ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn lo âu là một trạng thái cảm xúc có từ thời xa xưa và đã được
các nhà khoa học La Mã thời cổ đại mô tả . Tại Mỹ rối loạn này khá phổ biến
gặp 24,9% trong cuộc đời . Rối loạn lo âu lan tỏa là thể bệnh hay gặp nhất
khoảng từ 5 – 8% dân số , chiếm 50 % trong số các rối loạn lo âu điều trị nội
trú .
Trên lâm sàng triệu chứng cơ bản là lo âu không có chủ đề rõ ràng,
không khu trú vào một hoàn cảnh sự kiện xung quanh nào. Bệnh nhân lo sợ
bản thân hoặc người ruột thịt sẽ sớm mắc một bệnh, hoặc tai nạn, hoặc lo lắng
về một tương lai bất hạnh, nghèo khổ, cô đơn. Lo âu thường kéo dài nhiều
ngày, nhiều tuần, nhiều tháng khiến bệnh nhân mất ăn mất ngủ và biểu hiện
trên cơ thể là sự hưng phấn quá mức của hệ thần kinh tự trị được biểu hiện
trên các cơ quan tim mạch, tiêu hóa, hô hấp .
Hệ thần kinh tự trị điều khiển các hoạt động ngoài ý muốn, có vai trò
điều hòa huyết áp động mạch, co bóp và bài tiết của ống tiêu hóa, co cơ bàng
quang, tiết mồ hôi và nhiều hoạt động khác để cơ thể giữ được sự ổn định
trong môi trường sống luôn luôn thay đổi. Khi xuất hiện các yếu tố nguy cơ
như lo lắng, bất an, cơ thể phản ứng lại các yếu tố đó như nhịp tim có thể tăng
gấp 2 lần sau 3 – 5 giây.
Biểu hiện của rối loạn lo âu lan tỏa đa dạng bởi các triệu chứng cơ thể,
triệu chứng rối loạn thần kinh tự trị nên ít được chẩn đoán sớm và điều trị
đúng. Rối loạn này thường dễ bị nhầm lẫn, tỉ lệ được chẩn đoán đúng là 28% .
Tỉ lệ bệnh nhân đến các chuyên khoa khác : 64% bệnh nhân khám thần kinh,
43,3% ở tim mạch trước khi được chẩn đoán đúng và điều trị tại khoa tâm thần.
Đi khám tại các khoa khác như tiêu hóa, hô hấp, đông y cũng chiếm tỷ lệ từ
15,6% đến 18,9% .
1
Rối loạn lo âu lan tỏa không những ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc
của người bệnh mà còn tăng chi phí chăm sóc điều trị bệnh nhân. Tại Mỹ
(1999) tổng chi phí cho 1 bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa trong 1 năm là 2138
USD còn Australia (1997) tiêu tốn 205,1 triệu AUS cho tất cả bệnh nhân .
cảnh môi trường đặc biệt nào (nghĩa là lo âu tự do – lơ lửng). Như trong các
rối loạn lo âu khác, các triệu chứng ưu thế rất thay đổi, nhưng phổ biến là
bệnh nhân phàn nàn luôn cảm thấy lo lắng, run rẩy, căng thẳng cơ bắp, ra mồ
hôi, đầu óc trống rỗng, đánh trống ngực, chóng mặt, khó chịu vùng thượng vị.
Sợ bản thân hoặc người thân sẽ sớm mắc bệnh hoặc bị tai nạn, đồng thời với
các loại lo âu và linh tính điềm gở. Rối loạn này phổ biến ở phụ nữ và thường
liên quan đến stress môi trường mạn tính. Tiến triển của nó có thay đổi nhưng
có xu hướng mạn tính .
3
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu và dịch tễ học rối loạn lo âu lan tỏa
Người La Mã thời kì Cicero’s đã dùng từ anxietas để chỉ sự lo lắng đến
sau nỗi sợ hãi .
Năm 1621, Robert Burton cho rằng có mối liên quan mật thiết giữa cảm
giác lo lắng, sợ hãi với các biểu hiện của cơ thể như mạch nhanh, khó thở, đau
tức ngực, chóng mặt, mệt mỏi .
