PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm về chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực
tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, thể hiện sự dịch chuyển
nguyên vật liệu xuyên suốt quá trình từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối
cùng.
1.2. Quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế, lập kế hoạch, triển khai quản lý các
quy trình tích hợp các thành viên trong chuỗi nhằm tối đa hóa giá trị cho toàn
chuỗi .
Quản lý chuỗi cung ứng là công việc không chỉ dành riêng cho các nhà quản lý
về chuỗi cung ứng. Tất cả những bộ phận khác của một tổ chức cũng cần hiểu về
SCM bởi họ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của chuỗi
cung ứng
1.3. Tình hình chuỗi cung ứng tại Việt Nam
Phát triển chuỗi cung ứng được đánh giá có thể mang lại nhiều lợi ích cho
ngành công nghiệp Việt Nam, nhưng đến nay số lượng công ty Việt Nam trong
ngành hỗ trợ, có đủ năng lực để tham gia chuỗi cung ứng còn quá ít. Việt Nam vẫn
chưa hội nhập vào chuỗi cung ứng của khu vực. Do đó, khi Việt Nam trở thành
nước có thu nhập trung bình, việc tham gia vào chuỗi cung ứng chính là điều Việt
Nam cần chú ý hơn nếu vẫn muốn duy trì năng lực cạnh tranh của mình.
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam khi đề cập đến chuỗi cung ứng đều có
chung câu hỏi “Quản trị chuỗi cung ứng thực chất là gì? Liệu công việc ấy đã được
thực hiện trong doanh nghiệp chúng tôi hay chưa? Nếu chưa chúng tôi phải làm gì
đầu tiên?”
Quả đúng như vậy, trong bối cảnh mà quản trị chuỗi cung ứng và logistics
đang trở thành một xu hướng quan trọng, có ý nghĩa về mặt chiến lược với doanh
nghiệp thì việc hiểu đúng và đi đúng sẽ là bước quan trọng đầu tiên.
Về bản chất, quản trị chuỗi cung ứng là việc quy về một mối và thống nhất
quản lý và cộng tác giữa các bộ phận. Trước đây, để bán một sản phẩm phải trải qua
rất nhiều phòng ban, từ mua hàng, đến bộ phận sản xuất, đến logistics và dịch vụ
chế độ cũ để lại . Công ty có trụ sở chính tại Số 10 phố Tân Trào, Phường Tân Phú,
Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ cấu tổ chức gồm 17 đơn vị trực thuộc và 1 Văn phòng. Tổng số CBCNV
4.500 người. Chức năng chính : Sản xuất sữa và các chế phẩm từ Sữa. Nhiều năm
qua, với những nỗ lực phấn đấu vượt bậc, Công ty trở thành một trong những doanh
nghiệp hàng đầu của Việt Nam trên tất cả các mặt. Thành tựu của Công ty đã đóng
góp tích cực vào sự phát triển sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Tính theo doanh số và sản lượng, Vinamilk là nhà sản suất sữa hàng đầu tại
Việt Nam. Danh mục sản phẩm của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa
nước và sữa bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt
uống, kem và phó mát. Vinamilk cung cấp cho thị trường một những danh mục các
sản phẩm, hương vị và qui cách bao bì có nhiều lựa chọn nhất.
Theo Euromonitor, Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu tại Việt Nam
trong 3 năm kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2007. Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động
năm 1976, Công ty đã xây dựng hệ thống phân phối rộng nhất tại Việt Nam và đã
làm đòn bẩy để giới thiệu các sản phẩm mới như nước ép, sữa đậu nành, nước uống
đóng chai và café cho thị trường.
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương
hiệu“Vinamilk”, thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng”
và là một trong nhóm 100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn
năm 2006. Vinamilk cũng được bình chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất
lượng cao” từ năm 1995 đến năm 2007.
