hiệu quả điều trị nang giả tụy sau viêm tụy cấp bằng phương pháp dẫn lưu qua da - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nang giả tụy là biến chứng muộn của viêm tụy cấp thể hiện bằng sự tụ dịch bất
thường ở vùng quanh tụy, với một vách xơ do viêm mạn. Các nang giả tụy có kích thước
<6cm có khả năng tự khỏi nhờ điều trị bảo tồn với tỷ lệ tự khỏi vào khoảng 20-70% [1],
[2]. Đối với nang giả tụy tồn tại trên 4 tuần và kích thước nang >6cm, có triệu chứng hoặc
nhiễm trùng thì có chỉ định can thiệp điều trị.
Trước đây, phẫu thuật bóc tách nang tụy hay mở thông nang ruột là phương pháp
chủ yếu điều trị nang giả tụy có triệu chứng hoặc nhiễm trùng. Trong những năm gần đây
việc ra đời của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm (SA), nội soi mềm, chụp đường
mật ngược dòng (ERCP), chụp cắt lớp vi tính (CLVT), cộng hưởng từ hạt nhân…là một
cuộc cách mạng khoa học, đã làm thay đổi quan điểm chẩn đoán điều trị nang giả tụy. Một
số phương pháp điều trị mới như dẫn lưu nang qua da dưới hướng dẫn SA hoặc chụp
CLVT [3], [4] nội soi dẫn lưu nang giả tụy bằng giá đỡ xuyên thành dạ dày. Can thiệp tối
thiểu qua da dưới hướng dẫn SA, CLVT với những ưu điểm như: Đơn giản không cần gây
mê, dễ thực hiện, thay đổi catheter dễ dàng, người bệnh lớn tuổi chịu đựng tốt hơn so với
phẫu thuật. Ngoài ra dẫn lưu qua da có thể tạo điều kiện cho với phẫu thuật trong các
trường hợp phức tạp.
Kỹ thuật dẫn lưu nang giả tụy qua da dưới hướng dẫn của siêu âm được mô tả đầu
tiên vào năm 1971 và chụp cắt lớp vi tính vào năm 1980 đã mang lại hiệu quả 70-96% bởi
những tác giả khác nhau. Ở trong nước cũng đang được áp dụng ở một vài bệnh viện.
Riêng trong khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch Mai cũng đã áp dụng phương pháp này
để điều trị các nang giả tụy sau viêm tụy cấp, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào
công bố kết quả hay quy trình thực hiện phương pháp này. Vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu:
1. Mổ tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nang giả tụy sau viêm tụy cấp.
2. Hiệu quả điều trị nang giả tụy sau viêm tụy cấp bằng phương pháp dẫn lưu qua da.
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU TỤY VÀ VIÊM TỤY CẤP
1.1.1. Giải phẫu liên quan của tuyến tụy

tuyến thượng thận trái.
+ Mặt dưới: (hay trước dưới) Được bọc bởi phúc mạc, liên quan với góc tá hỗng
tràng và các quai hỗng tràng, phúc mạc của lá sau dưới của mạc treo đại tràng ngang.
+ Bờ trước: Bờ ngăn cách mặt trước và mặt dưới, tương ứng với đường bám của
rễ. Ở đó các lớp của mạc treo đại tràng ngang (gồm hai lá của mạc treo tràng ngang và hai
lá phúc mạc đi lên của mạc nối lớn) tách ra làm hai ngã: Một đi lên phủ mặt trước thân tụy,
và một đi xuống ra sau phủ mặt dưới thân tụy.
+ Bờ trên: Ở đầu phải bờ trên thân tụy có nổi lên một ụ mạc nối, nhô lên trên bờ
cong nhỏ dạ dày và liên quan với mặt sau mạc nối nhỏ.
+ Bờ dưới: Ngăn cách mặt dưới và mặt sau, ở dưới đầu phải của bờ dưới có các
mạch mạc treo tràng trên thoát ra.
- Đuôi tụy: Nằm ở mức đốt sống lưng 12 dài. Nó là phần di động nhiều nhất của
tụy. Phần tận cùng của đuôi tụy liên quan mật thiết với rốn lách cùng động mạch và tĩnh
3
mạch lách. Đuôi tụy được phủ bởi 2 lớp của mạc chằng lách thận. Như vậy xét trên
phương diện giải phẫu ngoại khoa, tụy có thể chia có thể chia làm 2 phần cơ bản: Phần bên
phải động mạch chủ là phần nguy hiểm - vùng bên trái dộng mạch chủ là vùng an toàn.