Vào thế kỉ 19 các nhà khoa học đã nghiên cứu sâu hơn về các triệu
chứng của lo âu, nổi bật là Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng
có mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi
ở hệ thần kinh tự trị .
Năm 1871 trong một bài báo có nhan đề “hội chứng tim bị kích thích”
(on irritable heart) Jacob Dacosta đã mô tả một hội chứng gọi là “soldier’s
heart” (hội chứng tim ở binh sĩ) với các triệu chứng tim mạch mạn tính không
có tổn thương thực thể kèm theo lo lắng, mệt mỏi rất thường gặp trong binh
lính tại cuộc nội chiến ở Mỹ (1861-1865). Về sau từ này được dùng cho binh
lính tham gia chiến tranh thế giới thứ 1, thứ 2 bị hội chứng này cũng như
những người sống sót sau cuộc ném bom nguyên tử ở Nhật Bản .
Năm 1894 khi viết học thuyết phân thần, Freud đã chỉ ra một hội chứng
riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu” (anxiety neurosis) trong chứng suy nhược
thần kinh. Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh được xếp
vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh lý tâm thần, còn tình trạng
nông thôn chiếm 30%, tỉ lệ bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa chiếm 50% bệnh nhân
rối loạn lo âu điều trị nội trú, nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong những bệnh
nhân rối loạn lo âu lan tỏa là nhóm 36-45 tuổi (30%) và 46-55 tuổi (28,9%).
5
Nhóm bệnh nhân dưới 25 tuổi và trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (4,4%; 3,3%).
Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 42,5 ± 11,2 .
Theo Trần Trung Hà (2002) thì tuổi mắc rối loạn lo âu lan tỏa trung
bình là 36 ± 10, lứa tuổi hay gặp 20-30 chiếm 34,2% .
Theo một nghiên cứu tại Mỹ thì tỉ lệ Rối loạn lo âu lan tỏa chiếm
khoảng 5% dân số với tỉ lệ nữ: nam 2: 1. Cũng theo nghiên cứu này thì có tỉ lệ
mắc trong 1 năm là 3,1% .
Tại Mỹ theo một nghiên cứu được áp dụng theo tiêu chuẩn của DSM
IV thì tỉ lệ rối loạn lo âu lan tỏa mắc trong một năm là 3,1%, tỉ lệ mắc gặp
trong cuộc đời là 5,7%. Tỉ lệ thấp nhấp trong các nhóm tuổi là 18-29 (4,1%),
nhóm trên 60 tuổi (3,65%), còn cao nhất là từ 45-59 tuổi chiếm 7,7% .
Tại Australia được áp dụng theo tiêu chuẩn ICD-10 thì tỉ lệ mắc rối
loạn lo âu lan tỏa khoảng 2-8% dân số, tỉ lệ hay gặp nhất từ 20-40 tuổi .
Theo Dan J Stein (2009) cho thấy, rối loạn lo âu lan tỏa thường thấy có
tỷ lệ thấp trên những đối tượng sống ở vùng thành thị, tỷ lệ cao ở lứa tuổi trên
30, cao nhất là từ 30 đến 40 tuổi. Tỉ lệ nữ: nam là 3,6: 1.
Theo Witchen (2002) tỉ lệ rối loạn lo âu lan tỏa gặp khoảng 4% dân số .
Theo Hoffman (2008) thì rối loạn lo âu lan tỏa chiếm 5,7% dân số và là rối
loạn lo âu phổ biến nhất .
Theo nghiên cứu của Heimberg (2004) thì rối loạn lo âu lan tỏa chiếm tỷ
lệ 37% trong các rối loạn lo âu được điều trị nội trú .
1.1.3 Bệnh nguyên - bệnh sinh
Rối loạn lo âu lan tỏa biểu hiện đa dạng, là sự kết hợp giữa các triệu
chứng tâm thần và các triệu chứng cơ thể, vì vậy nguyên nhân và cơ chế sinh
bệnh cũng rất phức tạp, kết hợp giữa các yếu tố di truyền, sinh lý, sinh hóa và
các yếu tố tâm lý xã hội.
