Phân tích chiến lược chiêu thị của dòng sản phẩm mì ăn liền Omachi của Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Massan - Pdf 22

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CHIÊU THỊ CỦA DÒNG SẢN PHẨM MÌ ĂN
LIỀN OMACHI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM MASAN
1.1 Sơ lược về công ty cổ phần thực phẩm Masan
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần thực phẩm Masan
a) Lịch sử hình thành và phát triển
Masan Group là một trong những tập đoàn kinh doanh hàng đầu tại Việt Nam, sở hữu
những danh mục đầu tư và những ngành nghề kinh doanh thuộc loại đứng đầu về tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Tiền thân Masan Group là Công ty Cổ phần Hàng hải Ma
San (MSC) được thành lập tháng 11/2004 với vốn điều lệ ban đầu là 3,2 tỷ đồng. Tháng
8/2009, MSC đổi tên thành Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San (Masan Group) và thực hiện
tái cấu trúc thông qua các đợt phát hành riêng lẻ. Đến tháng 10/2009, Masan Group hoàn tất
tăng vốn lên 4.763.998.200.000 đồng. Hiện tại, Công ty nắm giữ quyền kiểm soát 72,80%
Công ty Cổ phần Thực phẩm Ma San và 19,99% cổ phần trong Ngân hàng Kỹ Thương Việt
Nam (Techcombank). Để đầu tư và xây dựng kinh doanh như Masan Food và Techcombank,
công ty đã tận dụng những hiểu biết về thị trường nội địa của mình, kinh nghiệm quốc tế của
ban quản trị công ty và đối tác chiến lược nước ngoài, các chuyên gia quản lý rủi ro và khả
năng của Công ty, nhằm xây dựng thương hiệu, đồng thời là làm tăng giá trị của những công
ty mà Masan Group đầu tư và xây dựng quan hệ hợp tác. Công ty tin rằng với chiến lược
kinh doanh và kỹ năng quản lý, điều hành của mình, Công ty sẽ nắm bắt và tận dụng các cơ
hội để đạt được sự cộng hưởng thành công nhất với các công ty trong danh mục đầu tư.
Công ty cổ phần thực phẩm Masan thành lập năm 20/6/1996 tiền thân là công ty cổ phần
Công nghiệp- Kỹ nghệ - Thương mại Việt Tiến. Là một trong những công ty hàng đầu trong
ngành công nghiệp thực phẩm tại Việt Nam với các sản phẩm quen thuộc và có uy tín trong
ngành như: nước tương, nước mắm và tương ớt, đồng thời, dòng sản phẩm mì ăn liền cũng
đang dần khẳng định tên tuổi và vị trí trên thị trường. Sản phẩm của công ty đứng đầu trong
ngành gia vị và được xếp hạng trong số 25 nhãn hiệu hàng đầu Việt Nam và chiếm lĩnh thị
phần lớn mạnh. Để tăng thị phần, Masan Food tập trung quản lý các nhãn hiệu bằng cách
phân khúc thị trường mục tiêu với những sản phẩm riêng biệt tương ứng. Trong mỗi dòng
sản phẩm nước chấm, mì ăn liền và hạt gia vị đều có cả nhãn hiệu cao cấp và nhãn hiệu trung
cấp. Chiến lược cạnh tranh của công ty trong các ngành hàng này là tạo ra các sản phẩm có
chất lượng vượt trội so với tất cả các sản phẩm khác trên thị trường, đặc biệt là dòng nước

Masan Hải Dương: Km4, đường Nguyễn Lương Bằng, P. Việt Hòa, TP. Hải Dương, Tỉnh
Hải Dương - Công ty CP Masan Phú Quốc 261 Nguyễn Trung Trực, KP5, Thị trấn Dương
Đông, Huyện Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang.
