Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ QUẢN TRỊ
CHUỖI CUNG ỨNG
1. Khái quát chung về chuỗi cung ứng.
Ngày nay, để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các
doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào
công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó. Bởi lẽ, khi doanh
nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng họ buộc phải quan tâm
sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; cách thức thiết kế, đóng gói sản
phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn
thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng vì
thực tế là có nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng như
thế nào trọng việc tạo ra sản phẩm cuối cùng cho khách hàng. Cạnh tranh có tính toàn
cầu ngày càng khốc liệt, chu kỳ sống của sản phẩm mới ngày càng ngắn hơn, mức độ
kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn đã thúc ép các doanh nghiệp phải đầu tư
và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó. Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và
đổi mới trong công nghệ truyền thông và vận tải (ví dụ, truyền thông di động, Internet
và phân phối hàng qua đêm), đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung
ứng và những kỹ thuật để quản lý nó.
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từ một
hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận, chi tiết hoặc thậm chí sản phẩm sau đó được
sản xuất ở một hay một số nhà máy, và được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai
đoạn trung gian, cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Vì vậy, để giảm thiểu chi
phí và cải thiện mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét
đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng, cũng
được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất,
nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu,
2.2
Quy trình quản trị chuỗi cung ứng.
2.2.1 Lập kế hoạch.
Hoạt động này bao gồm lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động cho ba yếu tố liên
quan là tìm nguồn cung ứng, sản xuất và phân phối. Ba yếu tố trong lập kế hoạch gồm:
- Dự báo nhu cầu.
- Giá sản phẩm.
- Quản lý tồn kho.
2.2.2 Tìm nguồn cung ứng.
Trong yếu tố này bao gồm những hoạt động cần thiết để có được các yếu tố đầu
vào nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ. Hai hoạt động chính cần quan tâm là hoạt
động cung ứng và hoạt động tín dụng va khoản phải thu. Hoạt động cung ứng bao gồm
những hành động để mua nguyên vật liệu hay các dịch vụ cần thiết. Hoạt động tín
dụng và khoản phải thu là các hoạt động thu các nguồn tiền mặt. Cả hai hoạt động này
đều có tác động rất lớn đến hiệu quả của chuỗi cung ứng.
2.2.3 Sản xuất
Nhóm: No limit
Trang 2
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
Là nói đến năng lực của chuỗi cung ứng để sản xuất và tồn trữ sản phẩm. Hoạt
động này bao gồm việc lập kế hoạch sản xuất chính theo công suất nhà máy, cân đối
công việc, quản lý chất lượng và bảo trì thiết bị.
Trang 3
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
Về bản chất, quản trị chuỗi cung ứng là việc quy về một mối và thống nhất
quản lý và cộng tác giữa các bộ phận. Trước đây, để bán một sản phẩm phải trải qua
rất nhiều phòng ban, từ mua hàng, đến bộ phận sản xuất, đến logistics và dịch vụ
khách hàng... Công việc ấy vẫn đang diễn ra ở tất cả các công ty, tuy nhiên người ta
nhận ra rằng việc không phối hợp giữa phòng ban sẽ làm chuỗi cung ứng trở nên phức
tạp. Điều đặc biệt, công việc tối ưu khi đó sẽ trở thành tối ưu cục bộ, dẫn đến lãng phí
trong tổng thể doanh nghiệp. Nó chẳng khác gì làm cầu mà không có đường thông xe,
chẳng khác gì mua nguyên vật liệu giá rẽ chất đống ở đấy để rồi sản xuất thì cầm
chừng.