Hiện tại Công ty tập trung các hoạt động kinh doanh vào thị trường đang
tăng trưởng mạnh tại Việt Nam mà theo Euromonitor là tăng trưởng bình quân
7.85% từ năm 1997 đến 2007. Đa phần sản phẩm được sản xuất tại chín nhà máy
với tổng công suất khoảng 570.406 tấn sữa mỗi năm. Công ty sở hữu một mạng lưới
phân phối rộng lớn trên cả nước, đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi đưa sản
phẩm đến số lượng lớn người tiêu dung
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (VINAMILK) đã lớn mạnh và trở thành
doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, hiện chiếm lĩnh
: dòng sản phẩm
: dòng thông tin
: dòng tài chính
Hộ nông
dân, trang
tại nuôi bò
Người
tiêu
dùng
Đại lý, cúa
hàng
Phân
phối)
Công ty, Nhà máy
sản xuất
Trung tâm thu
mua sữa tươi,
làm lạnh 4
0
C
Nhập khẩu
nguyên liệu sữa
2.2.1. Khâu cung ứng đầu vào
Khâu cung ứng đầu vào của công ty sữa Vinamilk gồm: nguồn nguyên liệu
nhập khẩu và nguồn nguyên liệu thu mua từ các hộ nông dân nuôi bò, nông trại nuôi
bò trong nước. Đây là thành viên đầu tiên trong chuỗi cung ứng. Các hộ nông dân
nuôi bò, nông trại nuôi bò có vai trò cung cấp nguyên liệu sữa đầu vào cho sản xuất
thông qua trạm thu gom sữa. Sữa được thu mua từ các nông trại phải luôn đạt được
các tiêu chuẩn về chất lượng được ký kết giữa công ty Vinamilk và các nông trại
cũng như công ty Vinamilk
- Ngoài ra Perstima Bình Dương Việt Nam, cùng với nhiều công ty khác
trong nước cũng là nhà cung cấp chiến lược cho Vinamilk trong hơn 10 năm qua.
Chuỗi cung ứng đầu vào có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành
nên một sản phẩm chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng chính vì
vậy xây dựng mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững đối với các nhà cung cấp
chiến lược nsw trong và ngoài nước là mục tiêu chính của Vinamilk nhằm đảm bảo
nguồn cung cấp nguyên liệu thô không ngừng ổn định về chất lượng cao cấp mà còn
ở giá cả rất cạnh tranh.
Ưu điểm của khâu cung ứng đầu vào:
Sữa bò được thu mua từ nông dân Việt Nam, qua nhiều khâu kiểm tra tại các
trạm thu mua, trung chuyển. Có đội ngũ chuyên viên hỗ trợ bà con nông dân về kỹ
thuật nuôi bò, thức ăn, vệ sinh chuồng trại, cách vắt sữa, cách bảo quản và thu mua
sữa…Sữa tươi nguyên liệu sau khi được thu mua và trữ lạnh trong các xe bồn, khi
đến nhà máy lại được kiểm tra nhiều lần trước khi đưa vào sản xuất, tuyệt đối
không chấp nhận sữa có chất lượng kém, chứa kháng sinh…
Hạn chế của chuỗi cung ứng đầu vào:
Bột sữa, chất béo sữa…(sử dụng trong sản xuất sữa hồn nguyên, sữa tiệt
trùng, sữa chua…và các loại sản phẩm khác): được nhập khẩu từ nguồn sản xuật
hàng đầu và có uy tín trên thế giới như Mỹ, Úc, New Zealand… chính vì vậy mà giá
thành rất cao.
2.2.2. Khâu sản xuất của Công ty Vinamilk
Sau khi sữa được vận chuyển về các nhà máy chế biến các nhà máy chế biến
sữa, và được kiểm tra nhiều lần mới cho sữa vào dây chuyền sản xuất.
Qui trình sản xuất sữa Vinamilk
Tại nhà máy sản xuất: Có vai trò tiếp nhận nguyên liệu sữa từ trung tâm thu
mua sữa hoặc từ các nhà cung cấp nguyên liệu sữa nhập khẩu và thực hiện các giai
đoạn sản xuất. Nguyên liệu sữa được trải qua một quá trình chuẩn hóa, bài khí,
đồng hóa và thanh trùng được đóng gói tạo ra sữa thành phẩm.
+ Nhà máy sữa Sài Gòn, khu công nghiệp Tân Thới Hiệp, Q.12, Tp. HCM,
chuyên sản xuất: sữa tươi, sữa chua, sữa chua uống.
+ Nhà máy sữa Cần Thơ, khu Công nghiệp Trà Nóc, Cần Thơ, chuyên sản
xuất: sữa tươi, sữa chua, kem bánh.
+ Xí nghiệp Kho Vận, 32 Đặc Văn Bi, quận Thủ Đức, tp HCM, chuyên: vận
chuyển, giao nhận
Tất cả các phòng thí nghiệm tại các nhà máy của Vinamilk đều đạt chứng
nhận ISO 17025 cho lĩnh vực hóa học và sinh học. Toàn bộ 10 nhà máy đang hoạt
động trong khối sản xuất của Vinamilk đều có hệ thống quản lý môi trường được
chứng nhận đạt chuẩn ISO 14001:2004.
2.2.3. Khâu phân phối đầu ra của công ty Vinamilk
Công ty Vinamilk phân phối hàng hóa thông qua tập đoàn Phú Thái đến các
đại lý, cửa hàng rồi đến người tiêu dùng là nhân tố cuối cùng trong chuỗi phân phối
đầu ra – tiêu dùng- Người tiêu dùng là người trực tiếp tiêu thụ sữa.
- Các đại lý, cửa hàng, siêu thị có vai trò nhận sữa từ nhà phân phối và cung
ứng sữa tươi đến người tiêu dùng.
