hãy chứng mình Yêu nước là một tình cảm thiêng liêng - Pdf 22

MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU

Yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con người
như tình yêu quê hương, xứ sở, sự gắn bó với ngôn ngữ và niềm tự hào về
truyền thống Yêu nước là một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu và
lòng trung thành đối với Tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ
quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc. Yêu nước cũng có quá trình
phát triển cùng với lịch sử phát triển của quốc gia dân tộc, theo quá trình đó
thì tình cảm yêu nước có tính chất cảm tính ấy dần dần trở thành lý tính có
nội dung tư tưởng, lý luận.
Trong xã hội có giai cấp, chủ nghĩa yêu nước cũng có tính giai cấp, bởi vì
mỗi giai cấp biểu hiện thái độ của mình đối với Tổ quốc thông qua những
lợi ích riêng vốn có của nó. Gắn liền với hệ tư tưởng của giai cấp thống trị,
"chủ nghĩa yêu nước trở thành một bộ phận không thể tách rời của ý thức xã
hội" . Nó là một hình thái ý thức xã hội - hình thái ý thức yêu nước.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
nghĩa yêu nước truyền thống đã được toàn thể dân tộc ta trong thời hiện đại
làm giầu thêm bằng vô vàn những gian khổ, hy sinh suốt hơn 30 năm đấu
tranh chống xâm lược và xây dựng đất nước trong điều kiện chiến tranh.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ấy, Đảng ta, do Hồ Chí Minh
sáng lập và lãnh đạo, đã từng bước tổng kết và khái quát hoạt động thực tiễn
của cả dân tộc thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại.

NỘI DUNG
1.Tổng quan về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống
Nhận định về chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong lịch sử dân tộc, Hồ
Chí Minh đã viết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh
thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ

càng được tôi luyện và nâng cao.
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV là thời kỳ tồn tại nền độc lập lâu dài của đất
nước. Nội dung bài thơ “ Nam quốc sơn hà” đã chứng tỏ một bước phát triển
cao của tinh thần yêu nước và ý thức độc lập tự chủ. Trải qua ba lần kháng
chiến chống Nguyên Mông thắng lợi cùng với những bộ Binh thư, Hịch
tướng sĩ, Di chúc của Trần Quốc Tuấn đã phản ánh sự trưởng thành của tinh
thần yêu nước với nhận thức gắn nước với dân và sức mạnh “vua tôi đồng
lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức”, “khoan thư sức dân để làm kế
sâu rễ bền gốc giữ nước”. Khởi nghĩa Lam Sơn đã phát huy cao độ sức
mạnh “nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương manh lệ”, phát triển
thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mang tính nhân dân sâu rộng.
Những tổng kết trong “Bình Ngô đại cáo” cho thấy tinh thần yêu nước, ý
thức dân tộc đã phát triển lên trình độ của chủ nghĩa yêu nước với một nhận
thức mang tính hệ thống, khái quát tương đối toàn diện về sự tồn tại của đất
nước và dân tộc.
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam chuyển
sang mô hình chế độ phong kiến trung ương tập quyền lấy Nho giáo làm
nòng cốt. Từ đó, Nho giáo đã có ảnh hưởng và chi phối ngày càng sâu sắc
trong triều đình và xã hội Việt Nam. Phong trào Tây Sơn (1771) nổi lên ở
Đàng Trong rồi tiến ra Bắc. Phong trào đó từ một cuộc khởi nghĩa nông dân
phát triển thành một phong trào dân tộc, đánh đổ các chính quyền phong
kiến, đánh bại quân xâm lược Xiêm, Thanh và xoá bỏ tình trạng chia cắt
Đàng Trong- Đàng Ngoài.
Có thể nhận định rằng: theo suốt lịch sử, tổ tiên chúng ta đã biết phát huy
cao độ sức mạnh nội sinh, tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc, phù hợp
với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước và con người Việt Nam. Nhờ đó
mới có thể giữ vững nền độc lập, chủ quyền và xây dựng đất nước.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống có một số giá trị và nội dung
cơ bản là:
Thứ nhất, có tình yêu quê hương, xứ sở và sự gắn bó, cố kết cộng đồng.

