Lời mở đầu
Ngày nay, trong công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nớc, quy mô của
các ngành sản xuất ngày càng đợc mở rộng, của cải tạo ra đợc ngày càng nhiều.
Nhng trong thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng gặp thuận lợi may mắn, trái
lại, những rủi ro biến cố xã hội luôn có thể xảy ra gây thiệt hại cho chúng ta, trong
số các rủi ro đó, có rủi ro cháy. Ngời ta cũng đã tìm ra nhiều biện pháp khắc phục
những thiệt hại do cháy gây ra nh : lập đội cứu hoả, lắp đặt hệ thống bình chống
cháy, tham gia bảo hiểm cháy trong đó bảo hiểm cháy đ ợc xem là một trong
những biện pháp hữu hiệu nhất.
ở Việt Nam, bảo hiểm cháy là nghiệp vụ khá mới mẻ (đợc triển khai từ cuối
năm 1989 ), nhng nó đã sớm chứng tỏ đợc tầm quan trọng của mình nhất là khi n-
ớc ta chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị tr-
ờng. Tuy nhiên, việc triển khai nghiệp vụ này còn cha đúng với tiềm năng của nó,
vì thế việc đi sâu nghiên cứu là rất cần thiết.
Qua thời gian thực tập tại văn phòng III thuộc công ty cổ phần bảo hiểm
Petrolimex, đợc sự giúp đỡ của các cán bộ trong phòng, em đã chọn đề tài "Tình
hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy ở công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex
giai đoạn 1996-2001".
Bài viết này đuợc thực hiện với mục đích đánh giá thực tế tình hình triển khai
nghiệp vụ bảo hiểm cháy, những kết quả đạt đợc, những tồn tại cần giải quyết để
từ đó đa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lợng nghiệp vụ tại công ty .
đề tài đợc chia làm 3 phần nh sau :
Chơng I : Lí luận về bảo hiểm cháy và nghiệp vụ bảo hiểm cháy.
1
Chơng II : Thực tiễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại công ty cổ
phần bảo hiểm Petrolimex.
Chơng III :Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng và hiệu quả hoạt
động kinh doanh bảo hiểm cháy tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex.
Bài viết chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong biên tập
cũng nh trong trình bày. Em rất mong sự góp ý phê bình của các thầy cô giáo. Em
Lloyed. Theo số liệu thống kê ở Mĩ, mỗi năm có khoảng 2,3 triệu vụ cháy làm
chết 15000 ngời bị thơng 300000 ngời thiệt hại gần 2 tỉ USD. Một ví dụ thảm khốc
khác đó là vụ cháy rừng Indonexia năm 1998 làm cho nớc này bị mất đi một diện
3
tích rừng rộng lớn và gây ảnh hởng nghiêm trọng về môi trờng cho các nớc trong
khu vực.
Nhìn ra thế giới ta có thể thấy hậu quả do cháy gây ra thật khôn lờng. Nhìn lại
Việt Nam qua con số thống kê trong thời gian 30 năm (4/10/1961- 4/10/1991) đã
xảy ra 566030 vụ cháy (không kể cháy do chiến tranh) làm chết 2574 ngời,bị th-
ơng 4475 ngời, thiệt hại ớc tính 984 tỉ. Đặc biệt, số vụ cháy lớn trên tổng số vụ
cháy chiếm tỉ lệ ngày càng tăng. Cụ thể nh sau :
Ngày 5/2/1993 Công ty dệt Nha Trang bị cháy làm thiêu huỷ 3700 mét vuông
nhà xởng, kho tàng 350 tấn bông, 46 tấn vải, 1003 chiếc áo.
Ngày 22/7/1993 Công ty liên doanh sản xuất giày Hiệp Hng thành phố Hồ Chí
Minh bị cháy, thiệt hại 14 tỷ đồng.
Ngày 14/7/1994 cháy chợ Đồng Xuân, thiệt hại ớc tính 147 tỷ dồng .
Ngày 28/6/1997 cháy kho xăng dầu 131 Thuỷ Nguyên Hải Phòng thiệt hại 31
tỷ đồng.
