Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Lớp :
Nhóm :
Họ và tên sinh viên :
PHIẾU PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP
Tên đầy đủ DN :
Tên viết tắt DN :
Trụ sở :
Ngày tháng năm thành lập :
Loại hình doanh nghiệp :
Tel :
Website:
Ngành nghề kinh doanh của DN (Theo giấy chứng nhận đăng kí số …) :
I - Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) :
1-
2-
3-
II - Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN :
Tầm nhìn chiến lược :
Sứ mạng kinh doanh :
Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản :
Tổng doanh thu :
1
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Doanh thu thuần :
Lợi nhuận trước thuế :
Lợi nhuận sau thuế :
Tổng tài sản :
Tổng nguồn vốn :
Tỷ suất sinh lời :
III - PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI :
Đe dọa từ các ra nhập mới : Ví dụ :
Đánh giá :
Cường độ cạnh tranh mạnh
Cường độ cạnh tranh trung bình
3
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Cường độ cạnh tranh thấp
Ngành hấp dẫn
Ngành không hấp dẫn
Xác định các nhân tố thành công chủ yếu trong ngành (KFS) :
1-
2-
3-
IV - PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG :
Sản phẩm chủ yếu :
Thị trường :
Đánh giá các nguồn lực, năng lực dựa trên chuỗi giá trị của DN :
Hoạt động cơ bản :
Hoạt động bổ trợ :
Xác định các năng lực cạnh tranh (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời)
1-
2-
3-
Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Giải thích ngắn gọn các câu trả
lời)
Mạnh
4
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Trung bình
Yếu
1) Biên bản họp nhóm + Phiếu đánh giá thành viên
2)Danh mục tài liệu tham khảo (Ttất cả các tài liệu cần thiết).
3) Photocopy 3 tài liệu quan trọng nhât.
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI :
Các ngành kinh doanh của doanh nghiệp :
-Huy động vốn (nhận tiền gửi của ngân hàng) bằng Việt Nam đồng
ngaoij tệ và vàng.
6
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
-Sử dụng vốn(cung cấp tín dụng, hùm vốn kinh doanh) bằng Việt Nam
đồng, ngoại tệ và vàng.
-Các dịch vụ trung gian(Thực hiện thanh toán trong nước và ngoài
nước, thực hiện dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hôi, chuyển tiền
nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng)
-Kinh doanh ngoại tệ và vàng.
-Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.
Tốc độ tăng trưởng ngành :
-Tốc độ tăng trưởng năm 2007 : tốc độ tăng trưởng huy động vốn đạt
36.5% và tăng trưởng dư nợ tín dụng đạt 34%.
-Tốc độ tăng trưởng năm 2008 : : tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2008
là 20,4%, tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn do ảnh hưởng
khủng hoảng tài chính thế giới.
- Tốc độ tăng trưởng năm 2009 :
Giai đoạn trong chu kỳ phát triển chủa nghành : tăng trưởng
/ Môi trường bên ngoài
1/ Cơ hội
a)Thị trường thẻ thanh toán hấp dẫn
Tháng 12/2006 cùng với việc phê duyệt đề án phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến 2020, Chính phủ cũng
đã ban hành nghị định 161/2006/ND-CP quy định về thanh toán bằng tiền
kiến thức, kinh nghiệm , công nghệ quản lý hiện đại từ các Ngân hàng nước
ngoài và tiếp cận với thị trường quốc tế.
Đối với Vpbank, nhờ cam kết của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã phê duyệt để Vpbank được bán cổ phần cho Ngân hàng
OCBC của Singapore. Hiện tại, OCBC chiếm 20% cổ phần và là đối tác
chiến lược quan trọng của Vpbank. Trở thành cổ đông chiến lược của
Vpbank, OCBC sẽ hỗ trợ VPBank về mặt kỹ thuật, côn nghê, đào tạo các
biện pháp quản trị rủi ro và công nghệ thông tin… Ngân hàng này sẽ giúp
VPBank mở rộng hợp tác với các Ngân hàng nước ngoài, nhanh chóng tiếp
cận công nghệ hiện đại. Đây sẽ là môi trường rất tốt cho các cán bộ điều
hành của VPBank bắt nhịp được với công nghệ quản trị Ngân hàng tiên tiến
trên thế giới, giúp VPBank nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh khi
hội nhập.
