MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
+ Các loại đa dạng hóa sản phẩm 33
Đa dạng hóa đồng tâm là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới có liên quan.
Sử dụng khi: 33
Đa dạng hóa hàng dọc là bổ sung thêm hoạt động kinh doanh mới không
liên quan đến các hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp 34
+ Điều kiện để đa dạng hoá sản phẩm du lịch: 34
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
APTA Hiệp hội Du lịch châu Mỹ
ASEANTA Hiệp hội Du lịch ASEAN
CNN Mạng Tin tức Truyền hình cáp được thành lập năm 1980 bởi
Ted Turner và là một nhánh của Turner Broadcasting System,
sở hữu bởi Time Warner
CTA Hiệp hội Du lịch vùng Caribe
ĐHKTQD Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
VTV Đài truyền hình Việt Nam
BBC Thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc
Ireland
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc
GDP Tổng sản phẩm nội địa
WTTC Hiệp hội Lữ hành và Du lịch thế giới
PATA Hiệp hội Du lịchChâu Á - Thái Bình Dương
WTO Tổ chức Du lịch thế giới,
JATA Hiệp hội Du lịch Nhật Bản
SARS Hội chứng hô hấp cấp tính nặng.
UNWTO Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc
nghiệp chưa rõ nét, lợi thế của mỗi vùng, mỗi địa phương chưa được khai
thác và phát huy triệt để. Sản phẩm du lịch Việt Nam vì thế chưa thật đa dạng
cả bề rộng lẫn chiều sâu. Các loại hình du lịch mới tuy đã được chú ý nghiên
cứu phát triển, song còn hạn chế; cơ chế chính sách còn thiếu thông thoáng,
còn nhiều khó khăn, vướng mắc về thủ tục. Nhiều khu du lịch, điểm du lịch
khai thác ở dạng tự nhiên, chưa được đầu tư tôn tạo đúng mức. Chương trình
du lịch còn đơn điệu, trùng lắp, chưa đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng
khách, của mỗi thị trường. Việc bảo tồn, nâng cấp các di tích lịch sử, văn hóa,
nghệ thuật phục vụ cho hoạt động du lịch còn nhiều bất cập. Công tác tuyên
1
truyền, quảng bá du lịch, nhất là ở nước ngoài, tuy đã có những tiến bộ nhiều
so với các năm trước, nhưng còn rất hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thông tin
của khách du lịch và các nhà đầu tư.
Với những hạn chế, yếu kém trên, là người công tác trong ngành du
lịch, tác giả lựa chọn đề tài “Đa đạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô Hà
Nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, đã có khá nhiều hội thảo và công trình nghiên cứu nhằm
đẩy mạnh hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch của nước ta
- Tăng cường liên kết kinh tế nhằm phát triển du lịch tỉnh Bình Định.
Luận văn thạc sỹ kinh tế của Huỳnh Thị Luật, ĐHKTQD (2008).
- Kinh tế nhiều thành phần trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh Đồng Tháp.
Luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Minh Tuấn, Học viện chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh (2008).
- Du lịch trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình
Thuận. Luận văn thạc sỹ kinh tế của Dụng Văn Duy, Học viện chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh (2002).
- Phát triển kinh tế du lịch ở Nghệ An. Luận văn thạc sỹ kinh tế của
Hoàng Đức Cường, Học vện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1999).
những tồn tại để đưa ra phương hướng sát hợp và có hiệu quả trong việc đa
dạng hoá sản phẩm du lịch của Thủ đô Hà Nội.
6. Dự kiến những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về du lịch, kinh doanh du lịch
và sản phẩm du lịch.
- Đánh giá thực trạng sản phẩm du lịch của thủ đô Hà Nội trong thời
gian qua.