- Người tiêu dùng là những người trực tiếp tiêu thụ sữa. Người tiêu dùng có
thể mua sữa từ các đại lý, hệ thống siêu thị, cửa hàng bán buôn hoặc bán lẻ
đồng thời thanh toán tiền sữa tại nơi mua hàng.
Hệ thồng đại lý của công ty phân thành hai loại: nhóm các sản phẩm về sữa
gồm có sữa đặc, sữa bột… và nhóm sản phẩm kem, sữa chua, sữa tươi
- Với nhóm sản phẩm về sữa (sữa đặc, sữa bột…): Vinamilk đặt ra điều kiện
thiết yếu là phải giữ cam kết không bán bất kỳ sản phẩm sữa nào khác đối
với đại lý cho các sản phẩm này.
- Với nhóm sản phẩm kem, sữa chua, sữa tươi…: công ty chủ trương mở rộng
rãi và không hạn chế ngặt nghèo về các điều kiện của đại lý. Bởi đây là các
mặt hàng bán trực tiếp đền tay người tiêu dùng, tính cạnh tranh không cao,
không phải là mặt hàng chiến lược của công ty nên càng mở rộng hệ thống
phân phối thì sản phẩm càng được phổ biến.
- Thường đối với đại lý, tùy thuộc vào vị trí, địa điểm bán hàng mà công ty
theo doanh số bán hàng của các đại lý, đã làm khuyến khích việc mở rộng thêm đại
lý nhỏ, bán lẻ,…
Hạn chế trong khâu phân phối của công ty:
Do công ty có hệ thống đại lý lớn nhưng việc quản lý các đại lý này, đặc biệt
là vùng sâu, vùng xa lại là một khó khăn đối với công ty. Mặc khác, những quầy tập
hóa, nhà phân phối nhỏ lẻ ở “cấp dưới” công ty cũng khó kiểm soát được hết.
Hạn chế trong việc vân chuyển: theo quy định vận chuyển sữa thì chỉ được
tối đa 8 thùng chồng lên nhau, nhưng nhiều đại lý phân phối sữa Vinamilk nhỏ lẻ lại
chất đến 15 thùng, và không cẩn thận trong việc vận chuyển, điều này ảnh hưởng
nhiều đến sản phẩm.
Hạn chế trong bảo quản: do sản phẩm của công ty có mặt ở khắp nơi, đối với
một số sản phẩm sữa tươi phải đảm bảo bảo quản dưới 6
o
C thì bảo quản được 45
ngày, còn 15 độ C thì được 20 ngày. Ở nhiệt độ thường thì để 2 hoặc 3 ngày sữa sẽ
chua mà các cửa hàng không có máy lạnh hoặc thiết bị làm lạnh là điều rất hạn chế
trong việc bảo quản những sản phẩm có yếu cầu phai bảo quản lạnh.
2.2.4. Bộ phận logistisc
Hiện nay, Công ty vẫn tự làm logistics vậy nên trong cấu thành giá sản phẩm
của Vinamilk, logistics chiếm khoảng 15%. Nếu muốn giảm chi phí này xuống
13%, hay thấp hơn nữa, Vinamilk phải cần đến những doanh nghiệp chuyên về
logistics.
2.2.5. Việc nghiên cứu thị trường
Công ty có một đội ngũ tiếp thị và bán hàng có kinh nghiệm về phân tích và
xác định thị hiếu và xu hướng tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ các nhân viên bán hàng
trực tiếp, những người hiểu rõ thị hiếu người tiêu dùng thông qua việc tiếp cận
thường xuyên với khách hàng tại nhiều điểm bán hàng. Chẳng hạn, sự am hiểu về
thị hiếu của trẻ em từ 6 đến 12 tuối đã giúp công ty đưa ra thành công chiến lược
tiếp thị mang tên Vinamilk Kid vào tháng 5 năm 2007. Kêt quả của chiến lược này
là Vinamilk Kid thành mặt hàng sữa bán chạy nhất trong khúc thị trường trẻ em từ 6
ngay vào bình lọc, bồn trung gian, sau đó được đưa vào bồn lạnh ở nhiệt 40C để
bảo quản sữa. Nguồn sữa này sẽ được xe có hệ thống giữ nhiệt chuyển về nhà
máy trong ngày, nhiệt độ sữa không quá 60C. Tại các nhà máy chế biến, sữa tươi
tiệt trùng được xử lý ở nhiệt độ cao (tự 140 – 143oC) trong thời gian 3 – 4 giây,
nên dễ bảo quản, có thể bảo quản ở nhiệt độ bình thường với thời hạn sử dụng
khá dài (từ 6 tháng đến 1 năm), còn sữa tươi thanh trùng được xử lý phức tạp hơn
nhưng ở nhiệt độ thấp hơn 75 độ C, trong khoảng 30 giây, sau đó nhanh chóng
làm lạnh ở 4 độ C. Để đảm bảo chất lượng cho sũa nguyên liệu, các nhà máy sản
xuất được bố trí trải đều khắp cả nước, bên cạnh các trang trại chăn nuôi, có điều
kiện giao thông thuận lợi.
