Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
LỜI MỞ ĐẦU
Bạn thường xem các chương trình quảng cáo trên truyền hình và cực ấn tượng
với các khẩu hiệu gắn liền với sản phẩm/dịch vụ như: Bitis – Nâng niu bàn chân
Việt, Prudential – Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu ; Viettel – hãy nói theo
cách của bạn …
Đôi khi bạn vẫn hay nhận được các phiếu thăm dò về chất lượng , chủng loại ,
giá cả của một loại sản phẩm nào đó như nước giải khát , dầu gội ,đồ điện tử,.v v
Và thỉnh thoảng khi mua hàng bạn lại được khuyến mại hay được tặng quà kềm
theo sản phẩm bạn đã lựa chọn.Cũng đã nhiều lần bạn được chứng kiến các hoạt
động họp báo giới thiệu sản phẩm hoặc trưng bày sản phẩm…Vậy mục đích của
những việc làm này là gì?
Một câu trả lời chung cho tất cả đó là: Những hoạt động Marketing – một trong
những công cụ quan trọng nhất , yếu tố then chót quyết đến sự thành công của
doanh nghiệp trong kinh doanh.Chức năng chủ yếu của Marketing là thu hút và gìn
giữ khách hàng .
Để tạo ra khách hàng và đánh bại đối thủ cạnh tranh các doanh nghiệp phải thực
hiện các chiến lược Marketing.Một chiến lược marketing bao gồm nhiều hoạt động
kế tiếp và có quan hệ chặt chẽ với nhau . Trong số đó việc đề ra các chính sách về
sản phẩm là một công việc khó khăn là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của mỗi
doanh nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả nhất ba mục tiêu: lợi nhuận,vị thế và an
toàn.
Để lập được kế hoạch marketing cụ thể cho sản phẩm thì nguời lập ra kế hoạch
marketing phải trả lời được các câu hỏi, như:
-Đối tượng khách hàng mà sản phẩm hướng tới là gi?
-Sản phẩm nằm ở phân khúc nào của thị trường?
-Sản phẩm có những ưu thế gì?
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
-Thời gian để tung sản phẩm ra thị trường hợp lí nhất là khi nào?
là xương sống của chiến lược chung marketting. Chiến lược sản phẩm là một vũ
khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị trường.
Chiến lược sản phẩm giúp doanh nghiệp xác định phương hướng đầu tư, thiết kế
sản phẩm phù hợp thị hiếu, hạn chế rủi ro, thất bại, chỉ đạo thực hiện hiệu quả các
P còn lại trong marketting hỗn hợp
Yếu tố quyết định vị trí của một hãng trên thị trường là ở chỗ:
- Liệu sản phẩm của hãng có vượt lên được sản phẩm cạnh tranh không?
- Vượt lên như thế nào?
- Làm thế nào để khách hàng mua hàng của mình?
Tất cả những điều trên chỉ thực hiện được khi hãng có một chiến lược sản phẩm
đúng đắn, tạo ra sản phẩm mới với chất lượng tốt. Nhân tố quyết định sự thành
công của doanh nghiệp chính là bản thân sản phẩm của họ. Việc xác định đúng đắn
chiến lược sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của doanh nghiệp.
3. Phân Loại Hàng Hóa
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
Muốn có chiến lược marketting thích hợp và hoạt động marketting có hiệu quả,
các nhà quản trị marketting cần phải biết hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh
thuộc loại nào. Sau đây là các cách phân loại có ý nghĩa đáng chú ý:
a. Phân Loại Theo Thời Gian Sử Dụng Và Hình Thái Tồn Tại
Theo cách phân loại này thì thế giới hàng hóa có:
- Hàng hóa lâu bền: là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều lần.
- Hàng hóa sử dụng ngắn hạn: là những vật phẩm được sử dụng một lần hay một
vài lần.