3
- Kiến nghị một số phương hướng, giải pháp đa dạng hoá sản phẩm
du lịch của thủ đô Hà Nội.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về du lịch và sản phẩm du
lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Thực trạng sản phẩm du lịch của thủ đô Hà Nội giai
đoạn 2002 - 2008.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đa
dạng hoá sản phẩm du lịch của thủ đô Hà Nội trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH
VÀ SẢN PHẨM DU LỊCH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH
1.1.1. Du lịch và những đặc trưng của du lịch
Du lịch có từ xa xưa gắn với sự ước mơ của con người vì căn tính cơ
bản của con người là vừa thích quen, vừa thích lạ, vừa muốn đi tìm hiểu làm
quen với cái lạ để thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên, của các nền văn hóa
của Mỹ là Mcintosh, Charles R.Goeldner, J.R.Brent Ritchie phát biểu: “Du
lịch như là tổng các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại
giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá
trình thu hút và đón tiếp khách”. Kuns - một học giả người Thụy Sỹ cho rằng
du lịch là “Công nghiệp giao thông”, ông cho rằng: “Công nghiệp giao
thông có thể được coi là một bộ phận của kinh tế quốc dân, nhiệm vụ của nó
là phục vụ cho khách du lịch rời khỏi nơi thường trú đi thăm viếng nơi khác.
Đó là nền kinh tế tổng hợp do nhiều ngành thương nghiệp và công nghiệp tổ
hợp thành, chức năng của nó là nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách”. Học
giả Nhật Bản, Tiền Điền Dũng trong khái luận về du lịch cho rằng: “Ngành
du lịch là hoạt động kinh doanh đa dạng, do rất nhiều bộ môn du lịch đối lập
khác nhau triển khai nhằm thích ứng với nhu cầu của khách du lịch”. Học giả
Mexico trong cuốn ngành du lịch là môi giới giao lưu của loài người luận bàn
rằng: “Ngành du lịch có thể được xem là tổng các mối quan hệ được hình
thành nên nhằm cung cấp dịch vụ và các tiện lợi khác cho khách du lịch”.
6
Như vậy, các khái niệm và các định nghĩa về ngành du lịch trên đây
tuy không thật giống nhau, nhưng đều có hai chỗ tương đồng. Thứ nhất,
ngành du lịch là một ngành kinh tế có tính tổng hợp do hàng loạt ngành liên
quan cùng tổ hợp thành; Thứ hai, nhiệm vụ của ngành du lịch là cung cấp sản
phẩm và dịch vụ cho khách. Do đó, có thể hiểu: Ngành du lịch là ngành kinh
tế có tính tổng hợp lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm cầm
thiết và dịch vụ cho khách du lịch, tạo điều kiện tiện lợi cho hoạt động du
lịch của họ.
Trong thực tế, sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia thường bao gồm
các mục tiêu như: kinh tế, chính trị và xã hội,… Nhà nước thúc đẩy du lịch
phát triển có thể lấy một trong các mục tiêu đó làm chính và có thể xem xét
tới các mục tiêu còn lại, hoặc cũng có thể coi trọng và xác định nhiều mục
tiêu khác nhau. Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện và tình hình cụ
thể của nước đó, tuy nhiên cùng với sự thay đổi tương ứng phát triển du lịch
Thứ ba, ngành du lịch mang tính thời vụ: tính thời vụ thể hiện ở thời
gian hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm, xảy ra dưới tác
động của một số yếu tố xác định, có yếu tố mang tính tự nhiên (sự thay đổi
của thời tiết khí hậu, sự vận động của mặt trời, mặt trăng, sự thay đổi của bốn
mùa), có yếu tố mang tính kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật, có yếu tố mang
tính tâm lý… thể hiện rõ ở nhiều loại hình du lịch, nhất ở các loại hình du lịch
nghỉ biển, thể thao theo mùa,… sự tác động nhiều mặt của tính thời vụ trong
du lịch cho nên đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch phải có phương pháp thích hợp trong hoạt động,