Công ty hoạt động với vốn điều lệ là 1.300.000.000.000 VNĐ (một ngàn ba trăm tỷ
đồng), với nguồn nhân lực khoảng 800 người, và thông điệp: “Masan với mục tiêu trở thành
số 1 trong ngành hàng thực phẩm, Nơi Hội Tụ, Nuôi Dưỡng Khát Vọng và Tài Năng. Sẽ
không giới hạn về thử thách, không giới hạn về thu nhập, cũng như lộ trình thăng tiến của
bản thân của những ai muốn khẳng định và muốn tiếp tục vượt qua chính mình”. Thông điệp
này đã thể hiện khá rõ nét về chiến lược , quan điểm hoạt động và sự cam kết của Masan với
khách hàng, đối tác, cộng đồng, xã hội. Chủ Tịch HĐQT – Tiến Sĩ Nguyễn Đăng Quang đã
từng phát biểu “Các bạn đừng làm hài lòng tôi. Chúng ta đừng làm hài lòng nhau mà hãy tìm
mọi cách làm hài lòng khách hàng vì họ là người trả lương cho tất cả chúng ta!”. Chính vì
điều này mà công ty đã thu hút được rất nhiều các tài năng trẻ với đam mê lớn cho công việc,
mong ước khẳng định bản thân, góp phần đưa công ty ngày càng phát triển. Để củng cố
nguồn nhân lực của mình, bản thân công ty cũng thường xuyên tổ chức các chương trình đào
tạo như: “kỹ năng thương lượng”, “kỹ năng giao tiếp hiệu quả”, “Chuyên đề giải tỏa mâu
thuẫn và stress”… giúp cho nhân viên của công ty luôn làm việc đạt hiệu quả cao nhất. Cùng
với đó công ty có một hệ thống phân phối rộng khắp Việt Nam, hơn 150.000 điểm bán hàng
và hàng trăm các nhà phân phối lớn đã góp phần đưa sản phẩm của công ty tới tận tay người
tiêu dùng. Không những thế công ty còn phát triển xuất khẩu các mặt hàng của công ty qua
các nước lớn như: Mỹ, Canada, Pháp, Nga, CH Séc, Ba Lan, Đức, Trung Quốc, Khu vực
Trung Đông, Lào, Campuchia… Đưa vị trí của một thương hiệu Việt Nam vươn ra tầm quốc
tế.
Định hướng phát triển của Masan Food trong những năm sắp tới bao gồm:
- Tập trung khai thác tối đa các cơ hội kinh doanh khác nhau trong thị trường gia vị
thông qua các nhãn hiệu hiện tại, lập hệ thống phân phối “Nông thôn tiến”.
- Chiếm lĩnh thị phần lớn trong ngành mì gói tại Việt Nam, thông qua các cải tiến về
công nghệ, sản phẩm mới, cách thức phân phối kết hợp sức mạnh của gia vị.
- Phát triển các ngành hàng mới cho ngành hàng “thực phẩm tiện lợi” thông qua sự
thấu hiểu sâu sắc nhu cầu thị trường và sức mạnh vượt trội về công nghệ đảm bảo sức

vị của mì Ý, cùng khẩu hiệu: “Trải nghiệm hương vị đặc biệt của nước Ý – sức hấp
dẫn không thể chối từ”.
- Hủ tiếu mì ăn liền Omachi: khối lượng 75g, với “Vị hủ tiếu Nam Vang”, giá bán lẻ là
5.800 đồng/gói. Là sản phẩm đầu tiên là sự kết hợp từ sợi mì khoai tây và sợi hủ tiếu
gạo, tạo trải nghiệm mới cho khách hàng, theo khẩu hiệu: “Sức hấp dẫn không thể
chối từ”.
- Mì Oh!Ngon: khối lượng 74g, với vị “Bò hầm ngũ vị”, “Lẩu tôm hải vị”, giá bán lẻ là
3.200 đồng/gói. Là sản phẩm đánh vào phân khúc trung bình với khẩu hiệu “vị ngon
tôm thật, bò thật”, tạo vị ngon đặc biệt cho người tiêu dùng.
1.1.2 Giới thiệu về dòng sản phẩm mì ăn liền Omachi
a) Các sản phẩm của nhãn hiệu Omachi trên thị trường
- Mì ăn liền Omachi: khối lượng 80g, với 3 hương vị là “Lẩu tôm chua cay”, “Sườn
hầm ngũ quả”, “Xốt bò hầm”, được tung ra thị trường vào năm 2007, đã được công ty
thay đổi bao bì sản phẩm và slogan năm 2009.
