TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LÊ THỊ THẢO
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. LÊ HÙNG SƠN
Hà Nội, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa
học, độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Lê Thị Thảo
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
Ba l : Xây d ng h th ng nh m c, tiêu chu n chi tiêu cho phù h pà ự ệ ố đị ứ ẩ ợ
77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DT Dự toán
GTGT Giá trị gia tăng
HĐND Hội đồng nhân dân
KBNN Kho bạc nhà nước
KH Kế hoạch
NSĐP Ngân sách địa phương
NSNN Ngân sách nhà nước
NSTW Ngân sách trung ương
TH Thực hiện
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Chính phủ và chính quyền địa phương đã nỗ lực để nâng cao hiệu quả
phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính công từ khi thực hiện Luật Ngân sách
đến nay, nhưng kết quả đạt được chưa cao. Nhiều địa phương đã chưa thực
hiện tốt những nội dung mà Luật Ngân sách quy định, đặc biệt là việc thời
gian lập dự toán, quyết toán và thực hiện công khai minh bạch, chính xác
khách quan trong công tác quản lý điều hành ngân sách. Một trong những hạn
chế chủ yếu là ngân sách xã. Là ngân sách xã ngoài việc chấp hành theo luật
Ngân sách Nhà nước, ngân sách xã còn được hướng dẫn riêng và chịu sự chi
phối bởi các Nghị quyết và chính sách của chính quyền cấp Tỉnh. Do vậy,
1
hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã là góp phần thực hiện thành công
công tác điều hành ngân sách địa phương nói riêng và quản lý nhà nước địa
phương nói chung.
Đối với Nghệ An, một tỉnh còn đang bị động về nguồn lực tài chính thì
vấn đề giải quyết nguồn lực tài chính cho ngân sách xã còn nhiều khó khăn.
Chính vì vậy với bản thân phát triển nội lực cần phải có những giải pháp để
tăng cường chủ động cho ngân sách xã, khai thác tốt nguồn thu, tiết kiệm chi
đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước trên địa bàn, đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ, hàng hóa công cho người dân. Trong định
hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2015 của Tỉnh cũng nêu lên những
vấn đề cần tập trung giải quyết:
- Thực hiện tốt chương trình cải cách hành chính cả về thể chế, tổ chức
bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức và tài chính công. Trước hết là cải cáh thủ
tục hành chính phù hợp với mục tiêu, yêu cầu về tính đồng bộ, thống nhất,
khả thi, công khai minh bạch trong quản lý, điều hành.
- Đẩy mạnh phân cấp ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương để
phát huy tính chủ động, năng động sang tạo và chịu trách nhiệm của từng
ngành, các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và điều hành ngân sách,
tài chính.
Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho các cơ quan hành chính, tổ chức
3. Mục đích của nghiên cứu
Bất kỳ một chính quyền nào, đặc biệt là chính quyền cấp xã thì việc xác
định mục tiêu ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện quản lý ngân sách xã. Điều đó
tạo cho chính quyền địa phương cơ bản hoàn toàn chủ động, nâng cao trách
nhiệm trong quản lý thu – chi ngân sách; lập ngân sách sát với người dân và
nhu cầu phát triển của địa phương; tăng cường tính công khai, minh bạch
trong công tác quản lý ngân sách. Có thể nói ngân sách xã là một mắt xích
3
quan trọng trong hệ thống các cấp ngân sách của địa phương, vì thế công tác
điều hành ngân sách xã tốt giúp cho công tác điều hành ngân sách địa phương
đó tốt hơn.
Như vậy, mục đích của nghiên cứu là nhằm xây dựng mô hình quản lý
ngân sách xã mà trong đó chính quyền cấp xã thực sự chủ động về nguồn lực
tài chính, tăng cường sự phối hợp chia sẻ thông tin kinh tế - xã hội giữa chính
quyền cấp xã và người dân. Để dịch vụ, hàng hóa công cung cấp cho xã hội
đạt hiệu quả cao nhất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ngân sách xã là một khái niệm khá rộng trong đó chủ yếu tập trung vào
hai nội dung chính là thu và chi ngân sách xã. Trong phạm vi bài luận văn của
mình tác giả xin phép đi sâu vào nghiên cứu một cách khái quát hai nội dung
trên để có thể đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân
sách xã.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tình hình quản lý và thu chi ngân sách
xã trên địa bàn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu thích ứng với tính chất quản
lý ngân sách xã. Trong đó chú trọng phương pháp duy vật biện chứng và lịch
sử, diễn dịch, phân tích thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về NSX và công tác quản lý NSX.
a. Khái niệm về ngân sách xã:
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, bao
gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực
hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Ngân sách nhà nước được phân định thành ngân sách Trung ương và
ngân sách địa phương. Ngân sách Trung ương là ngân sách của các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (Tỉnh, huyện, xã).
Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, là quỹ tiền tệ
tập trung phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là chính quyền xã với một
bên là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài chính nhằm
đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của chính quyền xã trên mọi lĩnh vực
kinh tế, chính trị, an ninh trật tự và văn hoá, xã hội trên địa bàn theo phân cấp.
Nói một cách cụ thể: NSX là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định trong
dự toán hàng năm do HĐND cấp xã quyết định và giao cho UBND cấp xã thực
hiện nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã.
1.1.1.2. Đặc điểm của Ngân sách xã
NSX là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN, vì vậy nó có đầy đủ
những đặc điểm chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương, cụ thể:
6
+ Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật;
+ NSX được quản lý và điều hành theo dự toán và theo chế độ, tiêu
chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định;
+ Hoạt động thu chi của Ngân sách xã luôn gắn liền với chức năng,
nhiệm vụ của chính quyền xã đã được phân cấp, đồng thời luôn chịu sự kiểm
tra, giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước cấp xã - đó là HĐND cấp xã;
+ Ngân sách xã là cấp Ngân sách cuối cùng gắn chặt với việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, là nơi trực tiếp giải quyết mối
vào nhiệm vụ chi đối với cấp xã, khả năng thu từ các nguồn ngân sách nhà
nước trên địa bàn; phân cấp tối đa nguồn thu tại chỗ, đảm bảo các xã chủ động
cân đối được các nhiệm vụ chi thường xuyên, các xã có nguồn thu khá có
phần dành để đầu tư phát triển, hạn chế việc bổ sung từ ngân sách cấp trên,
tăng số xã tự cân đối được ngân sách, giảm dần số xã phải nhận bổ sung cân
đối ngân sách từ cấp trên. Các địa phương cũng có thể tham khảo những chỉ
dẫn mà Bộ Tài chính đã đưa ra trong Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày
23/6/2003 về phân định nguồn thu cho NSX như sau:
*Các khoản thu ngân sách xã hưởng 100%:
Là các khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài
chính bảo đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư. Căn cứ quy mô nguồn
thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa
nguồn tại chỗ cho cấp xã, khi phân cấp nguồn thu, HĐND cấp tỉnh xem xét
dành cho NSX hưởng 100% các khoản thu dưới đây:
a) Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định.
b) Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách nhà
nước theo chế độ quy định;
c) Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản khác do xã quản lý;
8
d) Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: Các khoản
huy động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp tự nguyện để
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND xã quyết định đưa vào ngân sách xã
quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác;
đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước trực
tiếp cho ngân sách xã theo chế độ quy định;
e) Thu kết dư ngân sách xã năm trước;
g) Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật.
* Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách xã với ngân
sách cấp trên:
sách và được giao ổn định từ 3 đến 5 năm theo Luật NSNN.
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung để hỗ trợ xã thực hiện
một số nhiệm vụ cụ thể phát sinh ngoài dự toán giao đầu năm.
1.1.2.2. Nhiệm vụ chi của ngân sách xã
Chính quyền nhà nước cấp xã sử dụng ngân sách xã để đảm bảo thực
hiện các chức năng quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tiến tới đạt được các
mục tiêu chiến lược về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Chi ngân sách xã gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. HĐND
cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi, định mức phân bổ chi thường
xuyên cho ngân sách xã, cụ thể các nhiệm vụ chi như sau:
* Chi đầu tư phát triển: Gồm chi cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới các
công trình thuộc hệ thống hạ tầng kỹ thuật của xã như: Đường giao thông,
kênh mương tưới tiêu nước, trường học, trạm y tế, hệ thống truyền thanh, nhà
văn hoá xã Các khoản chi đầu tư phát triển thể hiện rõ mục đích tích luỹ,
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSX nên trước khi quyết định đầu
tư, UBND cấp xã cần xác định rõ sự cần thiết phải đầu tư, nguồn vốn đảm bảo
cho công trình, tránh tình trạng quyết định đầu tư dàn trải khi chưa có nguồn
đảm bảo làm tăng nợ XDCB, mất khả năng cân đối ngân sách.
10
* Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi chủ yếu sau:
a). Chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước ở xã:
+ Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã.
+ Phụ cấp đại biểu Hội đồng nhân dân, phụ cấp cấp uỷ
+ Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước.
+ Công tác phí.
+ Chi về hoạt động văn phòng như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm,
phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi phí tiếp tân, tiếp khách.
+ Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc.
+ Chi khác theo chế độ quy định.
b). Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã.
thông, công trình cấp và thoát nước công cộng
l). Chi sự nghiệp kinh tế: khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư,
khuyến lâm, kiến thiết thị chính, SN giao thông theo chế độ quy định.
m). Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật.