Sữa thành phẩm cũng nhanh chóng được chuyển từ các nhà sản xuất đến
các đại lý bán buôn và bán lẻ trên cả nước, từ đó chuyển đến tay người tiêu dùng.
+ Phân tán rủi ro: Để đảm bảo luôn có đủ sữa tươi nguyên liệu cho các nhà
máy hoạt động, Vinamilk đã tiến hành xây dựng nhiều trang trại nuôi bò và các
trang trại ngày càng được mở rộng về quy mô cũng như hiện đại về công nghệ.
Việc này giúp Vinamilk tránh được tình trạng khan hiếm nguyên liệu khi có sự cố
bất ngờ xảy ra, giảm rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Việc phân tán rủi ro cũng được Vinamilk áp dụng đối với nguồn sũa bột
nguên liệu khi công ty đã sử dụng chiến lược nhiều nhà cung cấp (Fonterra và
Hoogwegt International) thay vì chỉ chọn một nhà cung cấp duy nhất.
+ Kết chặt thành viên trong chuỗi: Chuỗi cung ứng của Vinamilk là một
chuỗi thống nhất và gắn kết. Các thành viên trong chuỗi phụ thuộc vào nhau, dựa
vào nhau để phát triển.
+ Đảm bảo song hành giữa dòng thông tin và dòng sản phẩm: Dòng thông
tin và dòng sản phẩm tuy hai mà môt. Hai dòng này tồn tại dựa vào nhau và hỗ trợ
cho nhau. Các sản phẩm ra đời được thông tin cho các đơn vị có liên quan và cho
người tiêu dùng.
Các thông tin từ phía thị trường và trong nội bộ doanh nghiệp sẽ định
hướng cho quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm.
Hầu hết các doanh nghiệp đều hiểu được tầm quan trọng của thông tin
ty hàng đầu mà trở thành một bộ phận chiến lược của công ty. Trong trường hợp
của Vinamilk, công ty đã xác định, xây dựng và phát triển chuỗi cung ứng của
mình thành một lợi thế cạnh tranh. Với việc đầu tư vào xây dựng chuỗi cung ứng
thành một lợi thế, Vinamilk mong muốn giảm được thời gian từ lúc nhận đơn đặt
hàng cho đến khi giao sản phẩm cuối cùng đến nhà bán lẻ. Hơn thế nữa, việc đầu
tư này sẽ giúp chuỗi cung ứng trở nên gọn nhẹ (lean supply chain) và có thể đáp
ứng nhanh nhu cầu của khách hàng.
Thứ hai: Đầu tư và xây dựng hệ thống thông tin mới để hỗ trợ cho chuỗi
cung ứng
Vinamilk mạnh dạn đầu tư tái cấu trúc lại hệ thống thông tin vốn là
“xương sườn” của chuỗi cung ứng. Đầu tư xây dựng hệ thống thông tin làm cho
việc sản xuất và phân phối nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đảm bảo cho thông tin đến
nhanh nhất, đúng nhất, rõ ràng nhất, dễ hiểu nhất, phục vụ đắc lực cho quá trình
sản xuất, kinh doanh.
Thứ 3: Nâng cao sự cộng tác với các đối tác trong chuỗi cung ứng
Thật sự khó khăn để quản lý hơn hàng trăm nhà sản xuất cung cấp sản
phẩm tại Châu Á và hơn 19 000 nhà bán lẻ phân phối sản phẩm trên toàn cầu. Để
nối liền giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ, Vinamilk đã xác định sự cộng tác là một
trong những yếu tố quan trọng cho sự thành công của chuỗi cung ứng. Điều này
được thể hiện rõ trong quy trình lựa chọn nhà cung cấp.
Thứ tư: Xây dựng chương trình “liên tục kinh doanh” nhằm quản lý rủi ro
từ hoạt động “thuê ngoài”
Theo các chuyên gia, hoạt động thuê ngoài có thể tiết kiệm chi phí, tuy
nhiên những rủi ro đi kèm cần phải được quản trị tốt. Rõ ràng nhất là việc mất đi
một nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng có thể đem đến những ảnh hưởng không
tốt đối với những nhà sản xuất hay là khách hàng, vốn là những mắt xích trong
chuỗi.
Thứ 5 : Thực hiện tốt quản lý, bảo quản sản phẩm nhằm nâng cao hình
ảnh thương hiệu và trách nhiệm xã hội
2.5. Đánh giá