- Dịch vụ: là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, ích lợi hay sự thỏa
mãn.
b. Phân Loại Hàng Tiêu Dùng Theo Thói Quen Mua Hàng
Thói quen mua hàng là yếu tố rất cơ bản ảnh hưởng đến cách thức hoạt động
marketting. Theo đặc điểm này hàng hóa tiêu dùng được phân thành các loại sau:
trong thiên nhiên hoặc vật liệu đã qua chế biến.
- Tài sản cố định: đó là những hàng hóa tham gia toàn bộ , nhiều lần vào quá
trình sản xuất và giá trị của chúngđược dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm do
doanh nghiệp chúng tạo ra.
- Vật tư phụ và dịch vụ: đó là những hàng hóa dùng để hỗ trợ cho quá trình kinh
doanh hay hoạt động của các tổ chức và doanh nghiệp.
- Tận dụng năng lực sản xuất dịch vụ dư thừa.
- Mưu toan trở thành công ty chủ chốt với chủng loại đầy đủ.
Khi bổ sung những sản phẩm mới trong cùng một chủng loại công ty phải tính
đến khả năng giảm mức tiêu thụ của sản phẩm khác. Để làm giảm bớt ảnh hưởng
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
này công ty phải đảm bảo chắc chắn rằng sản phẩm mới khác hẳn so với sản phẩm
đã có.
II. THIẾT KẾ VÀ MARKETTING SẢN PHẨM MỚI
1. Khái Quát Về Sản Phẩm Mới
Người ta nói sản phẩm mới là dòng máu nuôi bộ máy doanh nghiệp. Sản phẩm
mới được phát trển để đáp ứng nhu cầu không ngừng thay đổi của người tiêu dùng,
để bắt kịp với kỹ thuật mới, công nghệ mới và để đối phó với sự cạnh tranh khốc
liệt trên thị trường. Tuy nhiên, phát triển sản phẩm mới là một điều đầy rủi ro và
nhiều sản phẩm mới đã gặp thất bại. Trong phần nầy chúng ta thử tìm hiểu các
bước hình thành sản phẩm mới, đưa vào thị trường và phát triển thành công trên thị
trường.
Để có sản phẩm mới doanh nghiệp có hai cách. Một là mua sản phẩm từ người
khác. Điều nầy có thể là mua sản phẩm và tiếp thị với nhãn hiệu của riêng mình,
hoặc mua thiết kế, công thức sáng chế hoặc mua giấp phép sản xuất một sản phẩm
của người khác. Hai là tự mình phát triển sản phẩm lấy bằng các hoạt động R&D
(nghiên cứu và phát triển) của doanh nghiệp mình.
Nhiều sản phẩm mới được đầu tư rất tốn kém nhưng vẫn có thể gặp thất bại,
thị trường hiện tại không có một sản phẩm thay thế nào được coi là thoả mãn.
Trong phạm trù này, chúng ta cũng có thể bao gồm những sản phẩm hoàn toàn
khác với với những sản phẩm đang tồn tại, nhưng làm thỏa mãn cùng một loại nhu
cầu. Vì vậy, sự ra đời của tivi đối với radio và phim ảnh, chất plastics ra đời cạnh
tranh với gỗ và kim loại, và năng lượng mặt trời (solar power) cạnh tranh với
những nguồn năng lượng khác.
b. Những sự thay thế cho những sản phẩm đang tồn tại, những sản phẩm này khác
đáng kể với những sản phẩm đang tồn tại.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
Ví dụ, cà phê hoà tan thay cho cà phê hột. Những nhà sản xuất ngũ cốc phơi sấy
giới thiệu những loại ngũ cốc mới và thường bỏ những loại ngũ cốc đang tồn tại
không còn đáp ứng được những mong đợi về doanh số và lợi nhuận nữa. Những sự
thay đổi kiểu của ô tô hàng năm, và mốt thời trang của quần áo cũng thuộc vào loại
này.
c. Những sản phẩm bắt chước hay mô phỏng (imitative products)
Những sản phẩm này mới đối với một công ty nào đó, nhưng không mới đối với
thị trường, công ty chỉ muốn giữ lấy thị phần hiện có của mình khi đưa ra thị
trường những sản phẩm như thế này.