- Mì ăn liền Omachi sốt Spaghetti: khối lượng 84g, với 2 hương vị là “Vị Bò” và “Vị
thịt bằm”, được tung ra thị trường vào khoảng giữa năm 2010.
- Hủ tiếu mì ăn liền Omachi: khối lượng 75g, với “Vị hủ tiếu Nam Vang”, là sản phẩm
hủ tiếu mì đầu tiên trên thị trường được tung ra vào khoảng đầu năm 2010.
b) Định vị
Mì ăn liền từ rất lâu đã trở thành một mặt hàng quen thuộc trên tủ bếp của mỗi gia đình
người Việt. Dưới góc nhìn của người tiêu dùng, phần lớn đánh giá cao mì qua tính tiện dùng
nhưng cũng có e ngại khi cho rằng sản phẩm ăn liền gốc mì có thể gây nóng (nhiệt) trong cơ
thể. Đây cũng là điểm then chốt đối với phân khúc tiêu dùng có thu ở mức khá. Sự quan tâm
đến sức khoẻ và rào cản từ đặc tính sản phẩm chính là thách thức cho các thương hiệu vị định
vị vào phân khúc trung cao. Để tiếp cận phân khúc này, Omachi chọn giải pháp làm sợi mì
bằng khoai tây để xoá đi nỗi nghi ngại sợ nóng của người tiêu dùng. Thực ra, để làm sợi mì
thuần từ khoai tây có vẻ sẽ là một thách thức cho nhà sản xuất về vấn đề giá thành. Tuy
nhiên, sự thành công đáng ngạc nhiên của Omachi khi chiếm giữ một thị phần tương đương
với thị phần của Govimex (khoảng 2% tính cho toàn thị trường mì ăn liền) trong vòng hơn
sáu tháng kể từ khi tung sản phẩm cho thấy người tiêu dùng có lý lẽ riêng của mình. Điều

thương hiệu trong lòng khách hàng.
1.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công ty
1.2.1 Yếu tố nguồn nhân lực
Có thể thấy rằng trong bất cứ một công ty nào thì yếu tố nhân lực là một yếu tố vô cùng
quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới sự thành bại của các hoạt động kinh doanh hay sản xuất của
công ty. Để đưa Masan Food đứng vững và phát triển mạnh mẽ như ngày hôm nay có một
phần đóng góp rất lớn của đội ngũ nhân viên tận tụy, sáng tạo và trung thành của công ty.
Tính tới hết ngày 31/12/2010, công ty có 732 cán bộ nhân viên, gồm 345 nam (47%) và 387
nữ (53%) và đội ngũ đào tạo bài bản có trình độ chuyên môn cao.
Trình độ nhân lực của công ty được phân cấp như sau:
Trình độ Số lượng Tỉ lệ
Trên đại học 6 0.82%
Đại học 327 44.67%
Cao đẳng 132 18.03%
Trung cấp 154 21.04%
PTTH 105 14.34%
PTCS 8 1.09%
Tiểu học - 0.00%
Tổng cộng 732 100.0%
Tỷ lệ nhân viên có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống chủ yếu rơi vào nhóm lao
động trực tiếp của kho, nhân viên giới thiệu sản phẩm PG, lái xe, tạp vụ thuộc hành chính.