1.1.2. Viêm tụy cấp
1.1.2.1. Dịch tễ học
Theo các nghiên cứu khác nhau, tỉ lệ mắc VTC hàng năm thay đổi từ 4.9 đến 35 ca
trên 100.000 dân [5]. Hàng năm ở Mỹ có khoảng 220.000 ca nhập viện do VTC [6]. Ở Việt
Nam chưa có thống kê cụ thể.
Tỉ lệ VTC nhẹ chiếm 75-80%, tỉ lệ tử vong trong nhóm này thấp chỉ khoảng dưới
3% .Trong khi đó tỉ lệ VTC nặng chỉ chiếm từ 15-20% nhưng tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ tử
vong trong nhóm này còn khá cao (khoảng 10-30%) [6], [7].
1.1.2.2. Biến chứng của VTC [7], [8]
 Biến chứng toàn thân
- Tim mạch: Giảm huyết áp hoặc trụy mạch là do giảm tuần hoàn hoặc do sốc.
Nguyên nhân do phối hợp nhiều yếu tố: Nhiễm trùng, nhiễm độc, xuất huyết và thoát dịch,
tràn dịch màng tim, tăng áp lực ổ bụng.

+ Nang giả tụy: Là những tổ chức dịch tụy bao bọc bởi tổ chức xơ hoặc tổ chức hạt,
được thành lập trong 4 tuần đầu của bệnh. Những nang này thường thấy ở tụy, quanh tụy.
Khi nang bị bội nhiễm sẽ tiến triển thành áp xe tụy.
+ Áp xe tụy: Là ổ mủ khu trú ở tụy hoặc gần với tụy, thường xuất hiện muộn vào tuần
thứ 4, thường sốt cao, dao động.
1.2. NANG GIẢ TỤY CẤP TÍNH SAU VIÊM TỤY CẤP
1.2.1. Vài nét lịch sử về nghiên cứu nang giả tụy.
NGT được Morgagni mô tả đầu tiên vào năm 1761. Tiếp sau đó Olurin Credits,
L.Jardan (1892) là người đầu tiên phân biệt giữa NGT và nang thật tụy mặc dù sự phân biệt
này không phải luôn dễ dàng. Nang thật có lớp biểu mô Epithelium bao bọc [9].
Lịch sử phẫu thuật NGT cũng có từ rất lâu đời. Theo Brunschwing (1882) lần đầu
tiên Bozeman một phẫu thuật viên người Mỹ thực hiện thành công tại New York cắt một
nang tụy nặng 10kg trên một bệnh nhân 41 tuổi với chẩn đoán lâm sàng trước mổ là u nang
buồng trứng. Vài năm sau Gusenbauer là người đầu tiên chẩn đoán trước mổ và điều trị
thành công NGT bằng phương pháp dẫn lưu ngoài. Ông khâu đính vở nang vào thành bụng
để rồi chấp nhận có rò tụy. Thời đại của phẫu thuật dẫn lưu trong thực hiện nối nang với
đường tiêu hóa bắt đầu.
5
Jedlicka (1923) thực hiện nối nang với dạ dày. Jurasz (1931) thực hiện phẫu thuật
này qua mặt trước dạ dày một cách hoàn thiện hơn.
Kercher (1928) đưa ra phẫu thuật nối NGT - tá tràng.
Henle E (1937) đã thực hiện thành công phẫu thuật nối NGT - hỗng tràng kiểu
Rouxeny.
Năm 1987 cùng với sự phát triển của siêu âm can thiệp đã đưa ra phương pháp mới
điều trị NGT. Angelo D’Egidio thực hiện dẫn lưu qua da NGT dưới hướng dẫn của siêu âm
cho kết quả đáng khích lệ [3].
Cremer và cs (1989) đã mở bước đột phá trong lĩnh vực nội soi can thiệp NGT.
Ông đã tiến hành tạo sự thông thương giữa NGT và mặt sau dạ dày bằng kim đốt điện qua
ống nội soi mềm dạ dày, công trình này đã mang lại sự tranh luận sôi nổi.
Kozared và cs (1990) trong công trình nghiên cứu của mình đã thực hiện mở cơ

nang được hình thành trong thời kỳ viêm, có thể tự mất trong quá trình theo dõi. Nhiều tác
giả cho rằng NGT cấp tính xảy ra trong vòng 4-6 tuần bắt đầu từ khi bị viêm tụy.