Quan trọng hơn, bấy lâu nay, logistics và chuỗi cung ứng là những vùng đất mà
rất ít doanh nghiệp Việt Nam đụng đến. Hoặc có “đụng” thì chỉ là những lướt nhẹ hơn
là một cuộc đào xới, và tìm kiếm thực sự. Điều này cũng dễ giải thích bởi hai nguyên
nhân chính mà nhiều chuyên gia cho rằng đó là “chuyện thường ngày ở huyện”. Thứ
nhất, các nhà điều hành (CEO, tổng giám đốc,.. ) nghĩ rằng cần tập trung hơn cho
marketing, cho bán hàng, cho khai phá thị trường. Đặc biệt là trong bối cảnh doanh
nghiệp đang yếu toàn diện từ marketing, đến bán hàng, đến phát triển thị trường, kênh
phân phối... Chưa nói đén dòng xoáy cạnh tranh không ngừng nghĩ với đối thủ, những
kẻ quấy rối quan trọng nhất. Và doanh nghiệp vô tình quên mất một vũ khí cạnh tranh
thầm lặng- chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng thực sự có thể giúp nhiều hơn ta tưởng
trong cuộc chiến tranh đó. Nguyên nhân thứ hai là thiếu thông tin, thiếu sự minh bạch
trong toàn chuỗi cung ứng. Khi hỏi một nhà quản lý cấp cao của doanh nghiệp về mức
độ hiệu quả của chuỗi cung ứng mà họ đang vận hành, thường thì câu trả lời là “Tốt ,
tôi chẳng thấy có vấn dề gì cả”. Nhưng khi hỏi thêm “Tốt ở mức độ nào? Cơ sở nào
Trung, với các sản phẩm chủ lực là đường và sản phẩm thực phẩm, đồ uống.
Vinasoy là một trong 13 đơn vị thành viên trực thuộc Công ty CP Đường
Quảng Ngãi, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng sữa đậu nành.
Nhà máy có chế độ hạch toán kế toán độc lập và có tư cách pháp nhân. Vinasoy vừa đi
qua hành trình 15 năm hình thành và phát triển. Bằng chiến lược tập trung vào tiềm
năng của những hạt đậu nành, Vinasoy vững bước đi lên với những thành quả ấn
tượng. Trong 10 năm trở lại đây, sản lượng tiêu thụ tăng trưởng bình quân hơn
40%/năm. Những kết quả đó đã chứng minh sức mạnh tập trung vào tiềm năng của hạt
đậu nành đã mang đến cho Vinasoy sự phát triển mạnh mẽ và bền vững.
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Nhà Máy Sữa Đậu Nành
Việt Nam Vinasoy.
Tiền thân của Nhà Máy Sữa Đậu Nành Việt Nam Vinasoy là phân xưởng sữa
được thành lập vào năm 1997, trực thuộc công ty Cổ Phần đường Quảng Ngãi với tên
gọi là Trường Xuân − ấp ủ hoài bão của những người sáng lập về một mùa xuân
trường tồn. Với tổng số vốn đầu tư ban đầu 60 tỷ đồng, nhà máy được trang bị một dây
chuyền thiết bị hiện đại của tập đoàn Tetra Pak- Thụy Điển với công suất 10 triệu
Nhóm: No limit
Trang 5
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
lít/năm , với 100 công nhân. Mặt hàng chủ lực của công ty lúc bấy giờ là sữa tiệt trùng,
sữa chua và kem, riêng sữa đậu nành Fami chỉ là một sản phẩm nhỏ trong đa dạng sản
phẩm.
Đến tháng 3/1999 Nhà máy sữa Trường Xuân sáp nhập vào Nhà máy nước
khoáng thiên nhiên Thạch Bích theo quyết định số 448/ĐQN-TCLĐ/QĐ
Trang 6
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
giàu dinh dưỡng phục vụ người tiêu dùng. Việc ra đời Trung tâm VSAC theo mô hình
quốc tế đã đánh dấu bước đi chiến lược của Vinasoy, khẳng định vị thế, trách nhiệm
của doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực đậu nành.
Ngày 25/8/2015, Công ty Sữa đậu nành Việt Nam Vinasoy chính thức khánh
thành giai đoạn 2 nhà máy Sữa đậu nành Vinasoy Bắc Ninh với tổng công suất thiết kế
là 180 triệu lít sữa/ năm, tổng số vốn đầu tư cho 2 giai đoạn là hơn 1.280 tỉ đồng. Với
2 nhà máy ở Quảng Ngãi và Bắc Ninh, Vinasoy quyết tâm nâng khả năng cung ứng
sữa đậu nành lên hơn 1,5 tỉ sản phẩm/năm, vinh dự đứng trong danh sách top 5 công ty
sản xuất sữa đậu nành lớn nhất thế giới. Sự kiện này tiếp tục ghi nhận một thành tựu
mới của Vinasoy trong suốt hành trình 18 năm khai phá tiềm năng quý giá của hạt đậu
nành, với một niềm tin bền bỉ vào một mục tiêu tốt đẹp, góp phần thúc đẩy xu hướng
dinh dưỡng lành trong cuộc sống hiện đại của người tiêu dùng Việt Nam. Vị thế của
Vinasoy sẽ tiếp tục được nâng cao khi nhà máy thứ 3 tại KCN VSIP 2A Bình Dương
bắt đầu khởi công xây dựng vào cuối năm 2015.