nhằm hạn chế những tác động bất lợi nêu trên trong toàn ngành và các cơ sở
trực thuộc. Muốn hạn chế tính thời vụ trong du lịch, cần phải xây dựng và áp
dụng một chương trình toàn diện, chú ý cách áp dụng các biện pháp hữu hiệu,
cố gắng giảm thiểu sự cách biệt mùa vụ, lợi dụng đầy đủ thiết bị và tài
8
nguyên du lịch, tạo ra hiệu quả và lợi ích kinh tế nhiều hơn, hạn chế ảnh
hưởng của tính thời vụ du lịch trong phạm vi quốc gia, ở những trung tâm du
lịch chính và ở từng điểm du lịch…
Thứ tư, ngành du lịch mang tính quốc tế: hoạt động kinh doanh du lịch
còn được phân theo lãnh thổ hoạt động: một là, đón tiếp khách nước ngoài tới
tiến hành hoạt động tham quan du lịch trong nước; hai là, tổ chức khách trong
nước ra nước ngoài du lịch; ba là, tổ chức cho khách trong nước tiến hành
hoạt động tham quan giải trí trong nước. Hai hoạt động đầu đều chứa đựng
nhiều yếu tố quốc tế. cùng với sự phát triển không ngừng của du lịch quốc tế,
việc tìm mọi cách để thu hút khách nước ngoài tới nước mình du lịch đã trở
thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, nếu muốn có
ngành du lịch phát triển. Tuy nhiên, không phải không có ảnh hưởng tiêu cực
do tính quốc tế của ngành du lịch gây ra, đó là: các thế lực phản động thường
thông qua việc đội lốt là khách du lịch để thâm nhập sâu vào nước sở tại
nhằm móc nối, xây dựng cơ sổ để tuyên truyền, kích động, gây mâu thuẫn nội
bộ giữa các dân tộc, tôn giáo làm mất trật tự, an toàn xã hội của quốc gia đó,
nữa về tính phụ thuộc của ngành du lịch còn ở chỗ, đó là phụ thuộc vào sự
hợp tác toàn diện, sự phát triển họp lý giữa các ngành, nghề có liên quan tới
du lịch. Bất cứ một ngành nghề nào có liên quan tới du lịch mà tuột ra khỏi
“mắt xích” thì hoạt động kinh doanh của ngành du lịch sẽ khó có thể đạt được
kết quả như mong muốn.
1.1.2. Các điều kiện phát triển du lịch
Du lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong những điều kiện và hoàn
cảnh thuận lợi nhất định. Trong số các điều kiện đó có những điều kiện trực
tiếp tác động đến việc hình thành nhu cầu du lịch và việc tổ chức các hoạt
động kinh doanh du lịch, bên cạnh đó có những điều kiện gắn liền với đặc
điểm của từng khu vực địa lý. Các điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với
10
nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành môi trường cho sự phát sinh, phát
triển du lịch. Các điều kiện đó là:
1.1.2.1. Các điều kiện chung, bao gồm: các điều kiện chung đối với sự
phát triển của hoạt động đi du lịch (như: thời gian nhàn rỗi của dân cư; mức
sống vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân cao; điều kiện giao
thông phát triển; điều kiện chính trị ổn định, hòa bình); các điều kiện có ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh du lịch (như: tình hình phát triển kinh tế của
đất nước; điều kiện chính trị ổn định, sự an toàn của du khách).
1.1.2.2. Các điều kiện đặc trưng - các điều kiện cần thiết đối với từng
nơi, từng vùng. Đầu tiên phải kể đến điều kiện về tài nguyên du lịch. Đây là
điều kiện cần thiết, bởi vì không có tài nguyên du lịch thì khó có thể phát
triển du lịch. Tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên ban tặng, cũng có thể
do con người tạo ra. Các tài nguyên thiên nhiên thường do: địa hình đa dạng,
phong phú; khí hậu ôn hòa, mát mẻ, thuận lợi cho nghỉ dưỡng; động thực vật
phong phú, đặc sắc; tài nguyên nước; vị trí địa lý mang lại. tài nguyên nhân
văn là các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị, kinh tế có ý nghĩa
đặc trưng cho phát triển du lịch ở một vùng, một địa danh nào đó có sức hấp
dẫn khách du lịch đến với các mục đích khác nhau.
nhu cầu khác nhau.
