đánh giá kết quả điều trị hội chứng ruột kích thích thể tỳ vị khí hư bằng bài thuốc hương sa lục quân tử thang (2) - Pdf 22

B CễNG AN
BNH VIN Y HC C TRUYN
Báo cáo Tổng kết
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
đánh giá kết quả điều trị
hội chứng ruột kích thích thể tỳ vị khí
h
bằng bài thuốc hơng sa lục quân tử
thang
Mó s SH-2011-YHCT-32
Chủ nhiệm đề tài
BS CKI. Nguyễn Thị Liên Hoa
Cng s : ThS. Ninh Th Bớch Hp
Hà Nội 2012
B CễNG AN
1
BNH VIN Y HC C TRUYN
Báo cáo Tổng kết
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
đánh giá kết quả điều trị
hội chứng ruột kích thích thể tỳ vị khí h
bằng bài thuốc hơng sa lục quân tử
thang
Mó s SH-2011-YHCT-32
TH TRNG TH TRNG
C QUAN CH QUN C QUAN CH TRè
CH NHIM TI
Hà Nội - 2012
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) là một rối loạn chức năng đường

được chia làm nhiều thể: tỳ vị khí hư, can tỳ bất hòa, tỳ thận dương hư, khí trệ
[3], [4], [6], [7].
Cũng đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng các bài thuốc để điều trị
HCRKT như: “Bình vị tán”, “Viên nang hế mọ”, “Tứ thần hoàn”, và “Thống
tả yếu phương”, song mỗi bài thuốc thường có hiệu quả tốt với một thể nhất
định. [12], [13], [9]…
Bài thuốc: “Hương sa lục quân” đã được sử dụng từ lâu ở Trung Quốc
và ở Việt Nam để chữa chứng “Tiết tả” thể tỳ vị khí hư, một chứng bệnh có
các chứng tương ứng với HCRKT[3]. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đi
sâu tìm hiểu tác dụng thực sự của bài Hương sa lục quân trong điều trị thể tỳ
vị khí hư, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá tác dụng của bài thuốc trên các biểu hiện lâm sàng
của bệnh.
2. Theo dõi các tác dụng không mong muốn của bài thuốc
“Hương sa lục quân”.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Những hiểu biết cơ bản về HCRKT theo YHHĐ.
1.1.1. Định nghĩa [2], [17].
HCRKT là để chỉ rối loạn chức năng của ruột có những đặc điểm sau:
- Đau bụng nhiều đợt trong năm (trên 6 đợt).
- Rối loạn đại tiện: đi phân lỏng nhiều lần trong ngày (trên 3 lần) hoặc
táo bón (trên 4 ngày đại tiện 1 lần hoặc 1 tuần dưới 2 lần).
- Đầy bụng sình hơi.
- Các triệu chứng trên tái phát nhiều lần trong năm và có thể kéo dài nhiều
năm, nhưng sinh hoạt của bệnh nhân vẫn bình thường, cân nặng không giảm.
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh HCRKT là rối loạn
chức năng của ống tiêu hóa nhưng biểu hiện chủ yếu là các triệu chứng của
đại tràng. Thomson W.D. (1997) đã định nghĩa: Các rối loạn chức năng của