1.2
Hoạt động kinh doanh của công ty Vinasoy
1.2.1 Các dòng sản phẩm.
Đậu nành là nguồn cung cấp protein hoàn hảo nhất với đầy đủ các axit amin cần
thiết, nhiều omega 3 và omega 6 nhưng không chứa cholesterol và rất ít chất béo no.
Nắm bắt những đặc điểm này, nhà máy đã và đang nghiên cứu sản xuất các sản phẩm
trong quá trình kinh doanh của Doanh nghiệp.
Tổng sản lượng VinaSoy đạt được trong năm 2013 là 134 triệu lít, đến năm 2014 đạt
gần 193 triệu lít – tăng gần 60 triệu lít. Năm 2015 dự kiến tổng sản lượng sẽ tăng lên
khoảng 230 đến 240 triệu lít. Do đó trong 2015 Vinasoy đã đầu tư nâng công suất Nhà
máy sữa đậu nành ở Tiên Sơn - Bắc Ninh từ 90 triệu lít lên 180 triệu lít/năm, nhằm đáp
ứng nhu cầu của thị trường.
1.2.4 Doanh thu.
Năm 2014, doanh thu thuần của VinaSoy trên 3.142 tỷ đồng (tăng gần 49% so
với năm 2013); nộp thuế 201 tỷ đồng (tăng 42%), lương bình quân chung trên 10 triệu
đồng/ người/tháng. Hiện VinaSoy đang giải quyết việc làm cho khoảng 1.400 lao
động. Nói thêm về tăng trưởng, năm 2014 sản lượng của VinaSoy tăng 44%. Trong
tình hình kinh tế khó khăn và khi ngành hàng tiêu dùng cả nước chỉ tăng ở mức bình
quân là 10%, nên tốc độ tăng trưởng của VinaSoy được xem là một hiện tượng đặc
biệt của cả nước. Đây cũng là điều kiện để VinaSoy đầu tư nâng công suất, tăng sản
lượng trong thời gian tới.
Trong sản xuất kinh doanh, chúng tôi luôn theo dõi tình hình thị trường để bắt
kịp và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, sau Fami nguyên chất, VinaSoy
tiếp tục cho ra sản phẩm Fami Canxi nhằm gia tăng giá trị dinh dưỡng của sản phẩm.
Và vào cuối tháng 10.2014 VinaSoy đưa ra thị trường sản phẩm Fami Kid, đáp ứng thị
hiếu, nhu cầu của khách hàng nhỏ tuổi. Nhờ Fami Canxi và Fami Kid mà sản lượng
của VinaSoy tăng trưởng cao trong năm 2014.
2. Thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm Fami của công ty Vinasoy
2.1
Nguồn cung ứng
Nhóm: No limit
Trang 8
Quản trị chuỗi cung ứng
phẩm nhờ giảm thời gian vận chuyển.
Chính vì vậy, VinaSoy tiến hành mở rộng đầu tư vùng nguyên liệu lớn tại Đăk
Nông và thu mua sản phẩm từ nông dân với giá cao hơn thị trường 3.000-4.000
đồng/kg để luôn mua được nguyên liệu tốt.
Nhóm: No limit
Trang 9
Quản trị chuỗi cung ứng
2.2
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
Sản xuất
Đối với một doanh nghiệp, muốn sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao,
phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng thì bên cạnh những tiêu chuẩn về bộ
máy quản lý, trình độ lao động, còn đòi hỏi phải có một hệ thống trang thiết bị máy
móc tiên tiến và dây chuyền công nghệ hiện đại thì mới có thể sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng tốt, giá thành hạ.