Norepinephrine: Norepinephrin là chất dẫn truyền thần kinh có liên
quan đến cơ chế bệnh sinh của các rối loạn lo âu. Norepinephrine gặp chủ yếu
ở vùng cầu não, phóng chiếu qua bó trước giữa tới vỏ não, hệ viền, đồi não,
thân não, tủy sống (những vùng có đáp ứng với stress và tạo ra cảm xúc sợ
hãi, lo âu) , .
Serotonin: Chất dẫn truyền thần kinh serotonin (5-HT) được coi là có
vai trò quan trọng trong rối loạn lo âu lan tỏa. Đường dẫn truyền của hệ
serotonergic bắt nguồn từ nhân raphe đi đến các vùng của vỏ não có vai trò
điều chỉnh cảm xúc lo âu như: hồi hải mã, tuyến hạnh nhân. Tăng hoặc giảm
chức năng hệ serotonergic đều dẫn đến rối loạn lo âu lan tỏa , , .
Hệ thống dưới đồi - tuyến yên – tuyến thượng thận: Trục dưới đồi -
tuyến yên - tuyến thượng thận là một hệ thống thần kinh nội tiết có liên quan
đến quá trình điều chỉnh cảm xúc lo âu. Các thông tin về sự sợ hãi và lo âu lan
truyền từ hệ viền đến vùng dưới đồi làm sản xuất ra corticotropin-releasing
(CRF), CRF kích thích tuyến yên sản xuất ACTH, chất này kích thích tuyến
thượng thận giải phóng cortisol, đây là hormon duy trì sự cân bằng và chuẩn
bị cho sự đối mặt với nguy hiểm, đe dọa. Có sự tăng cao nồng độ cortisol trên
bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa, từ đó gián tiếp làm tăng quá trình vận chuyển
serotonin. , , .
- Các yếu tố tâm lý xã hội
+ Vai trò của sang chấn tâm lý: Các xung đột trong cuộc sống, tình trạng
hôn nhân, tình trạng kinh tế gia đình có vai trò quan trọng trong bệnh sinh rối
loạn lo âu lan tỏa. Stress là một phần của đời sống, một số stress cho con
8
người ta cảm giác dễ chịu, một số khác gây khó chịu hoặc trung tính (không
có phản ứng gì).
+ Chúng ta phản ứng với stress tùy theo nhu cầu hiểu biết về tình huống.
Phản ứng với stress có thể rất khác nhau từ các cảm xúc trung tính đến các
cảm xúc dương tính rất mạnh. Lúc đó cơ thể đáp ứng với các trải nghiệm mới
rất khác nhau. Có các thông tin sẽ làm rối loạn người cảm nhận stress và gây
bay” (flight or fight). Những người nhân cách lo âu khi gặp các tác nhân lo âu
là đáp ứng theo phản xạ có điều kiện với các kích thích đặc hiệu của môi
trường. Các triệu chứng xuất hiện bao gồm tăng nhịp tim, căng cơ, chóng mặt,
buồn nôn, đau tức ngực là do sự kích hoạt hệ thần kinh tự trị. Và họ tập trung
vào bản thân để tìm nguồn gốc tác nhân và cố gắng vượt qua. Những người
này có thể học tập để có một đáp ứng lo âu của nội tâm bằng cách bắt chước
với đáp ứng lo âu của bố mẹ (lí thuyết học tập xã hội) , .
1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán RLLALT theo ICD 10 năm 1992
Theo bảng phân loại bệnh tật lần thứ 10 của tổ chức y tế thế giới (1992)
rối loạn lo âu lan tỏa được chẩn đoán: Về thời gian có tối thiểu 6 tháng với sự
căng thẳng nổi bật, lo lắng, cảm giác lo sợ về các sự kiện hàng ngày và bệnh
nhân kèm theo ít nhất 4 trong 22 triệu chứng. Trong đó phải có ít nhất một
triệu chứng trong các triệu chứng khích thích thần kinh tự trị.