HCRKT là một rối loạn chức năng, nên khi chẩn đoán cần loại trừ các
nguyên nhân thực thể gây đau bụng, chướng bụng và rối loạn phân. Tuy nhiên
việc chẩn đoán HCRKT không hẳn là một chẩn đoán loại trừ mà cần dựa vào
bệnh sử và các thăm khám lâm sàng, cũng như các xét nghiệm như: công thức
6
máu, tốc độ máu lắng, các dấu ấn ung thư, xét nghiệm phân, siêu âm bụng,
chụp khung đại tràng, nội soi đại tràng-trực tràng….
Tiêu chuẩn Rome II [19]:
Ít nhất trong 12 tuần (không cần liên tục) trong 12 tháng vừa qua, có
triệu chứng đau bụng hoặc khó chịu vùng bụng, với 2 trong 3 đặc điểm:
- Giảm triệu chứng sau khi đi ngoài, và/hoặc
- Thay đổi số lần đi ngoài và/ hoặc
- Thay đổi tính chất phân (táo bón hoặc ỉa lỏng)
Có 2 triệu chứng sau đây, ít nhất xảy ra trong ¼ thời gian:
- Bất thường về số lần đi ngoài (>3 lần/ngày hoặc <3 lần/tuần)
- Bất thường về hình dạng phân (phân lổn nhổn cứng hay nhão, phân
lỏng…)
- Bất thường khi đi ngoài (mót, rặn hay cảm giác không tống hết phân )
- Phân có chất nhày (nhưng không bao giờ có máu).
- Đầy hơi hay cảm giác tức bụng.
*Về cận lâm sàng:
Không có một xét nghiệm nào đặc hiệu cho việc chẩn đoán HCRKT do
đó việc chẩn đoán thường kết hợp triệu chứng lâm sàng với các xét nghiệm
cận lâm sàng để loại trừ các bệnh thực thể như: xét nghiệm phân, chụp khung
đại tràng, nội soi đại tràng…
- Xét nghiệm máu: để loại trừ những bệnh có thiếu máu.
- Xét nghiệm phân: để lại trừ những bệnh viêm đại tràng do vi khuẩn và
ký sinh trùng gây nên.
- Nội soi đại tràng: để loại trừ những bệnh thực tổn như u, polyp, viêm
loét đại trực tràng chảy máu,…

cấp tính[]. Tiết tả chủ yếu thuộc về tỳ vị và đại tiểu trường. Nguyên nhân gây
bệnh gồm: cảm thụ ngoại tà, do ăn uống quá độ, tỳ vị dương hư, mệnh môn
hoả suy và tình chí thất thường. Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh mà sinh ra
các chứng tiết tả cấp tính hay mạn tính. Cảm thụ ngoại tà, ăn uống quá độ gây
ra các chứng tiết tả cấp tính tức thời. Các nguyên nhân còn lại: tỳ vị khí hư,
8
mệnh môn hoả suy và tình chí thất thường gây ra các chứng tiết tả mạn tính
tái diễn nhiều lần.
Táo kết đã được nhắc đến trong sách Nội kinh. Táo kết do nhiều
nguyên nhân gây ra gồm: Âm hư, huyết nhiệt, huyết hư, khí hư và khí trệ.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu y học Việt Nam và
thế giới, đặc biệt Trung Quốc đã đi sâu nghiên cứu và tìm mối liên hệ giữa
các triệu chứng lâm sàng của HCRKT và chứng “Tiết tả”, “Táo kết” thấy có
nhiều nét tương đồng. HCRKT tương ứng với thể tỳ vị khí hư của “Tiết tả” và
thể khí trệ của “Táo kết”. Trong Đông y, khí thuộc dương, khí hư là giai đoạn
đầu của dương hư, dương hư bắt đầu từ khí hư. Chứng tỳ vị khí hư biểu hiện
ăn uống kém, không tiêu, bụng trướng đầy, đại tiện phân khi lỏng khi táo. Tỳ
khí hư dẫn đến khí huyết bất túc, khí huyết không đủ để nuôi dưỡng dẫn đến
chân tay mỏi mệt, gày còm, sắc mặt úa vàng, lưỡi nhợt, mạch nhược.
Xuất phát từ những triệu chứng lâm sàng thường gặp của bệnh nhân mắc
“hội chứng ruột kích thích”, như: đau bụng âm ỉ, chướng bụng, đại tiện phân
khi lỏng khi táo…và dựa trên quá trình diễn biến của chứng “tỳ vị khí hư”, có
thể giải thích cơ chế bệnh sinh của “hội chứng ruột kích thích” theo lý luận
của y học cổ truyền như sau:
Do tỳ khí hư sinh chứng tiết tả:
Nguyên nhân do tỳ khí hư yếu, mất chức năng vận hoá thuỷ thấp. Biểu
hiện đi lỏng lâu ngày không khỏi, ăn vào không tiêu hoá, đại tiện lúc bình
thường lúc táo, lúc lỏng. Nếu ăn dầu mỡ thì sôi bụng, đau bụng, đại tiện lỏng,
đi nhiều lần trong ngày.
Do tỳ khí hư xuất hiện phúc thống:

Pháp điều trị: sơ can kiện tỳ (ức can kiện tỳ, điều lý khí cơ).
- Phương dược: Thống tả yếu phương (theo Cảnh Nhạc toàn thư).
1.2.2.4. Thể khí trệ:
- Triệu chứng: trướng đầy bĩ tức khó chịu và đau, riêng về trướng đầy và
đau lúc nhẹ lúc nặng, bộ vị thường cố định đau xiên đau nhói, bĩ trướng cũng
có lúc có lúc không, lúc tan lúc tụ. Trướng đầy mà khó chịu có thể giảm nhẹ
khi ợ hơi hoặc trung tiện, ăn ít, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.
- Pháp điều trị: thuận khí hành trệ.
- Phương dược: Lục ma thang (theo Chứng trị chuẩn thằng).
1.2.3. Sơ lược về một số nghiên cứu điều trị HCRKT theo YHCT.
Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu đánh giá tác
dụng của các bài thuốc cổ phương, các bài thuốc gia truyền trong điều trị
HCRKT.
Năm 1994 Nguyễn Văn Thang và cộng sự đã nghiên cứu hồi cứu 100
bệnh án HCRKT điều trị tại Viện Y học cổ truyền Việt Nam đã đánh giá tác
dụng tốt của thuốc YHCT dưới dạng thuốc thang theo từng thể bệnh [13].
Năm 1999, Nguyễn Thị Nhuần nghiên cứu tác dụng điều trị của Bài
thuốc “Bình vị tan” trên 60 bệnh nhân bị HCRKT thấy tỷ lệ đạt hiệu quả tốt
chiếm 93,3% đặc biệt ở thể thực chứng theo YHCT [11].
11
Năm 2002, Cầm Thị Hương và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng của cao
“Cảng Kham” trên 108 bệnh nhân HCRKT, sau điều trị 30 ngày tỷ lệ đạt kết
quả tốt chiếm 82,4% [5]. .
Năm 2005, Bùi Thị Phương Thảo và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tác
dụng của viên nang Hế mọ trên 39 bệnh nhân bị HCRKT, tỷ lệ đạt kết quả tốt
sau 30 ngày điều trị là 62% [12].
Năm 2008, Nguyễn Thị Tuyết Nga nghiên cứu tác dụng của bài thuốc
“Tứ thần hoàn” trong điều trị HCRKT thể lỏng thấy tỷ lệ đạt hiệu quả tốt
chiếm 61.2% [9].
Năm 2009, Trịnh Thị Lụa nghiên cứu tác dụng của Tràng vị khang trong

Có tác dụng ức chế hiện tượng tăng huyết áp do adrenalin gây ra.
- Tính vị qui kinh: ngọt, bình vào kinh tỳ phế.
- Tác dụng: bổ dưỡng tỳ vị, an thần, ích khí, bổ phế, lợi niệu, sinh tân.
• Bạch truật:
- Là rễ, củ của cây bạch truật (Atractylodis ovate) Rhizoma Ttractylodis
macrocephalae, họ cúc (Compoitsae).
- Thành phần hóa học:
Bạch truật có tinh dầu, nhưng thành phần hoạt chất chưa rõ. Có tác giả
nói: trong bạch truật có atractylola C
15
H
16
O và atractylon C
14
H
18
O, vitamin A.
- Tác dụng dược lý: tác dụng lợi tiểu, duy trì bài xuất điện giải.
- Tính vị qui kinh: ngọt đắng ấm vào kinh tỳ vị.
- Tác dụng: kiện tỳ táo thấp, cầm mồ hội, an thai, kiện vị tiêu thực, cố
biểu liễm hãn.
• Trần bì:
- Là vỏ phơi khô của quả quýt để lâu năm (Pericarpium citri deliciosa)
thuộc họ cam (Rutaceae).
- Thành phần hóa học: tinh dầu limonel α - β pinen; c¸c avonoid
hespiridin, nobilenn.
- Tác dụng dược lý:
Tinh dầu trần bì có tác dụng kích thích vị tràng tiết duchy tiêu hóa, bài
trừ khí tích trong ruột, trừ đờm chống viêm, giãn phế quản, cắt cơn hen.
Hesperidin còn có khả năng kéo dài tác dụng của corticoid, duy trì tính