2. NGT mạn tính: Gồm những NGT đã hình thành sau 6 tuần. Những nang này có
đặc điểm: Vỏ nang dày, khó tự mất và đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật.
Theo D’ Egidio và M. Chen [11] nhận thấy sự phân chia có ý nghĩa nhất đối với điều
trị NGT là sự phân chia theo nguyên nhân gây ra NGT. Trong phân loại này NGT chia làm
3 nhóm:
- Nhóm 1: NGT gây ra bởi VTC. Quá trình viêm này gây ra xuất tiết của chất dịch
trong có chứa các men tụy làm phá vỡ các mô lân cận, khu trú tạo thành nang. Hệ thống
ống tụy bình thường.
- Nhóm 2: NGT hình thành do đợt cấp của viêm tụy mạn. Các quá trình viêm này
tạo nên ổ hoại tử làm dịch nang thoát ra khỏi ống tụy, hoại tử trên nhu mô tạo thành NGT.
Ống tụy có tình trạng viêm nhưng chưa hẹp, thường có sự thông giữa NGT và ống tụy.
- Nhóm 3: NGT gây ra bởi sự ứ đọng trong quá trình viêm tụy mạn. Hệ thống ống
tụy viêm chít hẹp luôn có sự thông thương giữa nang và hệ thống ống tụy.
1.2.4. Định nghĩa nang giả tụy
Theo định nghĩa của Atlanta 1992 [12] : Nang giả tụy là có nồng độ cao amylase và
các men tụy khác trong một cấu trúc dạng nang. Xảy ra như một hậu quả của VTC. Các
NGT được bao bọc xung quanh bởi một lớp vỏ xơ hoặc mô hạt mà thành của nó không có
biểu mô, thường hình thành sau 4 tuần viêm tụy cấp [13].
7
1.2.5. Cơ chế bệnh sinh hình thành và dịch tễ NGT sau viêm tụy cấp[14], [15], [16]
NGT hình thành khi khi ống tụy vỡ, dịch tụy tràn ra được khu trú lại, tổ chức hóa
bằng các vách xơ ra tạo nên NGT. Nguyên nhân thường gặp nhất là sau viêm tụy cấp 8-
16,5% [16] hay viêm tụy mạn 20-40%[13], chấn thương tụy 20%. Bên cạnh đó có những
nguyên nhân khác hiếm gặp hơn là NGT sau mổ, ung thư tụy, bệnh nhân tăng lipid máu,
bệnh viêm tụy gia đình, viêm tụy sau dùng thuốc. Nhóm nguyên nhân hiếm gặp hơn nữa là
NGT sau ghép thận, sốc tim, cường tuyến cận giáp. Đôi khi không thể xác định được
nguyên nhân, nó được gọi là NGT tự phát hoặc NGT bẩm sinh hình thành từ thời kỳ bào
thai, trong y văn đã có thông báo về hình thái này [17].

trọng trong sự lựa chọn phương pháp điều trị. Phân loại tổn thương ống tụy theo Nealon
[22]:
+ Type I: Ống tụy bình thường.
+ Type II: Có hẹp ống tụy.
+ Type III: Tắc ống tụy.
+ Type IV: Viêm tụy mạn.
Trong mổi type chia thành nhóm “a”: không có thông thương giữa ống tụy và NGT,
nhóm “b” có sự thông thương .
 Vi thể:
Thành nang thiếu lớp biểu mô (Epithelium)[13] dày đặc tổ chức xơ xen lẫn tế bào
viêm.
1.2.7. Tiến triển tự nhiên của NGT sau viêm tụy cấp
- Xấp xỉ 50% (7-85%) NGT tự hết không cần can thiệp [1], [23], [24].
Kết quả nghiên cứu của Bradley (1979), tỷ lệ tự tiêu là 40% [15]. Marighini (1999)
là 65% theo dõi trong vòng 1 năm [20]. Vitas và Sarr theo dõi 68 bệnh nhân trong vòng 51
tháng, tỷ lệ này là 63%. Lê lộc (2004) tại Bệnh viện Trung Ương Huế thời gian theo dõi
trung bình 26 tháng, tỷ lệ tự tiêu là 41% [25]. Cơ sở để giải thích điều này là khi tổ chức
tụy viêm hồi phục sẽ có hiện tượng tái hấp thu dịch nang dẫn tới hiện tượng tự tiêu nang.