- Du khách có nhu cầu đi du lịch nhiều địa điểm trong một chuyến du lịch.
Những xu thế phát triển cần phải được nghiên cứu để kịp thời đáp ứng.
1.1.3.2. Các xu thế phát triển của cung du lịch: có nhiều nhân tố chi phối
sự phát triển của cung du lịch, trong đó, đặc biệt là sự chi phối của cầu du lịch
và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành. Những năm
tới đây dự đoán các xu hướng phát triển cung du lịch như sau:
- Danh mục sản phẩm du lịch được mở rộng, phong phú, có nhiều sản
phẩm độc đáo.
12
- Hệ thống tổ chức bán sản phẩm du lịch cũng phát triển, có nhiều
hình thứ tổ chức du lịch phù hợp với nhu cầu du lịch đa dạng.
- Vai trò của tuyên truyền quảng cáo trong du lịch ngày càng được
nâng cao.
- Ngành du lịch ngày càng được hiện đại hóa trên tất cả các khâu.
- Xu hướng quốc tế hóa trong phát triển du lịch là tất yếu khách quan.
Các quốc gia, các địa phương có xu hướng giảm thiểu các thủ tục hành chính
tạo điều kiện cho du lịch phát triển.
- Tính thời vụ trong du lịch ngày càng được khắc phục.
1.2. SẢN PHẨM DU LỊCH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐA DẠNG HÓA SẢN
PHẨM DU LỊCH
1.2.1. Sản phẩm du lịch
1.2.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch và đặc tính của sản phẩm du lịch
+ Khái niệm
“Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng
nhất hữu hình và vô hình. Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể
như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu
không khí tại nơi nghỉ mát” (Michael M. Coltman)
Sản phẩm du lịch còn gọi là kinh nghiệm du lịch và nó là tổng thể nên
Krapf nói “một khách sạn không làm nên du lịch”
1.2.1.2.2. Cách sắp xếp của Jeffries và Krippendorf
- Các di sản thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên
- Các di sản do con người tạo ra
- Các yếu tố thuộc về con người: tôn giáo phong tục, tập quán
- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc
- Những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lịch: khách sạn,
nhà hàng.
- Các chính sách kinh tế, tài chính, chính sách xã hội.
14
1.2.1.2.3. Cách sắp xếp của Michael M. Coltman
M. Coltman chia sản phẩm du lịch theo hai hướng tài nguyên:
+ Tài nguyên theo hướng Marketing
- Tài nguyên thiên nhiên: phong cảnh, công viên, hồ suối, núi non, dốc
đá, đèo, hệ động vật và thực vật, bãi biển, hải cảng.
- Nơi tiêu biểu văn hóa và lịch sử: vùng khảo cổ, kiến trúc truyền
thống, nghề thủ công bản địa, thực phẩm đặc sản, lễ lạt, nghi thức, phong tục,
múa hát.
- Nơi giải trí: công viên, sân golf, nơi cắm trại, nơi picnic, nơi bơi lội….
- Các tiện nghi du lịch: chiêu đãi, phục vụ nghỉ ngơi, nhà hàng, mua
sắm, trung tâm thông tin, hệ thống đăng ký giữ chỗ.
- Khí hậu.
- Các tài nguyên thiên nhiên khác.
- Hấp dẫn tâm lý: mỹ quan, thái độ hài lòng.
+ Cách sắp xếp theo hướng chức năng điều hành.
- Khả năng mua đất đai.
- Kế hoạch và phân vùng.
- Vận chuyển: đường bộ, đường hàng không, xe lửa, xe đò, tàu bè…
- Phục vụ công cộng: nước dùng, điện, nước thải.
- Kỹ nghệ trợ giúp: công an, cứu hỏa, y tế, nhà thờ, chùa, ngân hàng,
cung ứng lương thực, giặt ủi, các dịch vụ trợ giúp khác.