Vụ cháy công ty dợc Đồng Tháp thiệt hại 4,5 tỷ .
Năm 2000 xảy ra vụ cháy công ty Hải Sơn thiệt hại 7,5 tỷ
Năm 2001 công ty giấy Vising Pard bị cháy đã làm cho Bảo Minh bồi thờng
khoản tiền lớn trị giá 1,2-1,4 triệu USD.
Đặc biệt, năm 2002 đã xảy ra vụ cháy rừng U MINH Thợng, U MINH Hạ, gây
thiệt hại không thể ớc tính .
Ngày nay khi loài ngời đã bớc vào cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ
ba, đó là cách mạng công nghệ thông tin, với tốc độ phát triển nh vũ bão và nền
kinh tế toàn cầu thờng xuyên tăng trởng. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của khoa học
kĩ thuật về an toàn thờng chậm hơn so với tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật trong
sản xuất, nguồn vốn đầu t cho an toàn thờng thấp hơn rất nhiều so với nguồn vốn
Amicable(1696), Sun(1710), Union(1714), London(1714). Phần lớn các công ty
5
này vẫn tồn tại đến nay và tiếp tục tăng trởng. Sau khi công ty bảo hiểm cháy đầu
tiên ra đời ở Anh, bảo hiểm cháy lan rộng sang Châu âu. Cụ thể là ở Đức, năm
1677 quỹ bảo hiểm cháy đầu tiên đợc thành lập.
Công ty bảo hiểm đầu tiên thành lập ở Mĩ là một công ty bảo hiểm tơng
hỗ do Beamjamen Franklia và một số thành viên khác sáng lập năm 1752 mang
tên The Philadelphia Contribution chuyên bảo hiểm cháy cho nhà cửa. Công ty
bảo hiểm cổ phần đầu tiên ở Mĩ mang tên The insurance company of North
American đợc thành lập năm 1792.
Ngày nay, nghiệp vụ bảo hiểm cháy đã đợc tiến hành ở hầu hết các nớc trên
thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của nó dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong việc
tìm kiếm dịch vụ trên thị trờng bảo hiểm. Hầu hết các công ty bảo hiểm phi nhân
thọ khi đặt văn phòng đại diện để mở rộng thị trờng, nghiệp vụ đầu tiên họ tiến
hành là nghiệp vụ cháy.
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự tăng trởng kinh tế, các công
trình xây dựng ngày càng tăng giá trị, đồng thời ngày càng có nhiều nghiệp vụ bảo
hiểm mới có tác dụng san sẻ bớt rủi ro của một nghiệp vụ, điều này đã làm cho phí
bảo hiểm cháy gỉảm xuống. Tuy nhiên, nghiệp vụ bảo hiểm cháy đã trở thành
nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống với doanh thu ngày càng cao.
Hàng năm tính riêng ở Nhật doanh thu phí bảo hiểm cháy trên 10 tỉ USD một
năm và chiếm 15,5% doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ.
Phí bảo hiểm cháy ở Mĩ chỉ chiếm 2% trong tổng số phí về bảo hiểm tài sản.
ở Việt Nam cha có tài liệu nào ghi rõ bảo hiểm cháy có từ bao giờ. Thời Pháp
thuộc đã có một số chi nhánh của Pháp ở Hà Nội và Sài Gòn tiến hành nghiệp vụ
này. Tuy nhiên triển khai đợc 9 năm thì chi nhánh bảo hiểm này ngừng hoạt động.
Sau đó đến thời Mĩ Thiệu thì bảo hiểm cháy ở miền Nam có phát triển hơn. Tại Sài
Gòn có 5 công ty bảo hiểm thì có ba công ty triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy.