Bên cạnh đó, khi Việt Nam gia nhập WTO, đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam tăng có thể giúp ngân hàng phát triển vốn, công nghệ… Bên cạnh đó,
xuất khẩu gia tăng là cơ hội giúp các ngân hàng phát triển các loại hình dịch
vụ của mình.
c)Thị trường bán lẻ tiềm năng đang trở thành xu hướng tất yếu.
Trong nền kinh tế mở, nhu cầu về dịch vụ Ngân hàng ngày càng tăng, nhất
là dịch vụ Ngân hàng bán lẻ (NHBL). Dịch vụ NHBL được định nghĩa là
việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh. Khách hàng còn
có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng qua các phương
tiện viễn thông và công nghệ thông tin tiên tiến, khi sử dụng dịch vụ online
hoặc qua điệ thoại di động. Đối tượng của ngân hàng bán lẻ là các cá nhân,
9
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
doanh nghiệp vùă và nhỏ, nên dịch vụ thường đơn giản, thuận tiện, phục vụ
nhu cầu thường nhật, tập trung và dịch vụ tiền gửi và tài khoản, vay vốn, thẻ
thanh toán…
tác chặt chẽ giữa Nhà nước và cá nhân trong việc phát triển hệ thống cơ sở
hạ tầng quốc gia nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng.
Đối với nhu cầu đầu tư vốn để nâng cao hệ thống giao thông cho đến năm
2020, mỗi năm Việt Nam cần 117.744 tỉ VND (gần 7,4 tỉ USD), trong khi
hiện tại, khả năng đáp ứng nhu cầu trên chỉ ở mức 2-3 tỉ USD, chủ yếu từ
ngân sách Nhà nước, ODA và trái phiếu Chính phủ. Theo Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV), con số này chỉ đáp ứng 20- 30% tổng nhu
cầu.
Theo ông Tống Quốc Đạt, Phó Lãnh đạo Viện Phát triển Cơ sở Hạ tầng và
Đô thị, thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, nghiên cứu về thực thi mô hình hợp
tác giữa Nhà nước và cá nhân sẽ giúp hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng
giao thông, với việc tập trung phát triển các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn,
xúc tiến xoá đói giảm nghèo ở các khu vực nông thôn và nâng cao hệ thống
giao thông đô thị.
e) Công nghệ ngành ngân hàng
Theo ông Tạ Quang Tiến, Cục trưởng cục Công nghệ tin học ngân hàng –
NHNN cho biết, dự án “ hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán”
11
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
giai đoạn I là một trong những dự án thành công nhất mà ngân hàng Thế
Giới đầu tư vào Việt Nam. Trước tiên, phải kể đến hệ thống thanh tóan điện
tử liên Ngân hàng đã được xây dựng, tạo ra một trục xương sống cho các
hoạt động thanh toán của nền kinh tế với hạ tầng công nghệ hiện đại, đạt
tiêu chuẩn quốc tế. Với hệ thống này, NHNN sẽ quản lý tập trung được hoạt
đọng thanh toán và chu chuyển vốn của nền kinh tế một cách hiệu quả.
Cùng với thẻ ATM, ngan hàng điện tử ( e-banking) với phương thức thanh
toán trực tuyến ngày càng tạo nhiều tiện ích cho khách hàng, đang được các
ngân hàng triển khai nhằm đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại đến
với khách hàng.
Cơ sở công nghệ hiện đại đã tăng cường năng lực cạnh tranh thị phần bán lẻ
sản của hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng ở Việt Nam,
nhưng tăng tới hơn 60% so với cùng kỳ năm 2005. Tốc độ tăng trưởng đó
chứng tỏ trong hai năm qua, các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài
chuyển số vốn rất lớn vào Việt Nam.
