơn vị sản
phẩm gốc
*
Hệ số quy đổi
sản phẩm từng
loại
Tổng giá thành
sản xuất của các
loại sản phẩm
=
Giá trị sản
phẩm dở
dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí
phát sinh
trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm dở
dang cuối kỳ
Tổng giá thành
thực tế từng loại
bớc:
- Xác định chi phí trực tiếp
- Xác định chi phí gián tiếp
Toàn bộ chi phí gián tiếp đợc phản ánh cụ thể qua biểu ở phụ lục.
Sau khi tính toán đợc chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, có thể xác
định đợc giá thành phân xởng, giá thành công xởng và giá thành toàn bộ.
Việc tính giá thành có thể đợc tính cho từng đơn vị sản phẩm, loạt sản
14
Tổng giá thành thực tế của từng loại sản phẩm
Số lợng sản phẩm từng loại
Tổng giá
thành sản
phẩm
chính
=
Giá trị sản
phẩm
chính dở
dang đầu
kỳ
+
Tổng chi
phí sản
xuất phát
sinh trong
kỳ
-
Giá trị
sản
phẩm
ởng trực tiếp và quyết định. Các nhân tố đó là:
- Tiến bộ khoa học và công nghệ: Việc áp dụng nhanh chóng những
thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất là nhân tố cực kỳ quan
trọng cho phép doanh nghiệp hạ thấp giá thành sản phẩm và thành
công trong kinh doanh. Tiến bộ khoa học công nghệ đã làm thay đổi
nhiều điều kiện cơ bản của sản xuất nh tăng năng suất lao động nhờ
sử dụng máy móc thiết bị hiện đại, giảm chi phí nguyên vật liệu nhờ
sử dụng vật liệu thay thế.
- Chiến lợc nghiên cứu và phát triển của công ty: Vai trò của nghiên
cứu và phát triển trong việc giúp công ty đạt đợc hiệu quả cao là rất
lớn. Thứ nhất, nghiên cứu và phát triển có thể nâng cao hiệu quả
thông qua thiết kế những sản phẩm dễ chế tạo. Bằng cách cắt giảm số
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
bộ phận tạo nên một sản phẩm, nghiên cứu và phát triển có thể giúp
giảm mạnh thời gian lắp ráp, từ đó nâng cao năng suất lao động và hạ
thấp đơn vị sản phẩm. Tuy nhiên việc thiết kế chế tạo đòi hỏi sự phối
hợp chặt chẽ giữa chức năng chế tạo và chức năng nghiên cứu phát
triển của công ty. Điều này thực hiện đợc bằng cách thành lập các
nhóm bao gồm cán bộ chế tạo và cán bộ nghiên cứu phát triển, do vậy
họ có thể phối hợp giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả. Thứ hai,
nghiên cứu và phát triển có thể giúp công ty đạt đợc hiệu quả cao hơn
bằng cách đi đầu trong việc đổi mới quy trình chế tạo. Đổi mới quy
trình là một sự đổi mới trong phơng thức sản xuất, qua đó nâng cao
hiệu quả của những quy trình này.
- Trình độ tổ chức lao động và sử dụng con ngời: Đây là một nhân tố
quan trọng để nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm
của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao
động trong sản xuất. Việc tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết
hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý loại trừ tình trạng lãng phí
sản phẩm hỏng ít sai sót hơn, ít đình trệ hơn và sử dụng thời gian cũng nh
vật t tốt hơn.
+ Kết quả là năng suất tăng.
+ Chất lợng tốt hơn dẫn đến thị phần lớn hơn và cho phép công ty tăng giá
bán.
+ Tăng khả năng sinh lãi và cho phép công ty tiếp tục kinh doanh.
+ Công ty sẽ tạo thêm nhiều việc làm.
Nh vậy, tăng chất lợng sản phẩm cũng đồng nghĩa với việc hạ giá thành
sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Quản lý nguyên vật liệu: Đóng góp của quản lý nguyên vật liệu đối
với việc nâng cao hiệu quả cho công ty có tầm quan trọng rất lớn.
Quản lý nguyên vật liệu bao gồm các hoạt động cần thiết để đa
nguyên vật liệu đến nơi sản xuất, thông qua quá trình sản xuất, ra
khỏi hệ thống phân phối va đến tay ngời tiêu dùng. Tiềm năng để
giảm chi phí thông qua quản lý nguyên vật liệu một cách hiệu quả
là rất lớn. Một doanh nghiệp chế tạo có quy mô trung bình, chi phí
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nguyên vật liệu và vận chuyển chiếm tới 50 đến 70% doanh thu.