Có lẻ, tiêu chuẩn chủ yếu để xem xét một sản phẩm được xem là mới hay không
là cách mà thị trường mục tiêu nhận định về nó. Nếu người mua nhận thức rằng
một sản phẩm được đưa ra thị trường, khác đáng kể và tạo sức hấp dẫn hơn đối với
sản phẩm đang tồn tại ở một số đặc điểm, thì lúc đó nó sẽ là sản phẩm mới.
Quá trình phát triển sản phẩm mới có thể bắt đầu với việc lựa chọn một chiến
lược sản phẩm mới rõ ràng. Kế đó, chiến lược này có thể dùng như là một hướng
dẫn hữu ích thông qua quá trình phát triển từng bước được sử dụng cho từng sản
phẩm riêng biệt.
2. Lựa Chọn Chiến Lược sản phẩm
Nhà quản lý cần lựa chọn một chiến lược sản phẩm mới nói chung phải có hiệu
C. Phân tích kinh doanh (business analysis)
Một ý kiến sản phẩm mới còn tồn tại trong giai đoạn này được mở rộng vào một
đề nghị kinh doanh cụ thể. Nhà quản lý xác định những đặc điểm của sản phẩm;
đánh giá nhu cầu thị trường và khả năng mang lại lợi nhuận của sản phẩm; Thiết
lập một chương trình để phát triển sản phẩm, và đặt ra trách nhiệm cho việc nghiên
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
cứu thêm tính khả thi của sản phẩm (product’ feasibility). Ba bước đầu tiên này
được đưa ra cùng với nhau như là một sự kiểm tra khái niệm. Đây là sự trắc
nghiệm ý kiến sản phẩm, ngược lại với sự trắc nghiệm của chính sản phẩm trên thị
trường.
D. Phát triển sản phẩm (product development)
Sự phát triển sản phẩm là việc chuyển những ý kiến trên giấy thành một sản
phẩm thật sự. Một lượng nhỏ sản phẩm được tạo ra theo những đặc điểm kỹ thuật
đã được đề xuất ý kiến. Những kiểm tra trong phòng thí nghiệm, và những sự đánh
giá kỹ thuật cần thiết được tạo ra để xác định tính khả thi của hàng hoá.
E. Trắc nghiệm thị trường (test marketing)
Kiểm tra thị trường và những thí nghiệm thương mại khác trong những vùng địa
lý hạn chế được thực hiện để xác định tính khả thi của chương trình marketing ở
phạm vi lớn. Trong bước này, sự thiết kế và những biến số sản xuất có thể phải
điều chỉnh như là kết quả của những phát hiện được tìm ra trong kiểm tra. Tại thời
điểm này, nhà quản lý phải tạo ra quyết định cuối cùng đối với việc nên hay không
nên đưa sản phẩm ra thị trường dưới gốc độ thương mại.
F. Thương mại hoá (commercialization)
Sản xuất với phạm vi lớn và những chương trình marketing được hoạch định, và
kế đó sản phẩm được tung ra. Đến thời điểm này của quá trình phát triển sản phẩm,
nhà quản lý hầu như có một sự kiểm soát hoàn toàn trên sản phẩm. Lúc này, sản
phẩm được sinh ra và đi vào chu kỳ sống của nó. Tuy nhiên, môi trường cạnh tranh
bên ngoài trở thành yếu tố quyết định chủ yếu đến vận mệnh của nó.
- Ví dụ về khái niệm sản phẩm: “ Thức uống điểm tâm nhanh cho người lớn
thích dùng điểm tâm, bổ dưỡng nhưng không tốn thời gian sửa soạn”; hay “ bồi bổ
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
sức khoẻ cho người gia trước khi đi ngủ” hoặc “thức uống dặm dành cho trẻ em
uống giải khát hằng ngày” …
- Định vị sản phẩm này với các sản phẩm khác
- Định vị thương hiệu cho sản phẩm mới.