Bên cạnh các hoạt động cho vay, đầu tư, thì các chi nhánh ngân hàng nước
ngoài có thế mạnh mở rộng thị phần trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, kinh
doanh ngoại tệ, chuyển tiền kiều hối và các dịch vụ ngân hàng tiện ích khác
cho các nhà đầu tư nước ngoài, cá nhân người nước ngoài ở Việt Nam. Một
số chi nhánh ngân hàng nước ngoài mở rộng các nghiệp vụ chứng khoán,
như: lưu ký chứng khoán, bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp
13
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Cũng tính đến hết năm 2007, tổng thu nhập trước thuế của khối ngân hàng
và tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài đạt trên 2.400 tỷđồng, tăng
mạnh so với mức 1.700 tỷđồng và chiếm khoảng 18% tổng thu nhập trước
thuế của hệ thống ngân hàng Việt Nam; trong đó riêng khối chi nhánh ngân
hàng nước ngoài đạt lợi nhuận trước thuế khoảng 1.900 tỷđồng.
Qua đây cũng thấy được hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nước ngoài
là lớn như thế nào. Đây đúng là 1 thách thức lớn cho các ngân hàng trong
nước trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.
b) Ảnh hưởng của suy thoái nền kinh tế thế giới
Một trong những khó khăn gần đây nhất của các ngân hàng là lãi suất cho
vay chỉ còn quay xung quanh mức 10%( thấp hơn đàu năm 2008). Vì vậy sẽ
rất khó khăn để có thể thu được nhiều lợi nhuận từ việc cho vay.
Trong khi đó, dự báo tình hình kinh tế 2009 sẽ khó khăn hơn khi xuất khẩu
bị thu hẹp, hoạt đọng sản xuất, tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp bị
giảm sút( nhất là đối với doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Úc và
EU…), từ đó doanh nghiệp trong nước nhiều khả năng sẽ còn gặp nhiều khó
khăn hơn năm 2008 và điều này sẽ tác động làm giảm nhu cầu vay vốn của
doanh nghiệp. Đó là chưa kể những khó khăn khác như lượng kiều hối
10%, gấp đôi so với mức cũ. Theo quy định mới, tỉ lệ dự trữ bắt buộc
15
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
(DTBB) đối với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng
bằng Việt Nam đồng đối với NHTMNN, NHTM cổ phần đô thị, liên doanh,
chi nhánh NH nước ngoài, công ty tài chính là 10%. Riêng NH nông nghiệp
và phát triển nông thôn là 8% tính trên tổng số dư tiền gửi phải DTBB…
Các NHTM đang phản ứng rất gay gắt về quyết định này và cho rằng: nếu
phải tăng tỉ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng đến việc cho vay của các NH. Nguồn
cho vay sẽ bị cắt giảm, có nghĩa là nếu 1 NH huy động được 10 đồng thì chỉ
cho vay được 9 đồng thay vì 9,5 đồng như trước kia. Trong khi đó, đối với
hoạt động NH, nguồn thu mang về lớn nhất chính là lợi nhuận từ các khoản
cho vay. Tăng tỉ lệ DTBB đồng nghĩa với việc làm giảm lợi nhuận của NH.
Và kéo theo đó là rất nhiều những hiện tượng tiêu cực đối với nền kinh tế.
e)Việc cung ứng vốn gặp khó khăn
Tình hình cung - cầu vốn tại một số ngân hàng thương mại nhà nước trở nên
khó khăn hơn trước từ sau Tết Nguyên Đán tới nay. Tại một trong số này,
tổng lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế đã giảm tới 7.000 tỷ đồng tính từ
đầu năm. Một vị lãnh đạo ngân hàng cho biết, nhiều khách hàng doanh
nghiệp đang hạn chế tối đa vay vốn ngân hàng mà chỉ sử dụng vốn tự có. Xu
hướng này vẫn đang tiếp diễn và thực sự là tín hiệu đáng ngại!
Lượng vốn mà ngân hàng này đã giải ngân từ đầu năm đã lên tới 5.000 tỷ
đồng. Lượng tiền gửi của dân cư gần như không tăng khiến cho ngân hàng
đang từng bước tăng lãi suất huy động trở lại.