+ Hồi hộp, tim đập mạnh, hoặc nhịp tim nhanh.
+ Vã mồ hôi.
+ Run.
+ Khô miệng (không do thuốc hoặc mất nước) .
10
Để hỗ trợ cho chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa người ta còn sử dụng trắc
nghiệm tâm lý.
+ Test Hamilton
Thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale -
HARS) do bác sĩ Max Hamilton thiết kế năm 1960 và đưa vào áp dụng rộng
rãi. HARS bao gồm 14 nhóm câu hỏi cho các triệu chứng, tương đối đầy đủ
khách quan và chính xác.
Điểm được tính với 5 mức độ từ không có đến rất nặng ứng với mức điểm
0 = không có; 1 = nhẹ; 2 = trung bình; 3 = nặng; 4 = rất nặng. Sau đó tính tổng
cộng: dưới 7 điểm là không có lo âu; từ 8-14 điểm: lo âu mức độ nhẹ; từ 15-19
điểm: lo âu mức độ trung bình; trên 20 điểm: lo âu mức độ nặng .
+ Test Zung
+ Tiết niệu: Đi tiểu nhiều, tiểu dắt, liên tục có nhu cầu vào nhà vệ sinh.
+ Thần kinh – cơ: rung cơ mặt, rung mi mắt liên tục, run cơ tay chân,
đau vùng vai gáy, đau giả thấp khớp.
+ Da và cảm giác giác quan: Nổi da gà, tăng tiết mồ hôi lòng bàn tay bàn
chân. Nghe kém, nhìn mờ, tăng và loạn cảm giác, chóng mặt .
1.2 Vai trò của hệ thần kinh tự trị trong rối loạn lo âu lan tỏa
1.2.1 Khái niệm và lịch sử nghiên cứu
Từ trước đây các nhà nhà khoa học quan niệm cảm xúc được cảm nhận
khác với ý nghĩ thông thường. Ý chí được chi phối bởi bộ não và phù hợp với
các tác động từ môi trường bên ngoài còn cảm xúc được liên kết với các cơ
quan trong cơ thể như trái tim là chỗ ngồi của tình yêu (seat of love). Sang thế
kỉ 18 Bichat (1771-1802) đã chia cuộc sống thành hai hình thức riêng biệt,
một (sống quan hệ) được chi phối bởi bộ não, và hai (thực vật, đời sống) được
chi phối bởi hạch bụng. Đời sống thực vật được xem là sự kết nối niềm đam
và độc lập của giáo dục, chi phối bởi hoạt động độc lập của hạch bụng, một
chuỗi “bộ não nhỏ” (little brains). Còn theo Pinel một nhà tâm thần học nổi
tiếng người Pháp và cũng là thầy của Bichat coi bệnh tâm thần gây ra bởi
chức năng bất thường của các hạch.
12
Người đầu tiên đưa khái niệm hệ thần kinh tự trị (autonomic nervous
system) là Langley (1852-1925), ông coi hệ thần kinh tự trị là một hệ độc lập
với hệ thần kinh trung ương (central nervous system) và năm 1903 chính thức
đưa ra khái niệm này .
Tuy ngày nay tâm lý học hiện đại vẫn dùng từ chức năng thực vật
(vegetative functions) nhưng theo các tài liệu giải phẫu thần kinh, tâm thần thì
autonomic nervous system dùng để chỉ hệ thần kinh tự trị để phân biệt hệ thần
kinh trung ương central nervous systems .
Theo từ điển tiếng Anh Mỹ đã chỉ ra rõ autonomic neurous system là
hệ thần kinh tự trị, còn vegetive là chức năng thực vật .
Tại Việt Nam, trong giải phẫu học trước đây Đỗ Xuân Hợp và các tài
trơn. Trước khi tới cơ quan thu nhận, các sợi này đều dừng ở một sinapse tại
hạch, vì vậy có sợi trước hạch và sợi sau hạch. Khác với những bộ phận do hệ
thần kinh trung ương điều khiển, các cơ quan do hệ thần kinh tự trị chi phối
vẫn có thể hoạt động tự động khi cắt đứt những sợi thần kinh đến chúng. Hệ
thống thần kinh tự trị được chia thành hai hệ giao cảm và phó giao cảm khác
nhau về cả giải phẫu và chức phận sinh lý .