Bước sang thế kỷ XIX, tình hình đất nước đã thay đổi. Nguyễn Ánh, với
sự giúp đỡ của Pháp đã đánh bại triều Tây Sơn, dựng lên triều Nguyễn năm
1802. Các vua triều Nguyễn từ Gia Long, Minh Mệnh đến Tự Đức đã rất
bảo thủ, không chú ý đến phát triển kinh tế, công thương nghiệp và củng cố
quốc phòng để chuẩn bị cho dân tộc đối phó với những nguy cơ đe doạ bị
xâm lược từ bên ngoài. Theo họ, Nho giáo là chân lý duy nhất và xã hội
phong kiến là vĩnh viễn không thay đổi, các học thuyết khác, không phải là
Nho giáo, đều là tà thuyết.
Các nước Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Miến Điện , Ấn
Độ lần lượt bị tư bản phương Tây xâm lược và bị thống trị bằng bộ máy cai
trị của chúng.
Nhân dân các nước đó đã đấu tranh rất anh dũng và đạt đến đỉnh cao của
cao trào đấu tranh chống xâm lược phương Tây ở khu vực này thế kỷ XIX.
Ở nước ta, triều Nguyễn đã nhận thấy những diễn biến như vậy ở những
nước trong khu vực mà vẫn cửa đóng then cài và thực hiện chính sách bế
quan toả cảng.
Nguy cơ bị xâm lược đã lộ rõ, thế mà từ những người đứng đầu đến các
nhà Nho và quan lại ở cấp thấp không nhận thức được. Ở đây các tư tưởng
bảo thủ, lạc hậu của Nho giáo đã thấm sâu vào hệ tư tưởng phong kiến triều
Nguyễn và trở thành vật cản trở sự vươn lên của nhận thức, của tư duy cả
triều đại đó. Hạn chế của hệ tư tưởng phong kiến triều Nguyễn lấy Nho giáo
làm nòng cốt đã ảnh hưởng đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, làm cho nó
không đủ sức soi sáng cho vấn đề cơ bản liên quan đến sự nghiệp cứu nước
của dân tộc ta hồi nửa cuối thế kỷ XIX.
Trên thực tế, đã xuất hiện tư tưởng canh tân. Các nhà canh tân như Phạm
Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch , đã phê
phán bác bỏ nhiều tư tưởng bảo thủ, lạc hậu của Nho giáo như "Xưa hơn
nay", "Bế quan toả cảng", “Trọng nông ức thương". Dẫu vậy, tư tưởng canh
tân vẫn không giải quyết được vấn đề cơ bản của thực tiễn cách mạng Việt
Nam.

Pháp, cũng đều có thể gặp chủ nghĩa Mác-Lênin. Tuy nhiên, “cần phải chú ý
rằng từ trước năm 1911 đến năm 1920 ở Pháp, cũng như ở Châu Âu, chủ
nghĩa cơ hội, mà một trong những đặc trưng chính là chủ nghĩa dân tộc tư
sản và tiểu tư sản, đang hoành hành và chủ nghĩa Mác-Lênin đã phải đấu
tranh quyết liệt với nó. Trong điều kiện như vậy, việc đi sang phương Tây
để tìm đường cứu nước có hai, chớ không phải chỉ có một khả năng duy
nhất: có khả năng tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, và cũng có nguy cơ sa vào
cạm bẫy của chủ nghĩa cơ hội”.
Cùng thời với Hồ Chí Minh, đã có nhiều nhà yêu nước khác ở phương
Tây, nhưng vẫn không hiểu rõ chủ nghĩa thực dân và vẫn "lạc lối trời Âu".
Hay có những người đi về phương Đông, cũng đã ở Nhật nhiều năm, nhưng
có phát hiện được bản chất chủ nghĩa đế quốc đâu? Vậy thì phải có yếu tố gì
khác khiến cho Hồ Chí Minh hiểu sâu chủ nghĩa thực dân và tiếp thu được
chủ nghĩa Mác-Lênin mà những người Việt Nam yêu nước khác không đạt
được? Yếu tố khác và quan trọng đó là mục đích đi – “đi là để tìm đường
cứu nước, mà không phải là đi cầu viện. Với mục đích ấy, Hồ Chí Minh đã
đặt nhiệm vụ là phải dầy công khảo sát văn hoá, chính trị, tổ chức tựu
trung lại là phải dầy công khảo sát lý luận, để xem "những nước ấy tổ chức
và cai trị như thế nào" .
Việc xác định rõ mục đích ra đi tuy là rất quan trọng, song chưa phải là
yếu tố tạo ra sự khác biệt căn bản giữa Hồ Chí Minh với những người yêu
nước cùng thời. Theo chúng tôi, yếu tố ấy là phương thức, phương pháp ra
đi. Chính vì không tìm được phương pháp hoạt động thích hợp mà hai Cụ
Phan và những người Việt Nam yêu nước khác đã không hiểu rõ, hiểu sâu
bản chất chủ nghĩa thực dân đế quốc và không tiếp thu được chủ nghĩa Mác-
Lênin, nói chính xác hơn là chậm tiếp thu được chủ nghĩa Mác-Lênin, vì vào
giai đoạn cuối đời hai Cụ đều đặt niềm tin của mình vào con đường mà
Nguyễn Ái Quốc lựa chọn.
Sẽ là không đầy đủ nếu không kể đến việc Hồ Chí Minh đã từng sống ở
những thủ đô lớn của các nước phương Tây như Pari, Luân đôn, Béclin và