Công ty luôn cam kết một chính sách nhất quán, nhiều ưu đãi, luôn hướng tới người lao
động để tạo được một nguồn nhân lực phát triển toàn diện, chuyên nghiệp và gắn bó lâu dài
với mục tiêu chung của công ty. Với chế độ làm việc 44h/tuần, nghỉ trưa 1h, làm thêm không
quá 4h/ngày, người lao động được nghỉ lễ theo như quy định của nhà nước và được nghi
phép 12 ngày/năm. Công ty luôn không ngừng đa dạng hóa cách hoạt động kinh doanh, cải
tiến các thiết bị máy móc, môi trường làm việc tốt, thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo hộ cho
người lao động, cam kết đảm bảo giải quyết công việc cho tất cả số lao động hiện có, cũng
như chế độ lương, thưởng hợp lí và đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho toàn bộ công nhân
viên. Chính vì điều này mà đã giúp người lao động yên tâm công tác và gắn bó với công ty

Kế hoạch
2010
Thực hiện
2010
Kế hoạch vs
thực hiện
2010 vs
2009
(Triệu VNĐ) (in %) (in %)
Doanh thu gộp
4.078.147
6.180.000
5.689.498
92%
140%
Giảm trừ doanh thu (120.233) (180.000) (103.211) 57% 86%
Doanh thu thuần
3.957.814
6.000.000
5.586.288
93%
141%
Giá vốn bán hàng (2.583.875) (3.750.000) (3.194.617) 85% 124%
Lợi nhuận gộp
1.373.938
2.250.000
2.391.671
106%
174%
Thu tài chính 146.011 100.000 151.304 151% 104%

Để có được lòng tin và uy tín đối với người tiêu dùng cũng như những thành công của
các sản phẩm như nước chấm, gia vị và đặc biệt là mì ăn liền Omachi trên thị trường hiện
nay, cũng 1 phần là nhờ sự đầu tư rất nhiều vào công nghệ sản xuất, lẫn khâu phát triển các
sản phẩm mới của công ty. Hiện Masan Food đang sở hữu một trung tâm nghiên cứu và phát
triển sản phẩm (MRD- Masan Research & Development Center) hiện đại bậc nhất ở Việt
Nam. Công ty cũng sở hữu trên 10 bí quyết quan trọng nhất của ngành chế biến gia vị thực
phẩm và có khả năng cho ra đời 50- 60 dòng sản phẩm mới mỗi năm. MRD có đủ khả năng
đáp ứng nhu cầu phát triển mang tính đột phá, cách mạng của công ty trên thị trường. MSR
cũng chính là nơi sản sinh ra dòng sản phẩm mì ăn liền Omachi có nhiều đột phá, đã mang lại
nhiều thành công cho Masan Food trên thị trường mì ăn liền, tạo vị thế mới cho công ty.
Ngoài ra công ty cũng đã đầu tư xây dựng mới nhà máy Massan Hải Dương, khánh thành đi
vào hoạt động nhà máy Masan Phú Quốc, đồng thời triển khai kế hoạch cải tiến dây chuyền
sản xuất theo mô hình tự động hóa sản xuất theo tiêu chuẩn GMP/HACCP tại tổ hợp sản xuất
MSI Bình Dương. Nhờ việc quan tâm tới phát triển công nghệ trong sản xuất cũng như trong
nghiên cứu phát triển sản phẩm mới mà Masan Food đã liên tục đưa ra trên thị trường những
sản phẩm mới đáp ứng được nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng, tạo cho công ty những
thành công mới.
1.2.4 Yếu tố thị trường và ngành hàng
a) Sơ lược về thị trường mì ăn liền của Việt Nam
Việt Nam được xem là một trong những nước tiêu thụ mì ăn liền nhiều nhất châu Á. Theo
dự báo của các chuyên gia, ngành sản xuất mì ăn liền sẽ tiếp tục tăng trưởng ở tốc độ cao, sản
lượng sẽ tăng lên khoảng 6-7 tỷ gói trong vòng 3 năm tới. Hướng tới, các doanh nghiệp sẽ
không đi vào sản xuất theo chiều rộng mà tập trung vào chiều sâu và đa dạng hóa sản phẩm
với mì gói, mì ly, mì tô, mì không chiên, mì tươi. Ông Nguyễn Mạnh Hà, Chủ tịch HĐQT,
Tổng Giám đốc Công ty Asia Food, cho rằng, ngành công nghiệp sản xuất mì gói ngày càng
khó khăn hơn vì có rất nhiều doanh nghiệp tham gia vào. Để ổn định được giá thành sản
phẩm, tăng tính cạnh tranh, ngoài việc công ty phải không ngừng đầu tư các dây chuyền sản
xuất hiện đại thì định mức hao hụt trong tất cả khâu phải duy trì ở mức dưới 1%. Ngoài yếu
tố chất lượng, giá cả, mì ăn liền cũng đang phải đối đầu với nhiều sản phẩm thay thế như
cháo, phở, miến, hủ tiếu, bún bò Huế, bún riêu cua và chưa kể các món ăn tươi truyền

bắt đầu xoay chuyển tình thế, hướng thị trường mì ăn liền Việt Nam phát triển theo một xu
thế mới, xu thế cạnh tranh quan tâm tới sức khỏe và khẩu vị của người tiêu dùng. Với những
thông điệp marketing chưa có tiền lệ, đánh vào mối quan tâm về sức khỏe của người tiêu
dùng, sản phẩm mì ăn liền của Masan Food đã lại khuấy động thị trường. Sau chưa đầy 3
năm có mặt trên thị trường, Omachi đã giành được 15% thị trường, đánh bật cả thương hiệu
lâu đời Vifon và một nhà sản xuất mạnh khác là Asia Food.