Xuất phát từ nhu cầu hiện nay của thị trường, Nhà máy đã chủ động nghiên cứu
và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Sau nhiều lần đổi mới, ngày nay
với hệ thống máy tính nối mạng toàn Nhà máy, tất cả mọi công việc điều được thực
hiện trên máy tính. Có thể nói đây là một bước tiến quan trọng trong nhiều bước vận
dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh.
Điều này giúp cho Nhà máy giải quyết được các công việc nhanh chóng hơn, hiệu quả
hơn và sẽ giúp tăng năng xuất lao động.
Dây chuyền thiết bị của VinaSoy do tập đoàn Tetrapak - Thụy Điển cung cấp.
Đây là hệ thống dây chuyền khép kín tự động sản xuất sữa đậu nành hiện đại, đồng bộ
g
Làm lạnh
Thùng trữ
Đồng hóa
Nhóm: No limit
Bao bì giấy
Tiệt trùng
Kho
chứa
Làm mát
Đóng thùng
Thùng chứa vô trùng
Co lốc
Chiết rót vô trùng
Dán ống hút
Trang 10
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
Dịch sữa đậu nành được đưa qua một van phun hơi kiểu Injector làm nhiệt độ
dịch tăng tức thời và được giữ trong ống giữ nhiệt để khử hoạt tính của Enzime
Tripson, Lyposydaza,...
- Sau đó, được đưa vào thùng chân không để tách mùi, dịch sữa sau đó được làm
lạnh và chuyển đến thùng chứa, loại bỏ quá trình hydrat hoá sẽ làm cho các hương
không hấp dẫn dễ dàng thoát ra, kết thúc phân đoạn sơ chế.
- Hoà trộn :
Gồm hai thùng hoà trộn dung tích mỗi thùng 5.000 lít. Máy trộn, các bộ lọc và
bơm vận chuyển sữa, đường, chất phụ gia,... được bổ sung nhằm tạo ra một dịch sữa
như mong muốn trước khi qua hệ thống sử lý nhiệt và bao gói.
- Hệ thống làm lạnh và thùng chứa :
Hỗn hợp dịch sữa sau khi hoà trộn được lọc và bơm đi làm lạnh qua bộ trao đổi
nhiệt dạng tấm và nhiệt độ dòng sữa lúc này là khoảng 25 0C. Hỗn hợp sữa lạnh được
chứa tại thùng đệm thể tích 4.000 lít trước khi tuyệt trùng.
- Đồng hóa :
Hỗn hợp sữa tại thùng đệm chứa được bơm đi gia nhiệt và đồng hóa nhằm làm
tăng sự đồng nhất dịch sữa nâng cao chất lượng sản phẩm cuối.
- Tiệt trùng :
Hỗn hợp sữa sau đồng hóa, được đưa vào hệ thống tiệt trùng tự động để tiêu
diệt hoàn toàn vi sinh vật gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng, sau đó được làm
nguội trước khi vào thùng chứa vô trùng.
- Chứa vô trùng :
Sữa sau tiệt trùng được chứa tại thùng chứa vô trùng trước khi bơm qua máy
chiết. Tại thùng chứa vô trùng, khí vô trùng được đưa vào trên đỉnh thùng để duy trì áp
suất rót.
- Chiết rót vô trùng :
Máy chiết rót sẽ thực hiện đóng gói sữa một cách tự động vào hộp giấy và bịch
Kênh phân phối trực tiếp
Người tiêu dùng
Công ty
Kênh phân phối trực tiếp
Hiện nay, kênh phân phối trực tiếp của Công ty gồm có nhân viên kinh doanh
của Công ty, thực hiện việc giải quyết đơn đặt hàng qua điện thoại, bán trực tiếp cho
người tiêu dùng như: cấp phát sữa cho các cơ quan có chế độ làm việc độc hại (nhà
máy mì, trường học, nhà máy lọc dầu Dung Quất,…); và trong nội bộ Công ty Đường
Quảng Ngãi hay bán từ cửa hàng giới thiệu sản phẩm được đặt trước cổng Công ty.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm qua kênh trực tiếp chỉ chiếm khoảng hơn 9% trong tổng
doanh thu của công ty.