Thậm chí, một sự giảm nhỏ các chi phí này cũng có ảnh hởng rất
lớn đối với lợi nhuận của công ty. Theo ớc tính, nếu công ty có
doanh thu 1 triệu đô la, tỷ lệ lợi tức đầu t là 5%, và chi phí nguyên
vật liệu chiếm 50% doanh thu bán hàng, để tăng lợi nhuận thêm
15.000 đô la đòi hỏi phải tăng doanh thu bán hàng 30% hoặc giảm
3% chi phí nguyên vật liệu. Trên một thị trờng đã bão hoà thì việc
giảm 3% chi phí nguyên vật liệu dễ dàng hơn nhiều so với tăng
30% doanh thu bán hàng. Công ty có thể tiết kiệm chi phí thông
qua quản lý nguyên vật liệu một cách hiệu quả hơn bằng cách tổ
chức lại bộ phận quản lý nguyên vật liệu.
Để nâng cao hiệu quả quản lý nguyên vật liệu đòi hỏi công ty cần áp
nhân lực mỗi công ty có thể dựa trên ba lựa chọn chính: đào tạo và
phát triển nhân viên, tổ chức nhân viên thành các nhóm tự quản và
hình thức trả lơng cho nhân viên. Mỗi sự lựa chọn đều thể hiện một
động lực khích lệ nhân viên đóng góp khả năng của mình để đa
công ty đến sự thành công.
Ngoài ra, các công ty còn áp dụng các chính sách khác nhằm nâng cao
năng suất lao động của nhân viên nh: khuyến khích nhân viên, trao quyền
và đồng thời trao trách nhiệm cho nhân viên, khích lệ nhân viên sáng tạo,
đóng góp ý tởng, tự do phát biểu ý kiến để xây dựng tập thể, tạo ra không
khí và nơi làm việc thoải mái hào hứng để gây cho nhân viên một cảm tình
cũng nh sự gắn bó với nơi làm việc,
Tất cả các tác động trên ảnh hởng rất lớn đến vấn đề giảm chi phí sản
xuất, góp phần tích cực đến hạ giá thành sản phẩm
1.3 Tác động của giá thành sản phẩm đến sức cạnh tranh của sản
phẩm và yêu cầu hạ giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là nhân tố tác động mạnh mẽ, tiên quyết đến sức cạnh
tranh của sản phẩm. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn luôn phải đặt ra yêu
cầu hạ giá thành sản phẩm. Những tác động của giá thành đến sức cạnh tranh
của sản phẩm đợc thể hiện ở những mặt sau:
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Tác động của giá thành đến sức cạnh tranh của sản phẩm
Trong cơ chế thị trờng, quy luật cạnh tranh vừa là động lực cho sự phát
triển, vừa là thách thức gay gắt đối với các doanh nghiệp. Quá trình cạnh
tranh luôn gắn liền và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Trong quá trình cọ xát này, mỗi doanh nghiệp muốn giành thắng lợi
phải tự trang bị cho mình hai thứ vũ khí cơ bản đó là chất lợng cao và giá bán
hạ. Cùng một mức chất lợng, ngời tiêu dùng luôn có xu hớng chọn sản phẩm
có giá bán hạ hơn. Đặc biệt khi nền kinh tế còn cha đợc phát triển, mức sống,
thu nhập của ngời dân còn thấp thì chỉ tiêu giá cả có ý nghĩa quan trọng tạo
giá thông qua các luật lệ về giá.
Mỗi doanh nghiệp khi nắm chắc giá thành sản phẩm thay đổi nh thế nào
khi gia tăng khối lợng sản phẩm thì sẽ có cơ sở trực tiếp để tính giá bán, vừa
là căn cứ để có thể lựa chọn mức giá cạnh tranh, chiến lợc cạnh tranh hiệu
quả.