- Phân loại theo giải phẫu
Điểm xuất phát
+ Hệ giao cảm xuất phát từ những tế bào thần kinh ở sừng bên của tuỷ
sống từ đốt sống ngực thứ nhất đến đốt sống thắt lưng thứ 3 (T1- L3).
+ Hệ phó giao cảm xuất phát từ não giữa, hành não và tuỷ cùng. Ở não
giữa và hành não, các sợi phó giao cảm đi cùng với các dây thần kinh trung
14
ương: dây III vào mắt; dây VII vào các tuyến nước bọt; dây IX vào cơ mi, các
tuyến tiết nước mắt, nước bọt, tuyến tiết niêm mạc mũi, miệng, hầu; dây X
vào các tạng trong ngực và ổ bụng. Ở tuỷ cùng, xuất phát từ các đốt sống
cùng thứ 2 đến thứ 4 (S2 - S4) để chi phối các cơ quan trong hố chậu.
Hạch
+ Hệ giao cảm có 3 nhóm hạch: Chuỗi hạch cạnh cột sống nằm hai bên
cột sống. Nhóm hạch trước cột sống, gồm hạch tạng, hạch mạc treo và hạch
hạ vị, đều nằm trong ổ bụng. Nhóm hạch tận cùng gồm những hạch nằm cạnh
trực tràng và bàng quang.
+ Hệ phó giao cảm: các hạch nằm ngay cạnh hoặc ngay trong thành cơ quan.
Sợi thần kinh
+ Hệ giao cảm: một sợi tiền hạch thường tiếp nối với khoảng 20 sợi hậu
hạch cho nên khi kích thích giao cảm, ảnh hưởng thường lan rộng.
+ Hệ phó giao cảm: một sợi tiền hạch thường chỉ tiếp nối với một sợi
hậu hạch, cho nên xung tác thần kinh thường khu trú hơn so với xung tác giao
cảm. Tuy nhiên, đối với dây X thì ở đám rối Auerbach và đám rối Meissner
(được coi là hạch) thì một sợi tiền hạch tiếp nối với khoảng 8000 sợi hậu
Co đồng tử, thụt nhãn cầu,
hẹp khe mi
Tuyến nước bọt Tiết nước bọt đặc, ít Loãng, nhiều
Tim Tăng nhịp tim, tăng huyết áp Giảm nhịp tim, giảm huyết áp
Phế quản Giãn Co
Ruột, dạ dày Giảm nhu động, giảm tiết dịch Tăng nhu động, tăng tiết dịch
Mạch máu Co mạch Giãn mạch
Da Co mạch, tái nhợt Giãn mạch, đỏ
Chất gây hưng phấn Adrenalin, Ephedrin, Canxi Acetylcholin, Eserin, Kali
Chất gây ức chế Chlohydrat, Bromua Atropin, Scopolamin
Sinapse và chất dẫn truyền thần kinh
+ Khi ta kích thích các dây thần kinh (trung ương và tự trị) thì ở đầu mút
của các dây đó sẽ tiết ra những chất hóa học làm trung gian cho sự dẫn truyền
giữa các dây tiền hạch với hậu hạch, hoặc giữa dây thần kinh với các cơ quan
thu nhận. Chất hóa học làm trung gian cho sự dẫn truyền đó gọi là chất dẫn
truyền thần kinh. Hệ thống thần kinh của người có hàng chục tỷ nơron. Sự
thông tin giữa các nơron đó cũng dựa vào các chất dẫn truyền thần kinh. Các
thuốc ảnh hưởng đến chức phận thần kinh thường là thông qua các chất dẫn
truyền thần kinh đó. Chất dẫn truyền thần kinh ở hạch giao cảm, phó giao
cảm và hậu hạch phó giao cảm đều là acetylcholin, còn ở hậu hạch giao cảm
là noradrenalin, adrenalin và dopamin (gọi chung là catecholamin). Các chất
17
dẫn truyền thần kinh tác động đến màng sau sinap làm thay đổi tính thấm của
màng với ion Na +, K+ hoặc Cl -Do đó gây ra hiện tượng biến cực (khử cực
hoặc ưu cực hóa). Ion Ca++ đóng vai trò quan trọng trong sự giải phóng chất
dẫn truyền thần kinh.