1.2. VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH XÃ
1.2.1. Đối với sự phát triển kinh tế
NSX là quỹ tiền tệ tập trung của chính quyền cấp xã, cung cấp nguồn
kinh phí cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà
nước ở cơ sở, giúp chính quyền cấp xã thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
theo luật định.
NSX là công cụ cần thiết giúp UBND cấp xã thực hiện quản lý hiệu quả
các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn, điều chỉnh các hoạt động đó đi
đúng định hướng, là nguồn kinh phí quan trọng giúp UBND cấp xã thực hiện
thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà các cấp uỷ đảng đã đề ra.
Thông qua thu NSX, bằng việc đề ra hệ thống luật pháp, hệ thống thuế,
công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên
12
địa bàn xã được tăng cường, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh theo
đúng định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của huyện đồng thời phát
hiện và ngăn chặn kịp thời các hoạt động kinh tế phi pháp, kinh doanh hàng
giả, hàng kém chất lượng, trốn lậu thuế
NSX cung cấp nguồn kinh phí đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội ở địa phương, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời
và phát triển của các cơ sở kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
trên địa bàn xã, đảm bảo cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển theo
đúng định hướng XHCN, qua đó tạo nguồn thu ổn định với quy mô ngày
càng tăng cho ngân sách cấp xã, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn đầu tư cũng
như chi tiêu thường xuyên ngày càng tăng của chính quyền cơ sở.
1.2.2. Đối với sự phát triển xã hội
Thông qua các hoạt động thu chi của NSX tạo điều kiện cho kinh tế phát
thực hiện dở dang.
- Dự toán chi thường xuyên phải được tuân theo các chính sách, chế độ,
tiêu chuẩn, định mức của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Lập dự toán NSX phải đảm bảo nguyên tắc cân đối, chi không được
vượt quá nguồn thu được hưởng theo phân cấp. Nghiêm cấm vay dưới mọi
hình thức, chiếm dụng vốn hoặc để cân đối NSX.
- Dự toán phải được lập theo đúng biểu mẫu quy định, đúng thời gian,
đúng mục lục NSNN, gửi kịp thời cho các cơ quan chức năng của Nhà nước
xét duyệt, đồng thời phải có thuyết minh làm rõ cơ sở, căn cứ tính toán.
1.3.1.2. Căn cứ lập dự toán Ngân sách xã
Dự toán ngân sách xã được lập dựa trên những căn cứ cụ thể, đảm bảo
xác lập các chỉ tiêu thu, chi NSX một cách tương đối chính xác, khoa học.
Các căn cứ lập dự toán ngân sách xã bao gồm:
14
- Chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, của huyện;
- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng,
trật tự an toàn xã hội trên địa bàn của xã;
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi Ngân sách do Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, Bộ Tài chính quy định. Cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm
vụ chi NSX và tỷ lệ phân chia nguồn thu do HĐND cấp tỉnh quy định;
- Số kiểm tra về dự toán NSX do UBND huyện thông báo;
- Tình hình thực hiện dự toán NSX các năm trước, ước thực hiện Ngân
sách năm hiện hành.
1.3.1.3. Trình tự lập dự toán Ngân sách xã
- Ban tài chính xã phối hợp với cơ quan Thuế, tổ đội Thuế xã (nếu có), tổ
uỷ nhiệm thu, các thôn, đội sản xuất để tính toán các khoản thu ngân sách trên
địa bàn trong phạm vi phân cấp cho xã quản lý theo Nghị quyết HĐND tỉnh.
- Các ban ngành, tổ chức của xã (Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội
phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh ) căn cứ chức năng nhiệm vụ
được giao và chế độ, định mức tiêu chuẩn chi hiện hành, tiến hành lập dự trù
nội dung kinh tế và theo mục lục ngân sách. Có thể phân chia các nhu cầu chi
tại xã theo các nhóm mục chi như sau:
+ Nhóm chi cho con người: Gồm chi lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, các
khoản phụ cấp cho cán bộ theo quy định hiện hành.
+ Nhóm chi nghiệp vụ chuyên môn và quản lý hành chính: Gồm những
khoản chi nhằm trang trải các chi phí liên quan đến hàng hoá, dịch vụ đã mua
để phục vụ cho hoạt động của cơ quan, chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã
hội như: Chi mua báo chí, văn phòng phẩm, tài liệu, chè nước, điện thoại,
điện thắp sáng và các khoán chi hoạt động khác. Các khoản thuộc nhóm này
thường được tính toán theo một hệ số nhất định so với số chi cho con người ở
các hoạt động tương ứng.