Kênh phân phối gián tiếp:
Là doanh nghiệp dẫn đầu tại Việt Nam về sản xuất sữa đậu nành, Công ty Sữa
Đậu Nành Việt Nam Vinasoy đang chiếm giữ 82,7 % thị phần sản lượng toàn quốc.
Hiện tại, công ty có 156 NPP trên hệ thống phân phối sản phẩm Vinasoy và có trên
Nhóm: No limit
Trang 13
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
142.000 điểm bán hàng trên hệ thống cả nước. Kênh bán hàng chủ yếu là thông qua
các hệ thống điểm bán lẻ, tạp hóa và siêu thị trên toàn quốc.
Horeca
Mô hình đại lý
Theo mô hình trên, Công ty sẽ tìm kiếm, lựa chọn các đại lý và tiến hành ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo đó, các đại lý sẽ mua hàng trực tiếp từ Công ty với
mức giá do Công ty đưa ra. Sau đó, các đại lý tự nâng giá để bán cho các trung gian
phân phối. Và cuối cùng, người tiêu dùng sẽ mua hàng với mức giá trần hoặc có thể là
giá thả nổi tùy thuộc vào khu vực thị trường
b. Hình thức tổ chức kênh phân phối hiện tại
Mối quan hệ giữa công ty với các thành viên trong kênh phân phối thực chất là
mối quan hệ bên ngoài tổ chức và được thiết lập bởi các hợp đồng đại lý. Công ty đã
phát triển và mở rộng sự liên kết với những nhà phân phối bằng những hợp đồng,
nhưng do phần lớn nhà phân phối này đều phân phối sản phẩm của nhiều nhà sản xuất
Nhóm: No limit
Trang 14
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
khác, và sản phẩm của nhà sản xuất nào đem lại nhiều lợi nhuận thì họ sẽ đầu tư nhiều
nguồn lực hơn để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm đó.
- Điều kiện tuyển chọn: Phải thỏa mãn các điều kiện bắt buộc của Nhà nước và
đáp ứng được yêu cầu về phương diện kinh doanh.
- Các tiêu chuẩn lựa chọn: VinaSoy đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn thành viên kênh
trong đó có các tiêu chuẩn quan trọng như: Hiện tại đang là nhà phân phối của ít nhất 1
công ty trong nghành hàng sữa, nhà phân phối có kinh nghiệm trên thị trường, có tiềm
lực tài chính tốt đáp ứng tối thiểu 2 tuần tồn kho, có tinh thần hợp tác tốt, khả năng
Quản trị chuỗi cung ứng
-
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
Mua hàng (PO)
Quản trị kho và hoạch định nhu cầu dự trữ tối ưu (IN-MRP)
Quản trị sản xuất (MA)
Kiểm soát chất lượng (QC)
Bảo trì và xử lý sự cố thiết bị (MR)
Điều phối bán hàng (OP)
Kế toán tài chính và kế toán quản trị (FA)
Quản trị hệ thống phân phối (DM)
Quản trị nguồn nhân lực (HR)
Quản trị văn phòng (EO)
Hệ thống ERP đem lại cho VinaSoy những lợi ích như:
-
Cung cấp cái nhìn toàn cảnh tại bất kỳ thời điểm nào.
Thay đổi thói quen, tư duy làm việc, kỹ năng quản lý.
Tiết kiệm chi phí SXKD.
Chủ động hoạch định chiến lược.
Mang lại lợi thế cạnh tranh.
Hệ thống quản lý mối quan hệ khách hàng CRM ( Customer Relationship
Management)
Vinasoy chủ yếu giao dịch với khách hàng trung gian. Vì vậy, với hệ thống phân
phối bao gồm 200 nhà phân phối và hơn 128.000 điểm bán rộng khắp trên cả nước,
Hệ thống quản lý thông tin khách hàng của Vinasoy
Phòng kế hoạch kinh doanh
Nguồn dữ liệu về khách hàng chủ yếu được nhập từ phần mềm DMS, hợp đồng
mua, hợp đồng đại lý, các chứng từ hóa đơn, biên bản giao nhận hàng, nhân viên thị
trường, phiếu thăm dò khách hàng, thu thập thông tin trực tiếp và qua các hội nghị
khách hàng.