Sau khi đất nớc thống nhất, do cơ chế bao cấp Nhà nớc bù đắp mọi thiệt hại, đảm
xã hội
1. Đặc điểm của bảo hiểm cháy
Bảo hiểm cháy là một loại hình bảo hiểm tài sản nhằm áp dụng cho các nhà
máy, xí nghiệp, khách sạn thuộc mọi thành phần kinh tế quốc dân. Giá trị bảo
hiểm cháy thờng là rất lớn, khi rủi ro xảy ra tổn thất không chỉ là một đơn vị nhỏ
mà có khi là toàn bộ gia sản. Vì vậy, việc các đơn vị này tham gia bảo hiểm cháy
là điều tất yếu và có nh vậy mới ổn định sản xuất kinh doanh và bảo toàn đồng
vốn. Hiểm họa cháy có thể hạn chế đợc nếu con ngời có ý thức và có các biện
pháp đề phòng hữu hiệu. Do đó, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất trong
nghiệp vụ này là xơng sống.
Bảo hiểm cháy chính là sự bảo trợ cho những tổn thất trực tiếp do cháy gây
nên. Ngoài ra, trong thực tế khi xảy ra cháy có thể phát sinh tổn thất gián tiếp. Các
tổn thất gây ra cho tài sản của ngời thứ ba và thuộc trách nhiệm của ngời bảo hiểm
nh thiệt hại về kinh doanh, thiệt hại gây ra cho ngời xung quanh.
Hoạt động của nghiệp vụ này mang tính chất kĩ thuật phức tạp. Đặc điểm này
đợc thể hiện rõ hơn qua cách xác định tổn thất, phân chia các đơn vị rủi ro, cách
tính phí, mức khấu trừ, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, công tác giám định
bồi thờng.
2.ý nghĩa kinh tế xã hội
Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, trình độ dân trí ngày
càng cao nhng chúng ta không thể né tránh đợc hết mọi rủi ro. ở các nớc phát
triển, ý thức PCCC và điều kiện phòng cháy chữa cháy tơng đối tốt, tuy nhiên
không có một sự đảm bảo nào là có hệ thống PCCC hoàn hảo để chống đỡ lại
những yếu tố ngẫu nhiên gây ra do sét hay do sơ suất của con ngời trong quá trình
hoạt động. Tại các nớc chậm phát triển, công nghệ còn lạc hậu, đặc biệt là ý thức
PCCC của ngời dân còn yếu kém nên cháy thờng xảy ra nhiều hơn
8
Bảo hiểm cháy là một hình thức chuyển giao tài trợ rủi ro, trong đó ngời bảo
hiểm chấp nhận gánh vác phần tổn thất tài chính khi rủi ro xuất hiện. Thông qua
ro, tổn thất sẽ đợc bù đắp bởi sự bồi thờng của các công ty bảo hiểm. Điều này
làm cho hệ thống lãi suất liên ngân hàng ổn định, tiền tệ lu thông bình thờng ngay
cả khi có nhiều vụ cháy lớn liên tiếp xảy ra.
Tất cả những gì nêu trên đã minh chứng cho tác dụng lớn lao về kinh tế, xã hội
của bảo hiểm cháy. Vì vậy một chính khách đã nói "Không có bảo hiểm sẽ không
có nhà t bản nào dám đầu t hàng triệu USD để xây dựng các tòa nhà lớn, bởi một
tàn thuốc lá có thể biến toà nhà ấy thành tro dễ dàng".
III. Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm
cháy
1.Một số khái niệm liên quan
Để thấy đợc các vấn đề của bảo hiểm cháy, trớc hết cần phải hiểu đợc một số
khái niệm có liên quan theo quy định chung của quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các
rủi ro đặc biệt của bộ tài chính ban hành theo quyết định 142/TCQB ngày
2/5/1991 sau đây:
Cháy là một phản ứng hoá học có toả nhiệt và phát ra ánh sáng.
Hỏa hoạn là cháy xảy ra không kiểm soát đợc ngoài ngọn lửa chuyên dùng,
gây thiệt hại cho con ngời và tài sản.
Tổn thất là toàn bộ thiệt hại về ngời và tài sản đợc gây ra bởi các rủi ro bảo
hiểm.
Tổn thất toàn bộ là tài sản đợc bảo hiểm bị phá huỷ hoặc h hại hoàn toàn
không thể phục hồi lại đợc nh trạng thái ban đầu.
Tổn thất toàn bộ ớc tính là tài sản đợc bảo hiểm bị phá huỷ hoặc h hại đến mức
nếu sửa chữa hoặc phục hồi thì chi phí đó sẽ lớn hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm.