- Thử khái niệm này thông qua các công cụ nghiên cứu thị trường. Thử khái
niệm dùng để đánh giá những đặc trưng vượt trội của khái niệm (concept
uniqueness), mức độ phù hợp với nhu cầu thị trường, ý tưởng chính mà khái niệm
muốn thông đạt, tầm quan trọng của nó đối với khách hàng, mức độ thích thú, xu
hướng, tần suất mua hàng của khách hàng.
Bước 4: phát triển chiến lược marketting
- Hoạch định sơ bộ một chiến lược
- Hoạch định chương trình marketing để tung thương hiệu sản phẩm mới ra thị
trường.
- Nội dung chương trình Mar: thị trường mục tiêu, quy mô, hành vi tiêu dùng
của nó, vị trí dự định của sản phẩm, thương hiệu, giá cả, phân phối, quảng bá
thương hiệu, dự đoán doanh thu, thị phần, lợi nhuận, ngân sách marketing.
- Đặt tên cho thương hiệu. Brand name.
- Đăng ký tên thương hiệu (nhãn hiệu hàng hoá – trademark) trước pháp luật để
được pháp luật bảo vệ.
Chiến lược tên thương hiệu:
(1) Nới rộng theo dòng – line extensions: Công ty marketing một loại sản phẩm
nhưng thay đổi bao bì, kích cỡ, hình dáng, mầu sắc… nhưng sử dụng nhãn hiệu
hàng hoá. Thí dụ Colgate – Pamolive marketing ba loại sữa tắm Protex, có cùng
kiểu dáng bao bì, kích cỡ nhưng mức độ công dụng khác nhau (Protex1: Nhẹ
nhàng, Protex2: Cân bằng, Protex3: Tăng cường).
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
Bước 7: Thử thị trường
- Thử thị trường cho thương hiệu đó.
- Mục đích: Xem xét các phản ứng và tiềm năng của thị trường: mức độ chấp
nhận, mua hàng, sử dụng của người tiêu dùng, các kênh phân phối.
- Có nhiều cách testing: Nghiên cứu dao động của doanh thu ( sumulated test
marketing), thử có kiểm soát marketing (controlled test marketing).
- Chi phí rất tốn kém.
Bước 8: Tung thương hiệu ra thị trường
- Công ty cần quyết định về vị trí địa lý và thời gian tung thương hiệu.
-Về vị trí địa lý: tuỳ theo nguồn lực và tài chính cũng như tình hình cạnh tranh
trên thị trường, công ty có thể tập trung vào một địa phương, một vùng hay nhiều
vùng, cả nước hay thị trường nước ngoài.
-Về thời gian có 3 chọn lựa:
(1) Tung sản phẩm ra thị trường đầu tiên để là người tiên phong. Đây là một lợi
thế cạnh tranh tốt. Nhưng cũng có thể gánh chịu thất bại vì chưa có kinh nghiệm về
khách hàng của sản phẩm mới, cũng như chi phí định hướng tiêu dùng của khách
hàng (cost of educating the market).
(2) Tung song song với đối thủ cạnh tranh: Chia sẻ lợi thế tiên phong với đối
thủ cạnh tranh. Ưu điểm là: nếu 2 công ty cùng quảng bá sẽ chú ý cho thị trường
nhiều hơn.
(3) Tung sau đối thủ cạnh tranh: Mất lợi thế tiên phong, được lợi thế là có thể
tránh những khuyết điểm của nhà tiên phong mắc phải cũng như dễ dàng hơn trong
dự đoán dung lượng thị trường.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
III.CHU KỲ SỐNG CỦA SẢN PHẨM HÀNG HÓA
1. Khái quát về chu kỳ sống của sản phẩm.
Sau khi giới thịêu sản phẩm mới vào thị trường, doanh nghiệp muốn sản phẩm
vào thị trường càng đông nếu như triển vọng lợi nhuận đặc biệt hấp dẫn. Những
người bán chuyển tới một chiến lược chiêu thị cho việc mua sản phẩm hơn là thử
sản phẩm. Số thị trường tiêu thụ tăng lên, giá cả có thể đi xuống một ít.