Phần mềm quản lý khách hàng được chia thành 3 phân hệ:
- Kho hàng
- Thành phẩm
- Công nợ.
Mỗi phân hệ là một chức năng riêng và được quản lý bởi một người có quyền và
trách nhiệm trong lĩnh vực được phân công.
Hệ thống websile của công ty
Để thương hiệu VinaSoy vượt ra khỏi phạm vi tỉnh thì phải kể đến sự góp công
của website chính cùng địa chỉ vệ tinh được cài đặt sẵn. "Đây chính là những chiếc cầu
nối Vinasoy đến với mọi người", anh Lê Hữu Phước, nhân viên phòng CNTT khẳng
định. Bởi theo anh Phước, website của VinaSoy không chỉ cung cấp mọi thông tin liên
quan đến DN, tính năng sản phẩm thương mại mà nó còn là công cụ hỗ trợ cho nhà
phân phối sản phẩm, nhân viên quản lý bán hàng và bộ phận điều phối Logistics của
VinaSoy thường xuyên tương tác với nhau. Nhờ vậy, VinaSoy không còn bị động
trong việc tiếp cận và xử lý thông tin cũng như hoạch định thị trường. Ngoài ra,
website cũng là địa chỉ để khách hàng chia sẻ thông tin, đóng góp ý kiến trực tuyến với
nhà sản xuất. Điều này giúp VinaSoy chủ động điều chỉnh và hoàn thiện quy cách
phân phối, bán hàng theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.
Quả thật, chỉ cần vào website thì khách hàng đã có trong tay đầy đủ những thông
tin cần thiết như: Mẫu mã, chi phí các loại sản phẩm mới; ngành nghề hoạt động, năng
lực sản xuất của DN mà không cần phải mất thời gian đến tận nơi tìm hiểu. Điều này
vừa giúp khách hàng dễ dàng lựa chọn DN phù hợp để hợp tác, vừa giúp lãnh đạo DN
nắm bắt và chỉ đạo kịp thời các hoạt động sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, khách hàng
và DN có thể giao dịch trong mọi hoàn cảnh. Vừa tiết kiệm chi phí, thời gian vừa thể
-
Đổi mới công nghệ
Dây chuyền thiết bị của Vinasoy được cấp bởi tập đoàn Tetrapark của Thụy Điển
và sử dụng Công nghệ Tetra-Alwinsoy
2.6
- Quản lý nguồn lực doanh nghiệp;
- Mở rộng quy mô nhà máy;
- Đưa ra sản phẩm mới;
- Marketing tập trung vào khuyến mại và game show;
- Hợp tác với Brand maker – Công ty sáng tạo thương hiêu.
Nghiên cứu thị trường
Công ty có đội ngũ tiếp thị và bán hàng có kinh nghiệm về phân tích và xác định
thị hiếu và xu hướng tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ các nhân viên bán hàng trực tiếp,
những người hiểu rõ thị hiếu của người tiêu dùng thông qua việc tiếp cận thường
xuyên với khách hàng tại nhiều điểm bán hàng và qua thông tin thực tế của Bác sĩ
CKII Đỗ Thị Ngọc Diệp – giám đốc trung tâm dinh dưỡng TP.HCM, hiện nay, vấn đề
dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam đang gặp tình trạng phát triển không cân đối: trẻ em
Nhóm: No limit
Trang 18
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
Trang 19
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
- Công ty có đội ngũ nghiên cứu và phát triển, các nhân sự làm công tác nghiên
cứu thị trường để xác định xu hướng và thị hiếu tiêu dùng để tham mưu đưa ra những
quyết định đúng nhất.
CHƯƠNG 3:
ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ
CHUỖI CUNG ỨNG CỦA CÔNG TY VINASOY
1. Thành công và hạn chế trong chuỗi cung ứng sản phẩm Fami của công ty
Vinasoy
1.1 Thành công
- Từng bước cải thiện hoạt động thu mua nguyên liệu và cải thiện mối quan hệ
giữa nhà cung cấp nguyên liệu đậu nành và công ty. Biểu hiện ở các hoạt động của
công ty như: từng bước điều chỉnh đầu tư, nâng cấp và đến nay hệ thống thiết bị, quy
trình sản xuất sữa Vinasoy là một trong những hệ thống tiên tiến của nhà máy đường
Quảng Ngãi.