- Một số tồn tại kéo dài không có triệu chứng lâm sàng.
- Một số NGT có triệu chứng hay biến chứng cần điều trị.
- Khi NGT được hình thành vở nang dày dần theo quá trình tổ chức xơ hóa phải trải
qua thời gian 4-6 tuần vỏ xơ này mới đủ dày ổn định thích hợp cho can thiệp. Một nghiên
cứu dựa trên kiểm tra của siêu âm cho thấy các NGT< 6 tuần thì khả năng tự tiêu là 40%
và biến chứng là 20%. Trong khi các NGT hơn 12 tuần thường không có khả năng tự tiêu
9
và có biến chứng là 67% [15]. Gần 90% NGT kích thước < 4cm đường kính có thể tự tiêu
một cách tự nhiên so với 20% NGT kích thước > 6cm [1], [2]. 73% NGT >10cm yêu cầu
cần phẫu thuật dẫn lưu ngoài [2], [26]. Soliani và cộng sự [27] quan sát thấy không có sự
khác biệt trong tỷ lệ mắc bệnh, tử vong hoặc tái phát ở 41 bệnh nhân với NGT kích thước
> 10cm ( bao gồm 19 bệnh nhân >14cm) khi so sánh với 30 bệnh nhân có nang giả tụy

hệ tĩnh mạch cửa. Sự chèn ép và ăn mòn của NGT có thể gây nên huyết khối , giả phình
mạch, đôi khi gây tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
1.2.9. Chẩn đoán NGT
 Chẩn đoán lâm sàng dựa vào:
- Tiền sử có viêm tụy cấp.
- Đau thượng vị dai dẳng sau VTC ( triệu chứng thường gặp nhất).
- Chán ăn , sụt cân.
- Sốt.
- Khối u vùng thượng vị.
- Hội chứng xuất huyết trong nang giả tụy:
+ Đau bụng dữ dội vùng thượng vị.
+ Dấu mất máu cấp: da tái niêm mạc nhợt, tụt HA, Hct giảm.
+ Đôi khi nghe được âm thổi vùng thượng vị.
 Chẩn đoán cận lâm sàng
- Xét nghiệm:
Kết quả xét nghiệm thường không đặc hiệu. Một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có nồng
độ Amylase huyết tương tăng. Tuy nhiên, amylase trong các dịch thanh mạc và trong chính
dịch nang rất cao là đặc hiệu ( thường >1000UI/l).
- Siêu âm bụng:
+ Khi đã ‘trưởng thành”, hình ảnh điển hình của NGT trên siêu âm là một khối âm
vang hình cầu hay bầu dục, có vách đều, chứa dịch phản âm kém và có tăng âm phía sau.
Trong trường hợp không diển hình, độ phản âm của nang sẽ thay đổi , do thay đổi thành
phần chứa trong nang.
+ Tình trạng ống Wirsung giãn hay không giãn.
+ Tình trạng đường mật và tá tràng có bị chèn ép hay không.
11
+ Khả năng tiếp cận nang qua da và dạ dày.
+ Khi có bội nhiễm nang còn có hình ảnh lợn cợn, có hơi bên trong khi chưa được
chọc dò.
+ Cần yêu cầu bệnh nhân hít thở sâu và quan sát chuyển động tương đối giữa vách

Các chẩn đoán phân biệt sau có thể được đặt ra:
- Tụ dịch quanh tụy sau viêm tụy cấp.
- Viêm tụy mãn.
- Nang thận trái.
- Nang lách.
- U nang (bướu tân sinh) của tụy (quan trọng nhất).
 Thái độ chẩn đoán NGT sau viêm tụy cấp.
Trước một bệnh nhân có viêm tụy cấp, nghi ngờ có NGT khi lâm sàng có các dấu
hiệu sau: 1. Tình trạng viêm tụy kéo dài dai dẳng. 2. Bệnh nhân vẫn tiếp tục đau bụng khi
đã hết tình trạng viêm tụy. 3. Amylase vẫn tăng cao liên tục. 4. Sờ có khối ở bụng sau viêm
tụy cấp. Cần chụp CLVT hoặc siêu âm ổ bụng chẩn đoán.
Tiêu chuẩn chẩn đoán NGT sau viêm tụy cấp:
- Tiền sử có viêm tụy cấp.