Giai Đoạn Trưởng Thành
Suốt thời gian đầu của giai đoạn này, doanh số tiếp tục tăng lên, nhưng ở một
tốc độ giảm dần. Trong khi doanh số đang được ổn định, thì lợi nhuận của nhà sản
xuất và những nhà buôn lẻ giảm xuống. Sự cạnh tranh giá cả trở nên gay gắt hơn.
Nhà sản xuất gánh vác một phần lớn hơn cho những cố gắng chiêu thị chung trong
việc đấu tranh để duy trì những người bán và những sản phẩm ở trong cửa hàng
của họ. Những kiểu mẫu mới được giới thiệu khi nhà chế tạo mở rộng những tuyến
sản phẩm của họ, và doanh số trong thương mại trở nên đáng chú ý.
Giai Đoạn Suy thoái
Thật sự đối với tất cả những sản phẩm thì sự cũ đi là không thể tránh khỏi khi
những sản phẩm mới bắt đầu chu kỳ sống của chúng, và sẽ thay thế cho những sản
phẩm cũ. Sự kiểm soát chi phí trở nên càng quan trọng khi nhu cầu giảm xuống.
Quảng cáo giảm xuống, và một số đối thủ cạnh tranh rút ra khỏi thị trường. Sản
phẩm có bị diệt vong hay không, hoặc là những người bán có thể cứu sống được
sản phẩm hay không, tuỳ thuộc vào khả năng quản lý của xí nghiệp.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
Bảng tóm tắt các đặc điểm và chiến lược marketting tương ứng trong từng
giai đoạn trong chu kỳ đời sống sản phẩm
Giai đoạn Đặc điểm Các chiến lược và nổ lực
Giới thiệu - Doanh thu tăng chậm,
khách hàng chưa biết nhiều
đến sản phẩm
- Lợi nhuận là số âm, thấp
- Sản phẩm mới tỷ lệ thất
bại khá lớn
phẩm, thưởng, hội chợ triển lãm
Trưởng thành- Doanh thu tăng chậm, lợi
nhuận giảm dần.
- Hàng hóa bị ứ đọng ở một
số kênh phân phối.
- Cạnh tranh với đối thủ trở
- Cải tiến, biến đổi sản phẩm, chủng loại
bao bì, tăng uy tín, chất lượng sản
phẩm.
- Cố gắng giảm giá thành để có thể giảm
giá mà không bị lỗ.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
nên gay gắt.
- Giai đoạn trưởng thành
cần tranh thủ
- Cũng cố hệ thống phân phối trong
từng thị trường mới.
- Tăng cường quảng cáo, nhắc nhở và
các mạng lưới khuyến mãi để giữ chân
khách hàng.
Suy thoái - Doanh thu và lợi nhuận
giảm mạnh. Nếu không có
biện pháp tích cực dể dẫn
đến phá sản.
- Hàng hóa bị tẩy chai
không bán được.
- Đối thủ rút khỏi thị
nghiên cứu sự phân khúc của thị trường toàn cầu, với sự tham gia của 77.000
người dân trên khắp các châu lục để nắm bắt rõ nhu cầu, hành vi, tín ngưỡng và
phong cách của họ. Kết quả của cuộc điều tra này cho chúng tôi thấy, người tiêu
dùng có thể được chia thành 12 nhóm với những quan điểm mua sắm hoàn toàn
khác nhau. Chẳng hạn như, yếu tố thời trang và “hợp gu” đóng vai trò chủ chốt
trong quyết định mua sắm của nhóm người này, nhưng với nhóm người khác lại là
yếu tố công nghệ.