2. Đối tợng bảo hiểm
10
Đối tợng bảo hiểm là tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lí hợp pháp của các
đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ, các tổ chức, các cá nhân thuộc mọi thành
phần kinh tế trong xã hội.
Nh vậy đối tợng của bảo hiểm cháy thờng bao gồm:
tài sản và ảnh hởng đến sức khoẻ con ngời.
Trong bảo hiểm cháy không phải tất cả mọi rủi ro đều đợc bảo hiểm. Chúng ta
sẽ tìm hiểu rủi ro đợc bảo hiểm và rủi ro không đợc bảo hiểm.
4.1. Những rủi ro đợc bảo hiểm
Rủi ro cơ bản:
Rủi ro cơ bản là những rủi ro nh : cháy, sét, nổ.
Cháy đợc quy định là cháy có gây ra tổn thất, có ngọn lửa, có sự tự phá huỷ
nhng loại trừ nguyên nhân gây ra cháy là động đất, núi lửa phun hoặc các biến
động khác của thiên nhiên và những thiệt hại gây ra do tự phát nhiệt của bản thân
tài sản, hoặc trờng hợp tài sản phải trải qua bất kì quá trình nào liên quan tới việc
sử dụng nhiệt. Ngoài ra bất kì thiệt hại nào gây nên bởi hoặc do hậu quả của việc
đốt rừng, bụi cây, đồng cỏ hoặc đốt cháy với mục đích làm sạch đồng ruộng, đất
đai dù là ngẫu nhiên cũng không đợc bồi thờng.
Sét: rủi ro do sét gây nên không nhất thiết gây ra cháy cũng sẽ đợc bảo hiểm.
Tuy nhiên, chỉ có những thiệt hại trực tiếp do tia sét gây ra hoặc làm biến dạng
hoặc gây cháy cho tài sản đó mới đợc bồi thờng.
Nổ: nổ là hiện tợng cháy cực nhanh, tạo ra hoặc giải phóng một áp lực cực lớn
kèm theo một tiếng động mạnh phát sinh bởi sự giãn nở nhanh và mạnh của các
12
chất lỏng và khí. Các trờng hợp nổ gây cháy đã nghiễm nhiên đợc bảo hiểm. Nh
vậy, ở đây ta chỉ xét những thiệt hại do nổ mà không gây cháy. Mọi đơn bảo hiểm
cháy đều bảo hiểm rủi ro nổ trong một phạm vi có giới hạn. Nghiệp vụ bảo hiểm
này chỉ hạn chế ở những vụ nổ do ga hay nồi hơi phục vụ cho sinh hoạt gây ra.
Tuy nhiên, với điều kiện là sự cố đó không phải do các nguyên nhân bị loại trừ nh-
: thiệt hại gây nên do khủng bố, do áp lực và các chất chứa trong các máy móc,
thiết bị. Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ cháy : thiệt hại ban đầu do cháy
đợc bồi thờng nhng những thiệt hại do hậu quả của nổ thì không.
Ngoài ra, còn có các thiệt hại vật chất không phải do cháy trực tiếp gây ra:
Thiệt hại do khói mà nguồn lửa gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
thải công nhân, chiến tranh xâm lợc, các hoạt động thù địch của nớc ngoài, chiến
sự nổi loạn, nội chiến, khởi nghĩa, cách mạng binh biến, bạo động khủng bố
Bất kì tổn thất nào trực tiếp hay gián tiếp mà nguyên nhân gây ra có liên quan
đến phóng xạ ion hoá hay nhiễm phóng xạ từ nguyên liệu hạt nhân hoặc từ các
chất thải của nó, các thuộc tính phóng xạ, độc, nổ hoặc các thuộc tính nguy hiểm
khác của thiết bị nổ hạt nhân hay bộ phận của thiết bị đó.
Những tổn thất về: hàng hoá nhận uỷ thác hay kí gửi trừ khi những hàng hoá
này đợc xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm và nộp thêm phí theo tỉ lệ quy
định. Hàng nhận uỷ thác ở đây chỉ có nghĩa là hàng gửi thông thờng chứ không
bao gồm hàng uỷ thác xuất khẩu.