b) Đối thủ cạnh tranh của Masan
Qua đôi nét về thị trường mì ăn liền Việt Nam hiện nay, chúng ta có thể thấy đây là một
thị trường rất tiềm năng nhưng cũng cạnh tranh rất khốc liệt, với những đối thủ đáng gờm
như:
- Công ty cổ phần Acecook Việt Nam (Vina Acecook): là doanh nghiệp liên doanh giữa
một doanh nghiệp Acecook Nhật Bản và Vifon Việt Nam, được thành lập ngày
15/12/1993, là anh cả trong thị trường mì ăn liền ở Việt Nam. Với các nhãn hàng
được người tiêu dùng cả nước tin tưởng và yêu thích như: Hảo Hảo, Hảo 100 trong
phân khúc bình dân và các nhãn hàng phân khúc trung cao như Đệ nhất mì gia, Phở
Xưa và Nay, Sao sáng, Miến Phú Hương Vina Acecook hiện đang sở hữu 6 nhà
máy chuyên sản xuất các sản phẩm mì ăn liền, miến ăn liền, bún ăn liền, phở ăn liền,
… Và hơn 700 đại lý phân phối sản phẩm rộng khắp trên cả nước. Vina Acecook
nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng được bảo chứng bởi công nghệ Nhật Bản. Lý do để
tin vào thông điệp của Acecook là khá rõ ràng: Acecook là một công ty đến từ Nhật
Bản, quốc gia sản sinh ra mì ăn liền. Bên cạnh đó, Acecook còn không ngừng chú
trọng đến an toàn vệ sinh thực phẩm thông qua các tiêu chuẩn cao về chất lượng,
quản lý như IFS, HACCAP, ISO, các sản phẩm của công ty luôn được thẩm định kĩ
về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như giá trị dinh dưỡng cao… trước khi
được đưa tới tay người tiêu dùng. Chính nhờ những giá trị này mà các sản phẩm của
Vina Acecook đã đạt được rất nhiều các giải thưởng uy tín, cũng như đứng đầu trên
thị trường mì ăn liền hiện nay, với thị phần khoảng hơn 60%. Có thể thấy các sản
phẩm ở phân khúc trung cao của Vina Acecook là đối thủ đáng gờm của Massan
Food trong thị trường mì ăn liền hiện nay.