+ Vấn đề hạ giá thành sản phẩm
Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trờng cạnh tranh phải có những vị trí
nhất định, chiếm lĩnh những thị trờng nhất định. Đây là điều kiện duy nhất
duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp đó trong thị trờng. Sự tồn tại của doanh
nghiệp luôn bị các đối thủ khác bao vây. Vì vậy, để tồn tại trong thị trờng
doanh nghiệp luôn phải vận động, biến đổi với vận tốc ít nhất là ngang bằng
với đối thủ cạnh tranh. Trên thực tế ta thấy rõ trong thập kỷ vừa qua, thế giới
kinh doanh sống trong môi trờng mà sự xáo động của nó không ngừng làm
cho các nhà kinh tế phải ngạc nhiên, mọi dự đoán đều không vợt quá 5 năm.
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, các quốc gia tăng nhanh. Hầu
hết các thị trờng đều đợc quốc tế hoá. Chỉ có những doanh nghiệp có khả
năng cạnh tranh mới tồn tại trong thị trờng này. Vì vậy, trong môi trờng cạnh
tranh doanh nghiệp phải đa ra những biện pháp nhằm chiến thắng đối thủ
cạnh tranh. Chỉ nh vậy doanh nghiệp mới có chỗ đứng trên thị trờng . Doanh
nghiệp phải tạo ra và sử dụng cho đợc những lợi thế trong cạnh tranh. Mỗi
doanh nghiệp tuỳ vào đặc điểm của mình và môi trờng mà tạo lợi thế cạnh
tranh bên trong hay bên ngoài. Lợi thế cạnh tranh bên trong là dựa trên tính u
việt của doanh nghiệp trong việc làm chủ chi phí sản xuất. Nó tạo nên giá trị
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cho ngời sản xuất bằng cách tạo ra cho doanh nghiệp một giá thành thấp hơn
so với ngời cạnh tranh chủ yếu. Cốt lõi của cạnh tranh hiện nay đợc quan
niệm là tạo u thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Một doanh
nghiệp có thể tạo lợi thế cạnh tranh theo nhiều cách khác nhau: bằng cách
chọn tuyến thị trờng khác với đối thủ cạnh tranh, bằng cách đầu t giảm giá
lòng tin của ngời tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp
có vị trí ngày càng cao.
Để đạt đợc mức giá thấp doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ
giá thành sản phẩm của đơn vị mình. Có càng nhiều khả năng hạ giá thành sẽ
có nhiều lợi thế so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng hạ giá thành phụ thuộc
vào các yếu tố sau:
- Chi phí về kinh tế thấp
- Khả năng bán hàng tốt, do đó có khối lợng bán lớn
- Khả năng về tài chính tốt
Mỗi doanh nghiệp khi kinh doanh đều phải dựa vào đặc điểm của ng-
ời tiêu dùng. Khi mức sống còn thấp thì ngời tiêu dùng thờng tìm mua
những hàng hóa rẻ, do đó nhiều doanh nghiệp phải chấp nhận lời ít bán
giá thấp để bán đợc nhiều. Ngợc lại khi mức sống cao hơn ngời tiêu dùng
sẽ quan tâm đến những hàng hoá có chất lợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
Khi doanh nghiệp đã chọn đợc vũ khí cho mình rồi thì phải chuẩn bị
sao cho vũ khí đó phát huy hiệu quả cao nhất. Mục đích của doanh nghiệp
khi theo đuổi chiến lợc dẫn đầu về chi phí hoặc chiến lợc chi phí thấp là
hoạt động tốt hơn (có lợi thế hơn) các đối thủ cạnh tranh bằng việc làm
mọi thứ để có thể sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ ở chi phí thấp hơn các
đối thủ. Chiến lợc này có hai lợi thế cơ bản.
- Vì chi phí thấp hơn nên có thể đặt giá thấp hơn các đối thủ cạnh
tranh của mình mà vẫn thu đợc lợi nhuận bằng của các đối thủ. Nếu
các công ty trong ngành đạt các giá trị tơng tự cho các sản phẩm của
mình thì khi đó có thể thu đợc lợi nhuận cao hơn vì chi phí thấp hơn.
- Nếu sự cạnh tranh trong ngành tăng và các công ty bắt đầu cạnh
tranh bằng giá thì lúc đó sẽ có khả năng đứng vững trong cạnh tranh
tốt hơn các công ty khác vì chi phí thấp hơn của mình.
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Muốn vậy có thể hạ giá thành sản phẩm từ quy mô sản xuất lớn, độc
Doanh nghiệp và
đối thủ cạnh
tranh
áp lực của
nhà cung
ứng
áp lực của
người mua
Sản phẩm thay thế
Môi trường kinh tế Môi trường công nghệ
Môi trường tự nhiên