- Đau bụng dai dẵng, âm ỉ.
- Chẩn đoán hình ảnh: khối chứa dịch đồng nhất, vỏ bao rõ, không tăng quang khi
bơm thuốc cản quang, không vôi hoá.
Nếu không có đủ cả ba tiêu chuẩn kể trên, phải loại trừ các tổn thương dạng nang khác
không phải NGT, trong đó quan trọng nhất là bướu tân sinh dạng nang của tụy. Cần chọc
hút dịch nang hoặc sinh thiết nang để cho chẩn đoán xác định.
1.2.11. Điều trị nang giả tụy
Ngày nay với những hiểu biết sâu sắc về sinh bệnh học cũng như cơ chế hình thành
nang giả tụy đã mang lại những chiến lược điều trị đúng đắn về NGT.
13
Chỉ định điều trị NGT cấp tính sau viêm tụy cấp [2], [32]:
- NGT gây đau kéo dài sau khi viêm tụy cấp đã ổn định.
- NGT có gia tăng kích thước trong quá trình theo dõi.
- NGT nhiễm trùng.
- NGT chảy máu.
- NGT chèn ép đường mật (gây tắc mật) hoặc đường ruột (gây tắc ruột).
- NGT kích thước > 6cm.

với 7.7%) [35]. Trong một nghiên cứu của D’Egidio and Schein (1992) chia tổng 78 bệnh
nhân có NGT thành 3 nhóm: Nhóm I: Nang giả tụy sau viêm tụy cấp hoại tử. Nhóm II:
Nang giả tụy hình thành sau đợt cấp của viêm tụy mạn. Nhóm III: Nang giả tụy hình thành
trong quá trình viêm tụy mạn. Theo phân nhóm này, dẫn lưu qua da có hiệu quả cao ở
nhóm sau viêm tụy cấp hoại tử và thấp hơn ở nhóm II. Ở nhóm III thì dẫn lưu qua da
không hiệu quả [3]. Cantasdemir và cộng sự (2003) nghiên cứu trên 30 bệnh nhân có NGT
nhiễm trùng dẫn lưu qua da thành công 96% và thời gian dẫn lưu trung bình là 16,7 đến
26,5 ngày [4]. Nhìn chung, tỷ lệ tử vong trong điều trị phẫu thuật các bệnh nhiễm trùng
tuyến tụy (bao gồm nang giả tụy nhiễm trùng) khoảng 11- 61% [36]. Một số nghiên cứu
khác cũng đã chỉ ra rằng nguy cơ biến chứng liên quan đến dẫn lưu qua da là ít hơn so với
nguy cơ biến chứng phẫu thuật [4],[37],[38]. Sonnenberg và cộng sự báo cáo về 101
trường hợp NGT nhiễm trùng và không bị nhiễm trùng được điều trị bằng dẫn lưu qua da
cho thấy tỷ lệ biến chứng là 13% [39]. Người ta thường tiến hành chụp NGT qua catheter
trước khi rút để xác định có sự thông thương giữa NGT với ống tụy hay không. Sự tái phát
NGT và rò dịch qua catheter là do bệnh lý về viêm chít hẹp hệ thống ống tụy và NGT
thông thương với ống tụy.
Chỉ định dẫn lưu NGT qua da:
+ Nang giả tụy nhiễm trùng.
+ Nang giả tụy kích thước > 6cm còn biểu hiện triệu chứng đau mặc dù đã điều trị
nội khoa hơn 4 tuần [3].
Chống chỉ định:
+ Bệnh nhân nghi ngờ nhồi máu cơ tim, hội chứng mạch vành cấp, phình tách động
mạch chủ, rối loạn nhịp tim phức tạp, tăng huyết áp không kiểm soát được, suy hô hấp, tụt
huyết áp.
+ Rối loạn đông máu: tỷ lệ prothrombin <50%, tiểu cầu < 50 G/l.
Sau khi đặt sonde dẫn lưu cần điều trị bổ túc với octreotide (Somatostatin 200 μg TDD x 3
lần/ngày x 1 tháng)
15
1.2.11.3. Nội soi tiêu hóa can thiệp
Có những đóng góp rất lớn trong điều trị NGT. Phương pháp thường được áp dụng:

- Phẫu thuật nội soi: Ngày càng có vị trí trong phẫu thuật cắt NGT cũng như thực
hiện nối NGT với đường tiêu hóa.