ấn tượng, những kinh nghiệm mà họ có được một cách vô hình, họ cần có
một thứ gì đó để làm kỷ niệm cho chuyến đi của chính bản thân họ, cho
người thân và bạn bè. Đó là sản phẩm hữu hình, những món quà lưu niệm
mang đầy dấu ấn cho suốt cả cuộc đời của họ về một nơi, một vùng, một
nước xa xôi nào đó. Điều này gợi lại cho họ một kỷ niệm khó phai mờ về
một chuyến đi.
16
Cửa hàng bán hàng lưu niệm và sự mua sắm giữ một vai trò quan trọng
trong việc thu hút khách du lịch. Điều này đã chứng minh cho ta thấy ở nơi
nghèo nàn, các cửa hàng bán đồ lưu niệm hoặc thuế hải quan quá cao đánh
trên sản phẩm khách du lịch mua làm quà lưu niệm, là những nơi ít khách du
lịch và có thể là nơi mà khách “một đi và không bao giờ trở lại”. Trái lại,
những nơi nào có chính sách thuế khóa về hải quan thoáng, để khuyến khích
khách du lịch mua sắm nhiều là những nơi khách du lịch thường lui tới và
giới thiệu cho bạn bè đi du lịch và chính những nơi này đã thu về một nguồn
ngoại tệ đáng kể cho ngành du lịch.
+ Yếu tố hấp dẫn giới tính (Sex) hay bãi cát (Sand)
Yếu tố hấp dẫn giới tính bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau. Nhưng dù
hiểu theo nghĩa nào đi nữa thì chữ sex trong du lịch thể hiện tính khêu gợi,
hấp dẫn và để đáp ứng sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý. Vì vậy, trong du lịch
có từ kèm theo chữ sex, đó là sex - tour.
Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, từ khi châu Âu, châu Mỹ, châu Phi
bị dịch bệnh AIDS hoành hành, khách du lịch đổ xô về châu Á, Đông Nam Á,
những nước không kém phát triển về mặt kinh tế mà còn chậm về sự lan tràn
cơn bệnh AIDS để thỏa mãn một phần “nhu cầu không nói ra” và hy vọng
vào một tỷ lệ xác suất cao hơn về sự an toàn so với những nước khác. Nhìn
lại những nước gần Việt Nam, trong những năm gần đây đã thu về một nguồn
lợi kinh tế đáng kể khi thả nổi vấn đề sex trong du lịch, nhưng đằng sau
nguồn lợi và sự phát triển đó, du lịch đã để lại một dấu ấn sâu sắc về sự phá
vỡ đối với xã hội và con người. Nhưng cái lợi của ngành du lịch tại những
theo đạo thiên chúa, nên dù ở đâu, đi đâu họ cũng cần có nhà thờ để tham dự
thánh lễ vào mỗi ngày chủ nhật. Đây là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối
với họ.
18
+ Lòng hiếu khách, khách sạn - nhà hàng (Hospitality)
Từ Hospitality có nghĩa là lòng hiếu khách. Trong du lịch, từ
Hospitality còn có nghĩa là những dịch vụ trong khách sạn nhà hàng. Dù hiểu
theo nghĩa nào đi nữa thì trong du lịch những yếu tố về lòng hiếu khách,
những dịch vụ trong khách sạn nhà hàng là những yếu tố vô cùng quan trọng
để cấu thành sản phẩm du lịch.
Lòng hiếu khách thể hiện qua sự tiếp xúc giữa khách với nhân viên cung
ứng dịch vụ, giữa khách và nhân viên nhà nước như hải quan, công an, nhân
viên ngân hàng, bưu điện, chính quyền địa phương và sự tiếp xúc giữa khách
với cư dân đại phương nơi khách đến tham quan, du lịch. Sự niềm nở, tận tình
giúp đõ khách, trò chuyện với khách một cách vui vẻ khi họ tìm hiểu về phong
tục, tập quán về đất nước họ đến thăm sẽ làm tăng thêm chất lượng sản phẩm.