- Công ty cổ phần thực phẩm Á Châu (Asian Food): là doanh nghiệp 100% vốn Việt

- Số thị phần còn lại của thị trường mì ăn liền được chia đều cho rất nhiều sản phẩm
của các thương hiệu khác như: Sài Gòn Wevong với sản phẩm Mì Aone cũng là một
thương hiệu đến từ Nhật Bản và cũng có những hoạt động truyền thông đáng kể với
sự liên tưởng mạnh mẽ từ những hình ảnh ấm cúng của một gia đình cộng với sự hỗ
trợ từ dòng sản phẩm bột ngọt, bột nêm mang cùng tên thương hiệu Hay Uni-
President là một thương hiệu nước ngoài đến từ Đài Loan, lại chọn cho mình một
định vị khác. Với sự bảo trợ của một nhân vật có sức hút mạnh mẽ không chỉ với bà
nội trợ, đầu bếp tài hoa Yan, cái tên Mì vua bếp cũng đã tạo dựng cho mình một chỗ
đứng trên thị trường mì vốn cạnh tranh khá khốc liệt… Và còn rất nhiều nữa những
thương hiệu sản phẩm mì ăn liền có ảnh hưởng trên thị trường Việt Nam ở cả thị
trường cao cấp, trung cấp và bình dân…
1.3 Chiến lược chiêu thị cho dòng sản phẩm mì ăn liền Omachi của công ty cổ phần thực
phẩm Masan trong năm 2010
1.3.1 Bảng kế hoạch chiêu thị của công ty cho dòng sản phẩm mì ăn liền Omachi năm
2010
a) Mục tiêu chiêu thị của Masan Food cho dòng mì ăn liền Omachi năm 2010
Trong năm 2010, Masan Food đặt ra mục tiêu phát triển của nhãn hiệu mì ăn liền Omachi
là:
- Tiếp tục duy trì và phát triển dòng sản phẩm hiện có của Omachi loại 80g với 3
hương vị chính là “Sườn hầm ngũ quả”, “Xốt bò hầm”, “Lẩu tôm chua cay”, chú
trọng tới việc đáp ứng đủ hàng cho thị trường, tránh tình trạng hụt hàng như năm
2009, mở rộng thêm mạng lưới phân phối để có thể mang sản phẩm tới tận tay người
tiêu dùng một cách thuận lợi nhất.
- Đưa ra thị trường dòng sản phẩm mới của Omachi là: “Omachi sốt Spaghetti” với
hương vị đầu tiên là “Xốt Bò”. Mục tiêu tạo khẩu vị mới cho người tiêu dùng, tạo
được độ nhận biết và thu hút sự chú ý cho khách hàng, kích thích khách hàng sử dụng
sản phẩm, tạo nền tảng vững chắc để có thể tung ra thị trường thêm hương vị “Xốt
thịt bằm” vào khoảng đầu năm 2011.
- Đưa thêm 1 sản phẩm mới là hủ tiếu mì Omachi vị Nam Vang, là sự kết hợp giữa sợi
mì khoai tây đặc trưng của dòng sản phẩm Omachi và sợi hủ tiếu, tạo giá trị ẩm thực

Ngày 20/4/2010 tới 10/5/2010: 60 TVC 0:36s.
Ngày 20/5/2010 tới 30/6/2010: 20 TVC 0:36s và 20
TVC 0:18s.
Thời gian Công cụ chiêu thị Nội dung
-TVC quảng cáo mì Omachi loại 80g
- Độ dài TVC 0:30s và 0:15s.
- Slogan: “sức hấp dẫn không thể chối từ”
- Phương tiện truyền thông: HTV7, VTV3, VTV1
- Khung thời gian phát sóng: 11h-12h, 17h30-
18h45, 20h-22h.
- Thời gian quảng cáo:
Ngày 1/4/2010 tới 20/4/2010: 25 TVC 0:15s
Ngày 15/5/2010 tới 30/6/2010: 20 TVC 0:15s và 15
TVC 0:15s.
Khuyến mại
- Hình thức: tặng sản phẩm dùng thử hủ tiếu mì
Omachi cho khách hàng.
- Số lượng sản phẩm tặng dùng thử: 3.000 gói.
- Nhân viên phát trực tiếp tại các siêu thị cho khách
hàng ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
- Hình thức: giảm giá trực tiếp 10% với sản phẩm
mì ăn liền Omachi 80g các loại.
- Thời gian: 5/4/2010 tới 5/5/2010
- Áp dụng: tại các siêu thị và hệ thống bán lẻ trên cả
nước.
- Hình thức: Tặng 1 gói hủ tiếu mì Omachi khi mua
1 lốc 5 gói mì Omachi.
- Thời gian: 15/5/2010 tới 15/6/2010
- Áp dụng tại các siêu thị trên cả nước.
Quý 3/2010 Quảng cáo

TVC 0:15s.
Ngày 15/11/2010 tới 20/12/2010: 60 TVC 0:15s.
Khuyến mại
- Hình thức: tặng sản phẩm mì Omachi xốt
Spaghetti thông qua cuộc thi trên website.