Những thiệt hại xảy ra đối với bất kì máy móc, khí cụ điện nào hay bất kì bộ
phận nào của thiết bị điện chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, rò
điện do bất cứ nguyên nhân nào.
Tuy nhiên, điểm loại trừ này chỉ áp dụng đối với chính máy móc, khí cụ điện
hoặc những bộ phận của khí cụ điện chịu tác động trực tiếp của hiện tợng nêu trên
14
chứ không áp dụng đối với những máy móc khí cụ và các thiết bị điện nói trên h
hỏng do nguyên nhân khác.
Những thiệt hại gây ra do sự ô nhiễm, nhiễm bẩn loại trừ những thiệt hại đối
với tài sản đợc bảo hiểm xảy ra do:
Ô nhiễm môi trờng, bẩn phát sinh từ những rủi ro đợc bảo hiểm.
Bất kì rủi ro đợc bảo hiểm nào mà chính những rủi ro ấy lại phát sinh từ ô
nhiễm hay nhiễm bẩn.
Những thiệt hại về tiền bạc hay kim loại quý, đá quý, chứng khoán, th bảo
lãnh, tem phiếu, tài liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lu trữ trong máy
tính điện tử, bản mẫu văn bằng, mẫu bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi là những tài
sản trên đợc xác định bảo hiểm theo đơn bảo hiểm cháy.
Thiệt hại, xảy ra đối với những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, đợc
bảo hiểm hay lẽ ra đợc bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại v-
sử dụng đợc nữa.
Giá trị bảo hiểm cuả máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khác đợc xác
định trên cơ sở giá mua mới (bao gồm giá mua, chi phí vận chuyển, lắp đặt, thuế
GTGT) hoặc giá trị còn lại (giá trị mua mới đã trừ đi khấu hao và thờng nhỏ hơn
70% giá trị mua mới). Với những tài sản cố định đã cũ mà giá trị còn lại dới 70%
thì thờng lấy theo giá trị còn lại.
Giá trị của thành phẩm và bán thành phẩm đợc xác định trên cơ sở giá thành
sản xuất bao gồm cả chi phí nguyên vật liệu, tiền công lao động và khấu hao tài
16
sản cố định, chi phí quản lí Trong tr ờng hợp giá thành sản xuất cao hơn giá bán
có thể bán đợc thì ta lấy giá trị bảo hiểm là giá bán.
Giá trị của hàng hoá mua để trong kho, trong cửa hàng đợc xác định theo giá
mua (xác định theo hoá đơn chứng từ) cộng chi phí vận chuyển.
Tuy nhiên, giá trị bảo hiểm còn biến động tuỳ thuộc vào trờng hợp cụ thể do
đó nhà bảo hiểm có những biện pháp linh hoạt để xác định giá trị bảo hiểm, ví dụ
nh bức tranh cổ, kỉ vật của những ngời nổi tiếng những tài sản mà giá trị th ờng
biến động theo thời gian hoặc sự ngỡng mộ của dân chúng.
5.2 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thờng tối đa của nhà bảo hiểm.
Trong trờng hợp tài sản đợc bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ. Số tiền bảo hiểm là
căn cứ xác định phí bảo hiểm. Vì thế xác định chính xác số tiền bảo hiểm có ý
nghĩa rất quan trọng. Cơ sở xác định số tiền bảo hiểm là giá trị bảo hiểm .
Trong nền kinh tế thị trờng, quy mô sản xuất kimh doanh có xu hớng ngày
càng phát triển do đó số lợng giá trị tài sản cũng tăng lên. Mặt khác, tài sản của
mỗi nhóm thờng xuyên biến động hoặc có những tài sản khó xác định giá trị.