Các chất dẫn truyền khác
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng phần lớn
các nơron trung ương và ngoại biên có chứa 2 hoặc nhiều chất dẫn truyền, có
thể được giải phóng ra cùng một lúc ở sinapse khi dây thần kinh bị kích thích.
phân, còn noradrenalin và adrenalin thì bị oxy hóa và khử amin bởi catechol
oxy- methyl- transferase (COMT) ở khe synapse và mono - amin- oxydase
(MAO) ở trong tế bào thần kinh trước synapse. Đặc biệt:
+ Dây giao cảm đi tới tuỷ thượng thận không qua một hạch nào cả. Ở tuỷ
thượng thận, dây này tiết ra acetylcholin để kích thích tuyến tiết ra adrenelin.
+ Các ngọn dây hậu hạch giao cảm chi phối tuyến mồ hôi tiết ra
acetylcholin.
+ Các dây thần kinh vận động đi đến các cơ xương (thuộc hệ thần kinh
trung ương) cũng giải phóng ra acetylcholin.
+ Trong não, các xung tác giữa các nơron cũng hoạt động thông qua
acetylcholin. Ngoài ra còn có những chất trung gian hóa học khác như
serotonin, catecholamin, acid - gama- amino- butyic (GABA) ,, .
1.2.3 Một số rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loạn thần kinh tự trị
Theo Trần Hữu Bình trên bệnh nhân trầm cảm có biểu hiện dạ dày-ruột chức
năng, các biểu hiện nóng rát, co thắt khó chịu thượng vị có tỷ lệ cao 82,5% .
19
Theo Trần Thị Hà An trên bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa thì rối loạn thần
kinh thực vật biểu hiện 37,7% bệnh nhân cả quá trình điều trị và biểu hiện
27,5% bệnh nhân lúc mới vào viện .
Theo La Đức Cương trên bệnh nhân rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm thì
có tới 61,8% bệnh nhân có đồng thời 2 triệu chứng rối loạn thần kinh tự trị, có
58,1% bệnh nhân có triệu chứng hồi hộp đánh trống ngực .
Theo Trần Nguyễn Ngọc khi nghiên cứu đau trên các bệnh nhân rối loạn
liên quan đến stress thì 87,5% bệnh nhân đau có rối loạn thần kinh tự trị .
Lo lâu và trầm cảm có liên quan đến hệ thống thần kinh chức năng tự trị.
Nghiên cứu trên phụ nữ có rối loạn lo âu trầm cảm thấy phụ nữ bị hội chứng
ruột kích thích với những phụ nữ không có triệu chứng của rối loạn hoặc trên
các chỉ số hoạt động của tim, cân bằng hệ thống thần kinh tự trị, và hoạt động
tự trị nói chung. Sử dụng bảng kiểm và chẩn đoán để xác định lo âu trầm cảm
và một màn hình Holter được sử dụng để ghi lại khoảng RR trên 24 giờ. Một
là khi giảm gần như các triệu chứng. Để đạt mục tiêu ngoài thuốc kiểm
soát các triệu chứng, thì liệu pháp tâm lí kết hợp điều trị hoặc sau giai
đoạn cấp để bệnh ổn định phòng ngừa tái phát , .
1.3.2 Liệu pháp hóa dược
- Benzodiazepine
Benzodiazepine (BZD) là thuốc hàng đầu được sử dụng vì có đặc điểm
ức chế đặc biệt trên hệ thống lưới hoạt hóa đồi thị hệ viền và các nơron kết
hợp của tủy sống do đó có tác dụng an dịu, chậm các hoạt động, an thần
giải lo âu, tác dụng gây ngủ khi mất ngủ liên quan đến bồn chồn lo lắng.