Đánh giá cường độ cạnh tranh
16
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Nguy cơ từ các ngân hàng mới
Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh
sẽ càng lúc càng gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào
sẽ quyết định khả năng tồn tại của một ngân hàng đang muốn gia nhập vào
thị trường Việt Nam.
Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương
hiệu bền vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt
cộng với một cơ sở khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi
(switching cost) để lôi kéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực
kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia
nhập thị trường hay không. Thực tế trên thị trường ngành ngân hàng Việt
Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao do các ngân hàng
chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ.
Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi
thế cạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối.
Các ngân hàng thành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một
địa điểm ưng ý để đặt văn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng
giao dịch bởi vì các vị trí đẹp và tiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt
động dành mất. Tuy vậy, các ngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa
vào lợi thế công nghệ để phát triển hệ thống kinh doanh của mình thông qua
Internet banking hoặc hệ thống ATM.
Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng
như thế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia
nhập khá cao khiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai
18
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
gần là khá thấp. Nhưng một khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với sự mở
cửa của ngành ngân hàng theo các cam kết với WTO và các tổ chức khác,
sự xuất hiện của các ngân hàng mới là một điều gần như chắc chắn.
Nguy cơ bị thay thế
Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có
thể xếp vào 5 loại:
• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)
trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm
của đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm.
Quyền lực của khách hàng
Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ
là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu
dùng không đồng thuận. Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai
cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ
hài lòng và lòng tin của khách hàng. Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh
giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng tại Việt Nam.
Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng
vốn huy động được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn
của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải. Trong khi đó, như đã
nói ở phần trên, nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách
hàng tiêu dùng, là khá cao. Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần
20
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
như không mất mát gì nếu muốn chuyển nguồn vốn của mình ra khỏi ngân
hàng và đầu tư vào một nơi khác.
Quyền lực của các nhà cung cấp
Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là
những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công
ty chịu trách nhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở Việt
Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những
nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực
của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường
lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một
khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay
đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhà
cung cấp thiết bị đã thắng thầu.
Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không
nhiều chọn lựa trong khi với không ít ngân hàng trong nước thì điều này là
không thể. Ngoài ra, ngân hàng ngoại còn có không ít lợi thế như hạ tầng
dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn
(điển hình là hệ thống Internet banking).
Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên
nhiều nước của ngân hàng ngoại. Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này,
các ngân hàng trong nước đã trang bị hệ thống hạ tầng công nghệ, sản phẩm
dịch vụ, nhân sự khá quy mô. Lợi thế của ngân hàng trong nước là mối
quan hệ mật thiết với khách hàng có sẵn. Ngân hàng trong nước sẵn sàng
linh hoạt cho vay với mức ưu đãi đối với những khách hàng quan trọng của
họ.
22
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Xu hướng trong ngành ngân hàng
Hiện nay Việt Nam đang có quá nhiều ngân hàng nhưng chưa có một ngân
hàng thực sự mạnh tầm cỡ quốc tế. Nhìn chung, các ngân hàng đã đua nhau
mở rộng quy mô mạng lưới để huy động nhiều vốn (phát triển theo chiều
rộng). Việc này dẫn đến tình trạng các ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt
với nhau trong hoạt động tín dụng mà quên mất các sản phẩm và dịch vụ
tiện ích kèm theo (chiều sâu). Đồng thời, các ngân hàng mở rộng quy mô
nhưng do thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cho nên công tác quản trị lại
không theo kịp quy mô phát triển.
Khủng hoảng kinh tế cũng mang lại rất nhiều khó khăn cho ngành ngân
hàng, một số ngân hàng đã không thể duy trì được mức tăng trưởng trong
năm vừa qua. Đây chính là cơ sở để nhiều chuyên gia về sáp nhập (M&A)
đưa ra nhận định rằng xu hướng sáp nhập trong ngành ngân hàng đang đến
gần.
Tuy nhiên, ngành ngân hàng là một trong những ngành nghề nhạy cảm, do
vậy việc sáp nhập chỉ có thể xảy ra trong vòng một, hai năm nữa khi ngành
ngân hàng đã được mở nhiều cửa hơn theo cam kết với WTO.