Nhóm: No limit
Trang 20
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
có năng lợi nhuận cao hơn, làm cho sản lượng đậu nành trong nước giảm, trong khi đó
nhu cầu thì tăng cao, để có đủ nguyên vật liệu sản xuất Vinasoy đã mua đậu nành của
nông dân cao hơn 3.000 – 4.000 đ/kg so với giá thị trường và cùng với chi phí về vận
chuyển tăng làm cho chi phí giá thành sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp tăng cao
Nhóm: No limit
Trang 21
Quản trị chuỗi cung ứng
GV: Nguyễn Thị Lệ Huyền
nên gía bán đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp có phần cao hơn so với những sản
phẩm sữa đậu nành khác
- Những hạt đậu nành được trồng ở Tây Nguyên thì thơm ngon hơn nhưng tốn chi
phí vận chuyển, sản lượng đậu nành không cao khó đáp ứng nhu cầu của công ty khi
tăng sản lượng sản xuất trong những năm tới.
- Mạng lưới cung ứng còn nhiều nấc trung gian, do đó làm tăng chi phí giao dịch,
tăng giá bán.
- Thị trường rộng nên chưa bao quát hết.
- Công ty chưa tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa cửa hàng và các siêu thị.
- Đậu nành tự chế biến bán ngoài thị trường là một thách thức lớn cho Công ty.
2. Một số bài học kinh nghiệm từ hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của công ty
Vinasoy.
- Luôn xác định chuỗi cung ứng là một trong những lợi thế cạnh tranh của Doanh
nghiệp.
Yếu tố cơ bản của các Công ty ngày nay là sở hữu được một chuỗi cung ứng trội
hơn hẵn đối thủ. Nói cánh khác quản trị chuỗi cung ứng không còn là một chức năng
nhiệm, vừa là chiến lược của Vinasoy và Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng đậu nành
nhằm hợp tác bền vững cùng người nông dân, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp đậu
nành Việt Nam. Sự lớn mạnh của vùng nguyên liệu Tây Nguyên sẽ tạo điều kiện cho
Vinasoy có nguồn đậu nành trong nước dồi dào, tươi mới, để đa dạng hóa sản phẩm,
đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người tiêu dùng”.
- Đầu tư xậy dựng hệ thống thông tin để hỗ trợ cho chuỗi cung ứng
Với việc mạnh dạng đầu tư vào hệ thống thống thông tin, đặc biệt là hệ thống hoạch
định nguồn nhân lực doanh nghiệp ERP (Enterprise Resources Planning) giúp cho
Vinasoy có thể nâng cao được công tác quản lý và lợi thế canh tranh của mình. Hệ
thống thông tin có thể cung cấp cái nhìn toàn cảnh tại bất kỳ thời điểm nào, thay đổi
thói quen, tư duy làm việc, kỹ năng quản lý, tiết kiệm chi phí SXKD Chủ động hoạch
định chiến lược, mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
KẾT LUẬN
Qua thời gian nghiên cứu về Nhà Máy Sữa Đậu Nành Việt Nam Vinasoy, chúng
tôi nhận thấy được công tác quản lý chuỗi cung ứng là đều cần thiết khách quan của
mọi nền sản xuất xã hội. Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả đảm bảo quá trình sản xuất
của doanh nghiệp diễn ra nhịp nhàng, đem sản phẩm đến người tiêu dùng một cách
nhanh nhất, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp ổn định
phát triển. Và với Vinasoy thì công tác quản lý chuỗi cung ứng rất được chú trọng,
công ty đã tổ chức công tác quản lý chuỗi cung ứng khá tốt sử dụng nguyên vật liệu
hợp lý - tiết kiệm - hiệu quả. Với sự nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo Nhà máy và
tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn Nhà máy, việc đảm bảo quản lý chuỗi cung
ứng tại xí nghiệp ngày còn được tăng cường và hoàn thiện, góp phần nâng cao kết quả
Nhóm: No limit
Trang 23
MỤC LỤC
Nhóm: No limit
Trang 25