Hoặc có người muốn chiếc điện thoại giúp họ làm việc ngay cả khi…di chuyển
trên phố. Tại sao lại không? Với mục tiêu là chiếm tới 40% thị phần điện thoại di
động thế giới, thiết nghĩ chúng tôi cần thiết lập nên một danh mục sản phẩm vừa
mang tính đa dạng nhưng lại siết chặt, nhắm đến từng đối tượng khách hàng.
Khó khăn lớn nhất của ông khi quản lý một danh mục sản phẩm đa dạng như
vậy là gì?
- Khi công ty bạn tung ra thị trường đến 50 sản phẩm trong một năm, vòng đời
trung bình của mỗi sản phẩm là từ 12 đến 24 tháng, bạn sẽ phải đối mặt với sự lên
xuống thất thường kinh khủng của chúng. Chúng tôi buộc phải đầu tư mạnh cho
việc quản lý chuỗi cung ứng và hỗ trợ khi cần thiết (logistics) để có được tầm nhìn
đúng về thời hạn và vòng đời của sản phẩm. Vấn đề thứ hai là với nhiều sản phẩm
trong tay, việc ưu tiên cho truyền thông càng trở nên quan trọng. Kinh nghiệm của
chúng tôi là người tiêu dùng rất ghét sự nhầm lẫn trong sản phẩm, vì vậy cần phải
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
duy trì mối quan hệ ý nghĩa với khách hàng hơn là triển khai những chiến dịch
marketing hào nhoáng và ầm ĩ.
Vậy sự thay đổi của môi trường truyền thông ảnh hưởng đến những nỗ lực
quảng bá của tập đoàn như thế nào?
- Thế giới truyền thông đã hoàn toàn đổi thay tại Tây Âu, Bắc Mỹ, một số vùng
của châu Á và Mỹ Latinh. Truyền thông giờ đây không chỉ đơn thuần là việc đưa
ra một thông điệp nữa, mà bạn còn phải khởi xưởng những cuộc đàm luận thật thú
- Mọi người truy cập Internet thông qua những cách hoàn toàn khác nhau. Chẳng
hạn như, tại Trung Quốc, lượt truy cập vào website mobile.nokia.com lớn hơn so
với bất kỳ quốc gia nào khác, nhưng trong số những người truy cập lại có người
không hề có máy tính. Họ sử dụng mobile. Tương tự như vậy với Ấn Độ, Châu Phi
và Trung Đông. Vậy nên khi xây dựng các giải pháp và dịch vụ Internet, chúng tôi
nghĩ đến những thị trường này đầu tiên.
Tiềm năng phát triển tại những thị thị trường này cũng rất đáng ngạc nhiên. Họ
chiếm một thị phần lớn trên thị trường toàn cầu của chúng tôi, hơn hẳn những thị
trường phát triển khác, xét về mặt toán học. Khách hàng của bạn có hẳn cả hàng tỉ
người, có thể sức mua của họ có giới hạn thôi, nhưng một khi sản phẩm như những
thiết bị điện thoại của chúng tôi đã chứng minh có những tiện ích nổi bật, nâng cao
tiêu chuẩn đời sống của người nông dân, ngư dân, thợ thủ công… giúp họ tìm được
thị trường để cung cấp hàng hoá theo yêu cầu, trong khi trước đây họ đã rất tiêu
tốn thời gian cho việc này, chắc chắn sẽ có sức hút đối với họ. Đây cũng là một
bước chuyển biến lớn trong cuộc sống của người dân tại Ấn Độ và Châu Phi, nơi
đường dây điện thoại cố định còn tương đối ít và cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn.
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
Có thể nói, chúng tôi rất tự hào về những thành công của mình. Nokia muốn xây
dựng một viễn cảnh về thế giới với khoảng ba đến bốn tỉ người dân được kết nối
với nhau chỉ thông qua việc bấm bàn phím.
Chiến lược và phương pháp marketing của tập đoàn tại những thị trường
đang nổi bật có gì khác nhau hay không?
- Tại những thị trường mà người tiêu dùng quan tâm đến vấn đề giá cả, việc sản
xuất các sản phẩm đòi hỏi rất nhiều khoản đầu tư về chất xám, thiết kế và kỹ thuật.