- Thời gian: 6/12/2010 đến 16/1/2011
- Áp dụng tại địa chỉ trang web:
/>- Tham gia trả lời câu hỏi gameshow có cơ hội nhận
được 10 gói mì đến 1 năm dùng miễn phí sản phẩm
mì Omachi xốt Spaghetti. Sản phẩm trúng thưởng
sẽ được công ty gửi tới tận tay khách hàng.
Thời gian Công cụ chiêu thị Nội dung
- Hình thức: khuyến mãi giảm giá trực tiếp 10%
trên sản phẩm mì Omachi xốt Spaghetti.
- Thời gian: từ 2/11/2010 tới 2/12/2010.
- Áp dụng tại hệ thống siêu thị ở thành phố Hồ Chí
Minh.
1.3.2 Phân tích chiến lược chiêu thị của công ty cổ phẩn thực phẩm Masan cho dòng sản
phẩm mì ăn liền Omachi
a) Phân tích công cụ quảng cáo
Theo bảng kế hoạch chiêu thị ở trên chúng ta có thể thấy quảng cáo là công cụ chiêu thị
luôn được công ty sử dụng xuyên suốt các quý trong năm. Theo tính toán sơ bộ mỗi tháng
Masan Food bỏ ra chi phí để dành cho truyền thông quảng cáo là khoảng hơn 200.000 USD.
Trong quý 2 và quý 3 năm 2010, công ty thực hiện kế hoạch đưa ra thị trường 2 dòng sản
phẩm mới của Omachi là “Hủ tiếu mì Omachi” và “Omachi xốt Spaghetti”. Chính vì vậy mà
công tác truyền thông quảng cáo càng đóng vai trò quan trọng và cân thiết hơn để giúp công
ty tăng được độ nhận biết sản phẩm, cũng như kích thích nhu cầu của người tiêu dùng với 2
dòng sản phẩm này. Có thể thấy trong năm 2010, chiến lược truyền thông quảng cáo của
công ty được chia ra làm 2 hướng rõ ràng. Thứ nhất là thực hiện quảng cáo nhắc nhở người
tiêu dùng cho dòng sản phẩm Omachi thường (loại 80g) đã tồn tại trên thị trường. Thứ hai là

Omachi mềm và sợi hủ tiếu Nam Vang truyền thống dai ngon, sẽ mang tới cho người
sử dụng sự hài lòng và cảm giác thích thú. Tạo ấn tượng cho người tiêu dùng về sản
phẩm kết hợp độc đáo mới lạ lần đầu tiên xuất hiện của Omachi. Tần suất của quảng
cáo này khá cao và được trải dài trong quý 2/2010 và quý 3/2010 với những khung
giờ có người xem nhiều trên các kênh HTV7, VTV1, VTV3 nhằm tạo độ nhận biết
cho khách hàng 80% người xem sẽ biết và nhận biết được đặc điểm của sản phẩm
mới, 70% trong số đó chọn mua và dùng thử sản phẩm, 55% trong số đó sẽ chọn lại
sản phẩm lần thứ 2.
Đối với TVC quảng cáo của “Omaci xốt Spaghetti”, chủ yếu thể hiện sự đặc biệt
của sợi mì tròn, dai ngon từ khoai tây hòa quyện với xốt Spaghetti được làm từ cà
chua tươi và thịt bò bằm tạo ra cho người dung trải nghiệm một món mì trộn theo
phong cách Ý thật là hoàn hảo. Tạo sự tò mò và hấp dẫn cho người tiêu dùng về một
sản phẩm rất mới và lạ lần đầu tiên xuất hiện, kích thích cho người tiêu dùng mua sản
phẩm, làm nền tảng để phát triển thêm hương vị mới cho dòng sản phẩm này. Quảng
cáo được chiếu liên tục trong quý 3/2010 và quý 4/2010 với tần suất cao để gây ấn
tượng lớn với người tiêu dùng. Với mục tiêu là 80% người xem sẽ biết và nhận biết
được đặc điểm của sản phẩm mới, 70% trong số đó chọn mua và dùng thử sản phẩm,
55% trong số đó sẽ chọn lại sản phẩm lần thứ 2.