Thông thờng số tiền bảo hiểm do công ty bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm
thoả thuận tức là số tiền bảo hiểm do ngời bảo hiểm yêu cầu và ngời đợc bảo hiểm
chấp nhận. Số tiền bảo hiểm có thể thấp hơn hoặc cao hơn giá trị bảo hiểm (trớc
đây thông thờng số tiền bảo hiểm thấp hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm).
hiểm trên thế giới sử dụng hai chỉ tiêu:
Bảo hiểm giá trị trung bình: thực tế để cho đơn giản, cuối năm không phải điều
chỉnh lại số tiền bảo hiểm cũng nh phí bảo hiểm, đồng thời tiện cho công tác TBH
thì ngời ta thờng bảo hiểm theo giá trị trung bình. Điều này có nghĩa là ngời tham
gia bảo hiểm ứơc tính và thông báo cho công ty bảo hiểm biết giá trị trung bình
của hàng hoá trong kho, trong cửa hàng của mình. Trong thời hạn bảo hiểm giá trị
trung bình này đợc coi nh số tiền bảo hiểm.
18
Khi tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, ngời bảo hiểm bồi thờng thiệt hại
thực tế nhng không vợt quá giá trị trung bình đã khai báo. Phí bảo hiểm trong tr-
ờng hợp này tính trên cơ sở giá trị trung bình.
Bảo hiểm theo giá trị tối đa: trờng hợp này ngời đợc bảo hiểm ớc tính và thông
báo cho ngời bảo hiểm biết giá trị của số hàng hoá tối đa có thể đạt đợc vào một
thời diểm nào đó trong thời gian bảo hiểm. Nh vậy trong trờng hợp này ngời tham
gia bảo hiểm và ngời bảo hiểm phải hiểu đợc giá trị tối đa coi nh là số tiền bảo
hiểm từ đó suy ra số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Điều đó chứng minh"vì sao số tiền bảo hiểm cũng có thể lớn hơn giá trị bảo hiểm
. Phí bảo hiểm đợc tính theo giá trị tối đa này và ngời tham gia bảo hiểm có trách
nhiệm nộp trớc 75%phí. Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm, ngời bảo
hiểm bồi thờng thiệt hại thực tế nhng không vợt quá giá trị tối đa đã khai báo. Đầu
mỗi tháng, mỗi quý (tuỳ theo sự thoả thuận của hai bên), ngời đợc bảo hiểm thông
báo số hàng tối đa thực có trong tháng trong quý trớc đó. Công tác này nhằm tránh
tình trạng khách hàng cố tình hạ thấp số tiền bảo hiểm vào cuối năm và do đó
giảm bớt số tiền phí bảo hiểm phải trả hàng tháng, hàng quý.
Cuối thời hạn bảo hiểm, trên cơ sở giá trị thông báo, ngời bảo hiểm sẽ tính lại
giá trị số hàng tối đa bình quân của cả thời kì bảo hiểm và tính lại phí dựa vào giá
trị tối đa bình quân này. Nếu số phí bảo hiểm tính đợc dựa trên cơ sở giá trị tối đa
bình quân nhiều hơn số phí bảo hiểm đã nộp(2/3)thì ngời đợc bảo hiểm có trách
nhiệm nộp thêm số phí bảo hiểm còn thiếu cho công ty bảo hiểm. Ngợc lại, trờng
6. Phí bảo hiểm và các nhân tố ảnh hởng.
6.1 Phí bảo hiểm và cách xác định
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà ngời tham gia bảo hiểm nộp cho công ty bảo
hiểm khi họ chuyển rủi ro cho công ty bảo hiểm. Nh vậy, phí bảo hiểm chính là
giá cả của dịch vụ bảo hiểm. Tính toán mức phí vừa phải với khách hàng và đảm
bảo mục tiêu kinh doanh là vấn đề phức tạp đòi hỏi sự năng động, sáng tạo của các
công ty bảo hiểm nhất là trong kinh tế thị trờng cạnh tranh gay gắt nh hiện nay.