Để thiết kế và sản xuất ra những sản phẩm giá khoảng 500$ là một chuyện, nhưng
để truyền tải các giá trị niềm tin, chất lượng, tính kết nối tương tự trong những sản
phẩm Nokia trị giá khoảng 50-60$ lại đòi hỏi rất nhiều sáng kiến và nỗ lực. Phải
làm sao để người tiêu dùng biết được rằng, tất cả các sản phẩm của Nokia, dù ở bất
họ, sẽ tạo nên bản sắc đa dạng trong đội ngũ nhân viên của chúng tôi.
Nokia tự hào là một trong những “đại gia” trong ngành sản xuất điện thoai.
“Mỗi điện thoại di động Nokia đều là một tuyệt tác mang tính nghệ thuật và khoa
học. Chúng được tạo ra để đáp ứng nhu cầu và phong cách sống của bạn. Chúng tôi
chỉ có duy nhất một mục đích, một mục đích và… một mục đích – liên kết mọi
người.
V.Chu kỳ sống của điện thoại nokia 1200
Là một mẫu điện thọai di động dành cho người thu nhập thấp, chiếc máy này chỉ
bao gồm các tính năng cơ bản như nghe, gọi, nhắn tin hay các ghi nhớ công việc
đơn giản. Chính vì vậy mà việc sử dụng các chức năng cơ bản trên từ 1200 cũng vô
cùng đơn giản, ngay cả đối với những người chưa dùng qua di động.
Về thiết kế, với phương trâm "back to basics", Nokia 1200 quay về với kiểu dáng
cổ điển như 1110i. Trọng lượng máy nhẹ, kích thước nhỏ, chỉ 102 x 44,1 x 17,5
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03
Phân tích chiến lược sản phẩm trong chu kỳ sống của NOKIA
mm, màu sắc chủ đạo là màu bạc ở mặt trước và màu xám ở mặt sau. Có hai phiên
bản màu cho bạn lựa chọn là màu xanh sáng hoặc vỏ viền màu đen bóng. Tuy
nhiên, hiện trên thị trường chỉ còn màu đen mà thôi.
Bàn phím của 1200 có thiết kế khá giống với 1110i, các phím bấm được bố trí
trên cùng một miếng đệm chứ không tách riêng với mục đích tránh cho bàn phím
khỏi dính bụi, đảm bảo độ nhạy cho các phím bấm. Màn hình của 1200 chỉ hiển thị
đen trắng với độ phân giải màn hình 96 x 68 pixel. Tất nhiên, với những model giá
rẻ như 1200 việc trang bị màn hình màu sẽ không mang lại nhiều hiệu quả vì chất
lượng màn hình cũng sẽ rất tệ.
Thế mạnh của 1200 chính là khả năng thực hiện cuộc gọi và gửi tin nhắn. Chất
lượng âm thanh của cuộc gọi luôn được đảm bảo do máy được trang bị tính năng
lọc bỏ tạp nhiễu để cải thiện chất lượng thoại. Bên cạnh đó, 1200 cũng tỏ ra nổi bật
với khả năng bắt sóng rất tốt ngay cả trong vùng sóng yếu. Dung lượng pin cũng
rất dồi dào, có thể đàm thoại trong 7 giờ và ở chế độ chờ 390 giờ.
Trải qua 1 chu kì dài đến giờ vẫn là sự lựa chọn của nhiều người tiêu dung là 1
thành công rất lớn của nokia1200. Chính những cái căn bản của chiếc điện thoại
này lại trở thành ưu điểm để nó được ưu ái của người tiêu dung. Và 1200 đã được
rất nhiều người tiêu dung tin tưởng và lựa chọn, để lại ấn tượng đẹp về một sản
phẩm bình dị: “KẾT NỐI THEO CÁCH CỦA BẠN”
KẾT LUẬN
GVHD: Lê Đức Lâm Lớp :CDTN12TH
SVTH : Nhóm 03