16
+ Nhóm chi sửa chữa TSCĐ: Bao gồm cả sửa chữa thường xuyên và sửa
chữa lớn. Việc xác định nhu cầu dự kiến chi cho nhóm chi này phải căn cứ
vào hiện trạng tài sản cố định ở xã, khả năng cân đối nguồn thu của NSX.
+ Nhóm chi đầu tư phát triển: Việc xác định nhu cầu chi ngân sách xã dự
kiến kỳ kế hoạch cho nhóm chi này dựa vào các dự án đầu tư đã được duyệt
và khả năng nguồn vốn ngân sách xã có thể huy động cho đầu tư phát triển,
trong khi phân bổ cần ưu tiên trả nợ cho những công trình XDCB đã hoàn
thành năm trước mà chưa được thanh toán hết nợ.
+ Chi dự phòng: Theo Luật NSNN, NSX phải thực hiện trích dự phòng
từ 2% đến 5% tổng chi ngân sách theo dự toán hàng năm nhằm đảm bảo trang
trải các nhu cầu chi đột xuất, bất khả kháng như: Khắc phục hậu quả thiên tai,
lũ lụt, dịch hoạ
c. Cân đối ngân sách xã:
Cân đối NSX phải đảm bảo tổng thu NSX cân bằng với tổng chi NSX,
đồng thời đưa ra cơ cấu thu, chi ngân sách xã một cách hợp lý, đảm bảo cho
chính quyền cấp xã thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của mình.
Sau khi hoàn thành việc lập các biểu mẫu dự toán thu, chi ngân sách xã,
Ban Tài chính xã phải tiến hành lập biểu cân đối tổng hợp dự toán NSX nhằm
chuyển khoản hoặc nộp bằng tiền mặt) đến KBNN để nộp trực tiếp các khoản
phải nộp theo quy định vào NSNN.
- Trường hợp đối tượng phải nộp ngân sách không có điều kiện nộp tiền
trực tiếp vào NSNN tại KBNN theo quy định thì: Đối với các khoản thu thuộc
nhiệm vụ thu của cơ quan thuế, cơ quan thuế thu, sau đó lập giấy nộp tiền và
nộp tiền vào KBNN. Trường hợp cơ quan thuế uỷ quyền cho Bộ phận kế toán
xã thu cũng thực hiện theo quy trình trên và được hưởng phí uỷ nhiệm thu
theo quy định. Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của Ban tài chính
xã, Ban tài chính xã thu sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào KBNN hoặc
nộp vào quỹ của ngân sách xã để chi theo chế độ quy định (đối với các xã
18
miền núi vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với
KBNN).
- Đối với nguồn thu từ quỹ đất công ích, hoa lợi công sản: Đây là
nguồn thu thường xuyên của ngân sách xã. Trong quá trình tổ chức thu,
UBND cấp xã không được đấu thầu thu khoán một lần cho nhiều năm làm
ảnh hưởng đến việc cân đối ngân sách xã của các năm sau. Trường hợp thật
cần thiết phải thu một lần cho một số năm, thì chỉ được thu trong nhiệm kỳ
của Hội đồng nhân dân, không được thu trước thời gian của nhiệm kỳ Hội
đồng nhân dân khoá sau.
- Khi thu phải giao biên lai cho đối tượng nộp, nghiêm cấm thu không có
biên lai, để ngoài sổ sách. Cơ quan thuế và Phòng tài chính huyện có nhiệm
vụ cung cấp biên lai đầy đủ, kịp thời cho Ban Tài chính xã để thực hiện thu
nộp NSNN. Định kỳ, Ban tài chính xã báo cáo việc sử dụng và quyết toán
biên lai đã được cấp với cơ quan cung cấp biên lai.
- Trường hợp cơ quan thẩm quyền quyết định phải hoàn trả khoản thu
ngân sách xã, KBNN xác nhận rõ số tiền đó thu vào ngân sách xã của các đối
tượng nộp trực tiếp hoặc chuyển khoản vào KBNN. Đối với đối tượng nộp
qua cơ quan thu, cơ quan thu xác nhận để Bộ phận kế toán xã làm căn cứ
hoàn trả.
pháp luật về kế toán, thống kê, quyết toán kinh phí với Ban Tài chính xã và
thực hiện công khai kết quả thu, chi tài chính của tổ chức, đơn vị mình.
- Ban Tài chính xã có trách nhiệm: Thẩm tra nhu cầu sử dụng kinh phí
của các tổ chức, đơn vị. Bố trí nguồn theo dự toán hàng năm và dự toán quý
để đáp ứng nhu cầu chi, trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu trong quý cần
chủ động đề nghị Kho Bạc NN cho phép rút bổ sung dự toán từ ngân sách cấp
trên cao hơn quý trước, hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với
nguồn thu theo nguyên tắc đảm bảo chi lương, các khoản có tính chất lương,
20