+ Cơ chế tác dụng:
21
BZD gắn trên các receptor đặc hiệu với nó trên thần kinh trung ương.
Bình thường khi không có BZD các receptor của BZD bị một protein nội sinh
chiếm giữ làm cho GABA (trung gian hóa học có tác dụng ức chế trên thần
kinh trung ương) không gắn vào được receptor của hệ GABA-ergic làm cho
kênh Cl của nơron khép lại. Khi có mặt BZD, do có ái lực mạnh hơn protein
nội sinh, BZD đẩy protein nội sinh và chiếm lại receptor do đó GABA mới
gắn được vào receptor của nó và làm mở kênh Cl, Cl đi từ ngoài vào trong tế
bào gây hiện tượng ưu cực hóa. BZD tác dụng gián tiếp làm tăng hiệu quả của
GABA, tăng tần số mở kênh Cl.
BZD làm tăng ái lực của receptor GABA với GABA và làm tăng lượng
GABA trong não. Trên hệ adrenergic trung ương BZD làm giảm hoạt lực của
các nơron NA ở liềm đen và làm giảm cả tốc độ tái tạo NA., .
+ Điều trị
Khởi đầu bằng liều thấp rồi tăng dần, nếu kéo dài cần đánh giá tình
trạng hàng tháng, khi ngừng thuốc phải giảm liều theo lộ trình ¼ tổng liều
hàng tuần. Diazepam(Seduxen) 5-10 mg, Clonazepam(Rivotril) 0,75-2 mg,
Lorazepam (Temesta) 1-3 mg , .
- Buspirone
Buspirone (Buspar) là thuốc điều trị rối loạn lo âu thế hệ mới.Thuốc
Các thuốc chống trầm cảm hiện nay được chia thành 3 nhóm lớn:
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng, 4 vòng.
Thuốc chống trầm cảm ức chế tái hấp thu seretonin khe sau sinap.
Các thuốc chống trầm cảm khác: Velafaxin(effexor), mitarzapine
(remeron), Bupropion, Trazodol
23
Đặc điểm chung là các thuốc chống trầm cảm đều có tác dụng ức chế
sự thu hồi serotonin trung ương, do đó làm tăng serotonin tự do ở hạnh nhân
não và hạ khâu não, chống được tâm trạng buồn rầu, thất vọng, muốn tự sát.
Nguyên nhân rối loạn lo âu cũng liên quan tới hấp thu seretonin nên các
thuốc CTC 3 vòng và SSRI ảnh hưởng tới sự hấp thu seretonin do đó tác dụng
giải lo âu có hiệu quả cao. Tuy tác dung giải lo âu không bằng nhóm BZD
nhưng các thuốc CTC nói chung đều có thể dùng phối hợp với BZD để nâng
cao hiệu quả điều trị ban đầu và có thể dùng lâu dài không gây ra trạng thái lệ
thuộc thuốc và hội chứng cai khi ngừng thuốc , .
+ Điều trị:
Về lí thuyết các thuốc chống trầm cảm đều hiệu quả trên các bệnh nhân
trầm cảm nhưng trầm cảm và lo âu là cùng chung một trục bệnh lí và cơ chế
sinh hóa não tương đối giống nhau nên các thuốc chống trầm cảm điều trị lo
âu cho hiệu quả tương đối tốt.
Dùng venlafaxin (Effexor) 75-150 mg tối đa 225 mg có hiệu quả sau 2
tuần, sau 6 tháng 70% triêu chứng lo âu hết.
Điều trị mitarzapine (Remeron) 15-30 mg, imipramin (Tofranin) 75-
200 mg cũng cho hiệu quả cao.
Các thuốc nhóm SSRI: Paroxetine 20-40mg, Fluoxetine 20-60 mg,
Sertraline 50–200 mg ,.
- – Blocker: (Thuốc hủy hệ Adrenalin )
Propranolon (Avlocardyl) được dùng để điều trị cơn lo âu cấp
Propranolol liều 20-40mg dùng điều trị làm giảm các triệu chứng đánh
trống ngực và run tay ở bện nhân rối loạn lo âu lan tỏa .