- Tác dụng dược lý: tác dụng diệt amip.
- Tính vị qui kinh: cay, ấm vào kinh tỳ, vị, thận.
- Tác dụng: lý khí hóa thấp, trừ phong thấp, giảm đau, an thai.
• Mộc hương:
14
- Là rễ phơi khô của cây mộc hương (Sausure Lappa) họ cúc
(Compositeae).
- Thành phần hóa học: vân mộc hương hay quảng mộc hương có 1% -
2,8% tinh dầu, có 6% chất nhựa sausurin (ancaloid) và chừng 18% inulin.
- Tác dụng dược lý: hạ áp.
- Tính vị qui kinh: cay, đắng ấm vào kinh phế, tỳ, can.
- Tác dụng: hành khí, chỉ thống, kiện tỳ, bình can, giáng áp.
1.3.3. Ý nghĩa của bài thuốc.
Trong bài thuốc :Đẳng sâm đại bổ nguyên khí, kiện tỳ dưỡng vị, là
thuốc chủ yếu; Tỳ thích táo, ghét thấp, Tỳ hư kém vận hóa, thường dễ sinh
thấp, do vậy lấy Bạch truật kiện tỳ ích khí, táo thấp. Hoàng Cung Tú nói
"Phục linh nhập tứ quân, làm tá cho Sâm, Truật để thẩm thấp của Tỳ" .
Trương Bình Thành cũng nói : "Thẩm thấp trọc của Phế Tỳ lưu thông xuống,
sau đó kết hợp tác dụng của Sâm, Truật càng làm tăng tác dụng Bán hạ, Trần
bì hóa vị lấy khí hóa thấp, Mộc hương, Sa nhân hành khí tỉnh Tỳ, cam thảo
điều hòa các thuốc. Các thuốc phối hợp với nhau có tác dụng kiện tỳ hóa đàm,
đàm thấp đã được trừ, thì các chứng bệnh tự khỏi.
15
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Chất liệu nghiên cứu
2.1.1 Chất liệu và đối tượng nghiên cứu: Bài thuốc “Hương sa lục quân
tử thang”
Bài thuốc sử dụng trong nghiên cứu là bài cổ phương “ Hương sa lục
quân tử thang”, với thành phần và liều lượng của mỗi thang thuốc như sau:

Sắc mặt vàng
nhợt, môi nhợt.
Chất lưỡi non,
bệu, rêu lưỡi
trắng trơn
Tiếng nói
nhỏ yếu
Bụng lạnh, đau
Đầy bụng, sôi bụng
Đại tiện phân nát, sống
phân, đại tiện nhiều lần
trong ngày
Hoa mắt chóng mặt
Chân tay lạnh.
Cơ nhục mềm
nhẽo.
Mạch tế nhược
Chẩn đoán thông qua tứ chẩn: vọng, văn, vấn, thiết có triệu chứng
chính gồm: đau bụng, chướng bụng, rối loạn đại tiện, mạch và lưỡi. Các triệu
chứng còn lại là triệu chứng phụ.
- Các xét nghiệm: Công thức máu, sinh hóa máu, X quang, Tổng phân tích
máu nước tiểu, soi phân và soi đại trực tràng đều cho kết quả trong giới hạn
bình thường.
- Bệnh nhân và gia đình tình nguyện tham gia.
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân.
- Các bệnh nhân không tuân thủ điều trị: bỏ thuốc 3 ngày liên tiếp.
17
- Các bệnh nhân không làm đầy đủ các xét nghiệm theo yêu cầu của
nghiên cứu.
- Các bệnh nhân không hợp tác trong quá trình nghiên cứu.