Làm tốt những công việc này sẽ gây một ấn tượng tốt đẹp đối với mỗi người
khách và sau chuyến đi, họ muốn có dịp để trở lại hoặc giới thiệu cho bạn bè,
người thân đến du lịch. Trái lại, chỉ cần một điều nhỏ xúc phạm đến danh dự
của khách qua sự lạnh lùng, gắt gỏng, hách dịch thì những điều tốt đẹp trong
chuyến đi đều tan biến thành mây khói và khách “một đi không trở lại”.
Hai yếu tố quan trọng để tạo thành tour du lịch trọn gói đó là khách sạn
nhà hàng và vận chuyển. ngoại trừ khách tham quan, hầu hết du lịch đều nghỉ
qua đêm nên cần có khách sạn nhà hàng giải quyết vấn đề lưu trú ăn uống.
Krapf nói: “khách sạn không làm nên du lịch”. Đúng vậy, trong du lịch cần
phải có nhiều khách sạn và nhiều thứ khác nữa. Tuy nhiên khi Krapf nói như
vậy, cho thấy vai trò quan trọng của khách sạn nhà hàng trong du lịch.
+ Tính lương thiện (Honesty)
Tính lương thiện là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh. Kinh
doanh phải lấy chữ tín làm dầu. cho nên vấn đề uy tín với khách là điều cần
20
Tại các nước và khu vực như singapore, thái lan, hồng kông đường phố
rất tráng lệ đẹp, sạch sẽ, luôn luôn có những đội cảnh sát du lịch giữ gìn trật
tự và nhặt từng lá cây, từng cọng rác để làm đẹp, sạch thành phố làm cho
khách du lịch có một ấn tượng rất tốt đẹp về những nước này.
+ Sức khỏe (Santé)
Yếu tố sức khỏe bao gồm các loại hình thể thao, chữa bệnh và nghỉ dưỡng.
Người ta đi du lịch hầu hết là để nghỉ ngơi, lấy lại sức khỏe sau những
năm tháng làm việc căng thẳng về tinh thần và thể chất.
Để thu hút khách đi du lịch vì lý do sức khỏe, các đơn vị cung ứng du
lịch phải kết hợp những yếu tố liên quan đến sức khỏe trong sản phẩm du lịch
như các hoạt động thể thao bao gồm sân golf, lướt ván, bể bơi, sân tennis, leo
núi, câu cá, cắm trại.
Ngoài các loại hình mang tính thể thao trên, các khách sạn cũng cần
có các dịch vụ tắm hơi, masage đa dạng, phong phú, loại hình này chữa một
số bệnh rất hiệu quả.
+ An ninh, trật tự xã hội (Sécurité)
Yếu tố an ninh, trật tự xã hội bao gồm các vấn đề ổn định chính trị,
trật tự, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo hiểm sinh mạng cho khách du lịch.
Vấn đề an ninh là yếu tố quan tâm hàng đầu để phát triển du lịch. Một
vùng, một nước thiếu an ninh thì ngành du lịch không thể phát triển. Bảo vệ
tính mạng cho khách là vấn đề cực kỳ quan trọng. Du khách có thể bị phe đối
nghịch của một quốc gia bắt cóc hoặc sát hại, nên vấn đề giữ gìn tính mạng,
tinh thần, của cải vật chất của khách là vấn đề tất yếu và cần thiết. Để góp
phần vào việc giảm thiểu mức rủi ro và đảm bảo an ninh trật tự cho khách cần
phải thực hiện nhiêu biện phấp đồng bộ giữa chính quyền,các đơn vị cung
ứng du lịch. Về chính quyền phải ổn định chính trị, bài trừ tệ nạn xã hội như
21
ăn xin ,cướp giật, móc túi, nài ép khách mua hàng. Về phía hãng lữ hành phải
trang bị phương tiện vận chuyển tốt nhất và tài xế phải có kinh nghiệm, cẩn