b) Phân tích công cụ khuyến mại
Cũng như công cụ quảng cáo, thì khuyến mại cũng là một công cụ hết sức quan trọng hỗ
trợ cho quảng cáo trong chiến lược chiêu thị dành cho dòng sản phẩm Omachi của Masan
Food. Nắm bắt được tâm lí thích khuyến mại của người tiêu dùng, trong năm 2010, công ty
đã tổ chức 2 đợt khuyến mại lớn vào quý 2/2010 và quý 4/2010 với 2 mục đích nhằm củng
cố và kích thích mua của người tiêu dùng và kích thích mua dùng thử của khách hàng ở dòng
sản phẩm mới của Omachi là “Hủ tiếu mì Omachi” và “Omachi xốt Spaghetti”. Chúng ta có
thể thấy sự thể hiện rõ ràng của 2 mục đích này như sau:
• Công cụ khuyến mại kích thích người tiêu dùng mua
- Mục đích khuyến mại: nhằm tăng doanh số, kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm
nhiều hơn, đồng thời hỗ trợ cho quảng cáo giúp củng cố lòng tin của người tiêu dùng
vào sản phẩm.

ty. Thời gian tổ chức cuộc thi và khuyến mãi này rơi vào dịp cuối năm là thời điểm
mua sắm tiêu dùng nhiều. Chính vì thế đây cũng là một đòn bẩy giúp sản phẩm được
tiêu thụ nhiều hơn, và được người tiêu dùng chú ý nhiều hơn.
c) Ưu điểm và khuyết điểm của chiến lược chiêu thị của công ty
Có thể thấy được rằng việc kết hợp 2 công cụ chiêu thị là quảng cáo và khuyến mại một
cách hợp lí và tuần tự như vậy đã tạo rất nhiều lợi thế cho công ty, giúp thị phần của công ty
trên thị trường mì ăn liền năm 2010 tăng lên 45% đứng thứ 2 sau Vina Acecook. Có thể thấy
rằng ưu điểm của chiến lược chiêu thị này là: việc hoạch định chiến lược rõ ràng và tính toán
chi tiết đã giúp Masan lựa chọn chính xác phân khúc tiêu dùng mục tiêu cho Omachi. Công
ty đã có một kế hoạch triển khai đồng bộ và chuẩn xác từ lựa chọn thời điểm tung sản phẩm,
hoạt động truyền thông đồng bộ nghĩa là nếu quảng cáo đi trước để nhắc nhở hay giới thiệu
sản phẩm mới thì khuyến mại sẽ đi sau để củng cố cũng như kích thích nhu cầu tiêu thụ sản
phẩm của người tiêu dùng, phân bổ phù hợp theo tiến độ cũng như kênh đối thoại, và cường
độ truyền thông thích hợp. Thông điệp marketing của sản phẩm đánh trúng mục tiêu mong
đợi của ngưòi tiêu dùng và thể hiện bằng một ngôn ngữ rõ ràng, đơn giản, dễ đón nhận.
Thương hiệu công ty là một lợi thế khi biết khai thác phù hợp. Thời gian của các đợt khuyến
mại giảm giá cũng khá hợp lí, là vào khoảng tháng 4, tháng 5 và cuối năm, là những khoảng
thời gian tiêu dùng cần được kích thích mạnh để nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng tăng,
giúp tăng doanh thu cho công ty. Truyền thông quảng cáo sử dụng nhưng khung giờ có nhiều
khán giả và xuất hiện tần suất cao cũng giúp cho việc ghi nhớ và nhận biết sản phẩm của
người tiêu dùng tốt hơn. Nhưng bên cạnh những ưu điểm này thì chiến lược chiêu thị của
công ty vẫn còn một số thiếu sót như ít tập trung vào việc PR cho công ty và sản phẩm mì ăn
liền, bằng việc tài trợ các chương trình hoặc tổ chức các cuộc thi hay giới thiệu sản phẩm
mới… cũng như thiếu việc tạo sự liên kết với khách hàng với công ty và với nhãn hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status