Tỷ lệ thương tật cho các trường hợp mổ dẫn lưu khoảng 15% và tỷ lệ tử vong <
5%. Tỷ lệ tái phát khoảng 10% sau mổ. Theo nghiên cứu tác giả Văn Tần (2004), tỷ lệ biến
chứng sớm là 8%, biến chứng muộn là 5%, tái phát là 5% khi theo dõi lâu dài [46]. Báo
cáo của Nguyễn Cường Thịnh (2004), biến chứng là 3%, tái phát là 7% [47]. Ở một số ít
ca, không thể mở thông vào trong được, bắt buộc phải mỡ dẫn lưu ra da. Khi đó nhiều khả
năng tạo đường dò mạn tính.
1.2.12. Biến chứng của phương pháp dẫn lưu qua da và cách xử lý [48]
1.2.12.1. Nhiễm trùng
Nguyên nhân nhiễm trùng thường do lây nhiễm vi khuẩn từ ổ áp xe vào máu hoặc
ra các tạng xung quanh có thê gây nhiễm trùng huyết hoặc viêm phúc mạc. Cũng có thể
nguyên nhân do bội nhiễm catheter do lưu catheter quá dài ngày.
Biểu hiện lâm sàng như sốt cao, rét run, ớn lạnh, đau.
Xử trí:
+ Phải vô khuẩn trong quá trình làm thủ thuật.
+ Chăm sóc catheter hàng ngày phòng tránh viêm, các bội nhiễm từ da. Nếu chân catheter bị
nhiễm trùng và sưng nề cần rút catheter và dẫn lưu vào một vị trí khác.
+ Dùng kháng sinh phổ rộng đường toàn thân, có thể dùng kháng sinh dự phòng để ngăn
ngừa biến chứng nhiễm trùng.
1.2.12.2. Chảy máu.
Là biến chứng nặng nề nhất. Có thể xảy ra do vỡ các phình mạch, cũng có thể xảy
ra do trong quá trình thủ thuật chọc vào mạch máu. Có thể xuất huyết trong nang hoặc
ngoài nang.
Trên lâm sàng chẩn đoán xuất huyết dễ dàng nếu thấy máu ra ở đầu catheter sau khi
thực hiện dẫn lưu.
Một số trường hợp xuất huyết xảy ra sau kết thúc thủ thuật được nghi ngờ nếu có
các dấu hiệu sau:
+ Có tình trạng xuất huyết không giải thích được.
+ Có giảm hematocarit không giải thích được.

hết các trường hợp này có thể được phát hiện bởi chụp CLVT và được điều trị bằng cách
loại bỏ dẫn lưu sau khi đường hầm được hình thành và làm tắc đường hầm bằng gạc. Nếu
có biến chứng xuất huyết cần phẫu thuật.
18
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Tất cả các bệnh nhân viêm tụy cấp có biến chứng nang giả tụy được điều trị bằng
phương pháp dẫn lưu qua da dưới hướng dẫn siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính tại khoa
Hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2008 đến năm 2013.
2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.
2.1.1.1.Chẩn đoán NGT sau VTC với tiêu chuẩn.
- Tiền sử có viêm tuỵ cấp.
- Đau bụng dai dẵng, âm ỉ, có khối vùng bụng.
- Chẩn đoán hình ảnh: khối chứa dịch đồng nhất, vỏ bao rõ, không tăng quang khi
bơm thuốc cản quang, không vôi hoá.
19
2.1.1.2.NGT sau viêm tụy cấp được dẫn lưu qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc
chụp CLVT.
- Chỉ định khi có 1 trong 2 tiêu chuẩn:
+ NGT kích thước > 6cm có triệu chứng đau, nôn ói mặc dù đã điều trị nội khoa >
4 tuần.
+ NGT nhiễm trùng.
- Chống chỉ định:
+ Bệnh nhân nghi ngờ nhồi máu cơ tim, hội chứng mạch vành cấp, phình tách động
mạch chủ, rối loạn nhịp tim phức tạp, tăng huyết áp không kiểm soát được, suy hô hấp, tụt
huyết áp.
+ Rối loạn đông máu: tỷ lệ prothrombin <50%, tiểu cầu < 50 G/l.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.
- Nang không phải là nang giả tụy.

/ 01 vị trí dẫn lưu .
- Kim Seldinger 18G.