dựa vào đó để đánh giá hiệu quả điều trị do Francis C.Y, Morris J. và
Whorwell P.J xây dựng năm 1997. IBS đã được rất nhiều nghiên cứu áp dụng
hoặc tham khảo để đánh giá hiệu quả điều trị HCRKT. IBS đề cập đến 5 triệu
chứng hay gặp trong HCRKT:
- Mức độ đau bụng.
- Số ngày đau bụng trong 10 ngày liên tục.
- Mức độ căng chướng bụng
- Mức độ thoải mái khi đại tiện.
- Mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Mỗi triệu chứng được tính điểm theo mức độ rối loạn của HCRKT, thấp
nhất là 0 điểm, cao nhất là 100 điểm.
Triệu chứng Số Thời gian
D
0
D
15
D
30
19
điểm
Đau bụng
Không đau 0
Đau nhẹ 25
Đau vừa 50
Đau nhiều 75
Rất đau 100
Số ngày đau trong
10 ngày gần đây
Số ngày đau x 10
điểm/ngày 100

30
, tức là đánh giá vào các
thời điểm: trước điều trị, sau điều trị 15 ngày và sau điều trị 30 ngày.
Để thuận tiện cho việc đánh giá hiệu quả điều trị, phân thành 4 loại sau:
- Kết quả tốt: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị từ 75% - 100%.
20
- Kết quả khá: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị từ 50% - < 75%
- Kết quả trung bình: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị từ
25% - < 50%
- Kết quả kém: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị < 25%.
Nghiên cứu các tác dụng không mong muốn của bài thuốc.
2.2.5. Xử lý số liệu.
- Số liệu được thu thập và xử lý bằng phương pháp thống kê toán
học theo chương trình SPSS 15.0. Số liệu được thể hiện dưới hai dạng:
+ Biến số: Trung bình ± độ lệch chuẩn.
+ Biến logic: Phần trăm (%)
- Sử dụng phép so sánh χ
2
để kiểm định sự khác biệt giữa hai tỷ lệ.
- Sử dụng test t – student để so sánh giá trị trước và sau điều trị.
- Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05, với p < 0.01 và p
< 0.001 được coi là khác biệt rất có ý nghĩa.
21
XN CTM, chức năng gan
thận, Xquang và TPT
nước tiểu
Chẩn đoán xác định HCRKT,
thể tỳ vị khí hư theo YHCT.
Điều trị bằng bài Hương sa lục quân.
Khám lâm

Nhân xét: Trong 30 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân
thấp tuổi nhất là 25 tuổi, bệnh nhân cao tuổi nhất là 72 tuổi, tuổi trung bình
của đối tượng nghiên cứu là 52±10 tuổi. Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là 50 –
59 tuổi (chiếm: 63,3%), trong đó số bệnh nhân nam mắc nhiều hơn số bệnh
nhân nữ (nam lứa tuổi này chiếm 78,9% và nữ chỉ chiếm 21,1%).
23
Biểu đồ 3.1, Phân bố bệnh nhân theo giới
Bệnh nhân nữ có tỷ lệ thấp hơn bệnh nhân nam (Nữ 26,7 %, Nam
73,3%). Tỷ lệ nữ/nam xấp xỉ là 1/3.
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp.
Nghề nghiệp Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Lao động chân tay 4 13,3
Lao động trí óc 26 86,7
Tổng 30 100
Nhận xét: Tìm hiểu về nghề nghiệp có liên quan đến tỉ lệ bệnh hay
không, các kết quả ở bảng 3.3 cho thấy: số bệnh nhân là lao động trí óc (kỹ
sư, bác sĩ, y tá, giáo viên, làm việc hành chính văn phòng…) – được coi là
những người thường xuyên có hoạt động của hệ thần kinh nhiều - chiếm tỷ lệ
cao hơn hẳn 86,7% so với bệnh nhân lao động chân tay (nội trợ, thợ thủ công,
lao động tự do) chỉ chiếm 13,3%.
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh
Thời gian mắc
bệnh
Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
24
< 2 năm 12 40,0%
2 – 10 năm 6 20,0%
>10 năm 12 40,0%
Tổng 30 100%
Nhận xét: Bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là các bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status