20
Đối với bảo hiểm cháy phí bảo hiểm đợc quy định riêng cho từng rủi ro và nếu
ngời đợc bảo hiểm muốn đợc bảo hiểm thêm những rủi ro phụ thì phải nộp thêm
phí bảo hiểm theo tỉ lệ quy định. Thời hạn nộp phí bảo hiểm do ngời tham gia thoả
thuận với công ty bảo hiểm. Nhng thông thờng, ngời tham gia bảo hiểm nộp phí
một lần sau khi kí hợp đồng thì hợp đồng có hiệu lực. Trờng hợp số phí bảo hiểm
quá lớn, để giảm bớt khó khăn cho ngời đợc bảo hiểm thì hai bên có thể thoả
thuận với nhau là nộp phí thành nhiều lần nhng không đợc quá bốn kì và phí kì
nào chỉ có hiệu lực cho kì ấy.
Trong bảo hiểm cháy, khi đối tợng bảo hiểm là tài sản có giá trị quá lớn và th-
ờng đa dạng về chủng loại, về mức độ rủi ro thì phí bảo hiểm cháy phải bao gồm
hai phần sau:
Phần thực phí
Phần phụ phí
Phần thực phí (phí thuần) là cơ sở hình thành nên quỹ bồi thờng để chi trả cho
ngời tham gia bảo hiểm khi đối tợng bảo hiểm bị tổn thất do các rủi ro đợc bảo
hiểm gây ra. Phí thuần là bộ phận quan trọng nhất của phí bảo hiểm thể hiện mối
quan hệ trực tiếp giữa ngời bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm.
21
Mức phí thuần đợc tính dựa vào xác xuất rủi ro, xác xuất này đợc xác định:
X = t/T
của dân c
Nhng cách xác định tỉ lệ theo phân loại cần xét các yếu tố ảnh hởng đến tỉ lệ
phí:
+ Vật liệu xây dựng bằng gì.
+ Khả năng phòng cháy chữa cháy.
+ Ngời sử dụng.
+ Những vật bố trí xung quanh, bên ngoài (những công trình đặc biệt dễ cháy
để gần lửa lan nhanh tới tài sản đợc bảo hiểm).
Xác định tỉ lệ phí theo danh mục:
Bớc1: Rà xét lại các danh mục tài sản tham gia bảo hiểm rồi phân loại tài sản
theo danh mục khác nhau(vì mỗi loại tài sản có khả năng cháy nổ khác nhau).
Bớc 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỉ lệ phí thích
hợp trong bảng tỉ lệ phí có sẵn.
Bớc 3 : Điều chỉnh tỉ lệ phí đã chọn theo yếu tố tăng(giảm).
23
Việc điều chỉnh này phải căn cứ vào : vật liệu xây dựng
Tất cả những yếu tố này đều có thể làm tăng hoặc giảm tỉ lệ phí.
Các công ty bảo hiểm thờng quy định nh sau :
+ Loại D :Giảm tối đa 10%phí bảo hiểm trong biểu phí.
Các công trình loại D phải đạt đợc những yêu cầu sau:
Bộ phận chịu lửa : gồm cột chịu lực, xà, dầm, tờng chịu lực làm bằng vật liệu
không cháy, mái nhà có khả năng chịu lửa ít nhất là 30 phút.
Bộ phận không chịu lực : gồm tờng ngăn cách bên trong và bên ngoài, trần
không chịu lực đ ợc xây bằng vật liệu không cháy (gạch ngói bê tông cốt thép).
+Loại N :giữ nguyên tỉ lệ phí.
Các công trình này không đạt các tiêu chuẩn nh loại D, nhng ít nhất thì các bộ
phận chịu lực và các cấu kiện khác cũng phải làm bằng vật liệu khó cháy.
+Loại L: tăng tối đa 10% tỉ lệ phí trong biểu phí.
Là loại công trình không đạt đợc các yêu cầu loại D và N.
Tất cả những yếu tố làm tăng rủi ro đòi hỏi ngời đánh giá rủi ro phải xem xét
kĩ lỡng và phải đánh giá trung thực tránh đánh giá sai lệch sẽ gây bất lợi cho công
ty bảo hiểm .
6.3. Các yếu tố làm giảm phí bảo hiểm
Trong nghiệp vụ bảo hiểm cháy, các công ty bảo hiểm cần quan tâm đến các
yếu tố làm giảm mức độ rủi ro vì các yếu tố này là cơ sở để giảm mức phí cơ bản.
25