- Dây dẫn (Guide-wire).
- Găng, bông, gạc vô khuẩn.
- Các dụng cụ vô khuẩn khác: bơm và kim tiêm, chỉ khâu chân dẫn lưu, khay men,
khay quả đậu, khăn trải có lỗ, các lọ đựng bệnh phẩm làm xét nghiệm, lam kính.
2.3.1.4. Thuốc
- Thuốc gây tê : Lidocain 2%.
- Thuốc sát khuẩn Betadin 10%.
2.3.1.5. Hồ sơ bệnh án
- Bệnh nhân sau khi tiến hành thủ thuật phải được ghi vào phiếu thủ thuật để dán
kết quả vào bệnh án.
2.3.2. Tiến hành thủ thuật
- Siêu âm xác định vị trí thuận lợi nhất: Vị trí tiếp xúc và diện tích tiếp xúc với
thành bụng. Đường đi của kim không đi qua các mạch máu, tránh vị trí có ống tiêu hóa, túi
mật.
- Máy siêu âm để bên đối diện với vị trí chọc và thầy thuốc, được bật sẵn.
- Sát khuẩn vị trí chọc với dung dịch sát khuẩn Betadine 10%, trải ga vô khuẩn.
- Dùng 01 túi nilon vô khuẩn chuyên dụng để bọc đầu dò máy siêu âm đảm bảo vô
trùng.
Bước 1: Sử dụng kim 22 hoặc 25 guage, gây tê tại chỗ với lidocain 2%. Gây tê từ
nông đến sâu. Vừa gây tê vừa hút trong suốt quá trình gây tê, gây tê từ từ từng lợp một.
21
Bước 2: Tay trái thầy thuốc làm thủ thuật siêu âm lại để xác định chính xác vị trí
sau đó chuyển người phụ giữ cố định đầu dò máy siêu âm . Tay phải cầm kim dẫn lưu chọc
dưới hướng dẫn đầu dò siêu âm, đưa kim vuông góc với thành bụng. Quan sát vị trí đầu
kim trên màn hình máy siêu âm. Vừa đưa kim vào vừa hút chân không trong tay cho đến
khi thấy đầu kim qua thành bụng, lớp phúc mạc, thành nang và hút ra dịch.
Bước 3: Đưa guide-wire dẫn đường vào nang giả tụy: Người phụ cầm giữ nguyên
đầu dò máy siêu âm. Thầy thuốc làm thủ thuật đưa chuyển kim từ tay phải sang tay trái.

biến. Vị trí của catheter được xác định bằng siêu âm hoặc chụp CLVT.
- Tỷ lệ tai biến thủ thuật:
+ Xuất huyết.
+ Thủng tạng rỗng.
+ Dẫn lưu không đúng mục tiêu.
2.3.6.2. Kết quả của dẫn lưu:
- Thành công: Kết hợp thành công về kỹ thuât và lâm sàng: Bệnh nhân rút được dẫn
lưu. Lâm sàng triệu chứng cải thiện, xét nghiệm bạch cầu bình thường. SA hoặc chụp
CLVT không còn nang.
- Thất bại: Bệnh nhân vẫn còn đau, sốt, dẫn lưu vẫn còn ra dịch, siêu âm nang không
xẹp.
- Tử vong liên quan đến dẫn lưu.
2.3.6.3. Đánh giá kết quả tái phát ít nhất 1 tháng sau rút dẫn lưu.
- Không tái phát (nang mất hay chỉ còn nang tồn lưu < 4cm).
- Tỷ lệ tái phát: Thời gian đánh giá tái phát chưa có bằng chứng. Tuy nhiên chúng tôi
đánh giá tái phát ít nhất sau 1 tháng sau rút dẫn lưu được xem là thời gian để vỏ nang dính
lại với nhau.
- Tỷ lệ các biến chứng muộn:
+ Nhiễm trùng.
+ Dò tụy: Sau rút dẫn lưu, vị trí chân dẫn lưu không liền, dịch tụy chảy qua
thành bụng.
+ Xuất huyết nang: Dẫn lưu ra máu tươi.
2.4. CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU.
2.4.1. Dịch tễ học.
24
- Tỷ lệ NGT sau VTC.
- Phân bố NGT theo tuổi, giới.
2.4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
2.4.2.1. Lâm sàng
Ghi nhận các triệu chứng của NGT trước khi thực hiện dẫn lưu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status