Thứ nhất: Trong suốt cả quá trình bôn ba khảo sát khắp thế giới, Hồ Chí
Minh vẫn luôn tìm hiểu về thực chất của những khẩu hiệu: Tự do, Bình
đẳng, Bác ái, Hoà bình mà giai cấp tư sản đang hết lời để ca tụng, đặc biệt
trong thời gian chiến tranh đế quốc (1914-1918). Sau chiến tranh, nhất là từ
khi diễn ra hội nghị Véc-Xây, thì những lời lẽ văn hoa đó của giai cấp tư sản
không còn che đậy được những hành vi bạo lực, ăn cướp của chủ nghĩa tư
bản đế quốc nữa. Sự kiện "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" bị chìm
nghỉm trong"Hội nghị Hoà bình", sự kiện đoàn Đại biểu Trung Quốc tự ý bỏ
Hội nghị Hoà bình ra về và một số đoàn của người Triều Tiên, Ấn Độ, Ả
Rập, v.v., đến Hội nghị Hoà bình để yêu cầu độc lập, tự do cũng bị thất vọng
đã cho thấy rõ bản chất của "Nhân đạo" và "Hoà bình" đế quốc. Hiệp ước
Véc-Xây còn được gọi là Hiệp ước ăn cướp. Do vậy, hy vọng các dân tộc
chung sống hoà bình và bình đẳng dưới chủ nghĩa tư bản đế quốc chỉ là ảo
tưởng.
Thứ hai: Vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam sẽ phải đi theo con
đường cách mạng nào? Làm thế nào để giành lại độc lập, bình đẳng cho dân
tộc Việt Nam? Khi nghiên cứu luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm
thấy câu trả lời cho những câu hỏi trên. Người đã vui mừng đến phát khóc.
Cảm động, phấn khởi, mà sáng tỏ, tin tưởng biết bao, Người đã nói to lên
rằng "Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta,
đây là con đường giải phóng chúng ta!"(6) . Từ đấy, Hồ Chí Minh xác định
cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản.
Thứ ba: Cuộc tranh luận trong Đảng xã hội Pháp về vấn đề ở lại Quốc tế
II hay gia nhập Quốc tế III gây nên ở Hồ Chí Minh một vấn đề khó hiểu là
"cái Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa". Có một số đồng
chí nói là Quốc tế III, không phải Quốc tế II và "Điều đó có liên quan đến
tiền đồ của giai cấp công nhân". Hồ Chí Minh tuy chưa hiểu nhiều về ý
nghĩa của vấn đề, nhưng điều mà Người muốn biết, về thực chất, học thuyết
nào quan tâm đến vấn đề giải phóng dân tộc thuộc địa? Chính “Sơ thảo luận
cương” đã tháo gỡ điều khó hiểu đó trong nhận thức của Người.

đắn.
Nhưng đối với các nước thuộc địa, đặc biệt là Việt Nam, khi mà giai cấp
tư sản Việt Nam ra đời muộn hơn giai cấp vô sản Việt Nam, và giai cấp vô
sản ở các nước thuộc địa liệu có thanh toán được giai cấp tư sản nước mình
nếu chưa tống cổ được bọn thực dân đế quốc đi ? Giải quyết sáng tạo những
vấn đề trên là công lao vĩ đại của Hồ Chí Minh.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, Hồ Chí Minh đã phân tích xã
hội Việt Nam và chỉ ra mâu thuẫn giữa dân tộc với thực dân đế quốc, giữa
công - nông với tư sản - địa chủ, đồng thời đã nhận thấy rằng giai cấp công
nhân Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng có sứ mệnh và tiền đồ thật to lớn là giai
cấp lãnh đạo cách mạng. Giai cấp công nhân cần phải liên minh với giai cấp
nông dân và sự liên minh ấy trở thành lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn
kết dân tộc.
Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin đã có vai trò to lớn trong đường lối cứu
nước của Hồ Chí Minh và tạo ra bước ngoặt quan trọng trong đường lối cứu
nước của lịch sử dân tộc. Qua trí tuệ sáng tạo của Người, chủ nghĩa yêu
nước truyền thống được soi sáng bằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã vươn lên
ngang tâm thời đại. Và trên thực tế, nó đã đáp ứng được yêu cầu của của
cách mạng nước ta.
c. Về sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam truyền thống trong tư duy Hồ Chí Minh.
Trong thời gian sống ở Liên Xô, Hồ Chí Minh đã phát triển những tư
tưởng cơ bản về kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, chủ nghĩa yêu
nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng và độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội nhằm thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp và giải phóng con người.
Thời kỳ này đã giúp Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc thêm về sứ mệnh lịch sử và
tiền đồ của giai cấp công nhân, về sự liên minh công - nông, về tình đoàn
kết quốc tế vô sản.
Đặc biệt, việc được chứng kiến chế độ dân chủ vô sản hay chế độ xã hội

Thế giới quan Hồ Chí Minh là thuộc về thế giới quan Mác-Lênin. Cơ sở của
thế giới quan ấy là triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Điều làm
cho Hồ Chí Minh trở nên vĩ đại chính là "Người đã dựa vào triết học duy vật
biện chứng, thứ triết học không chỉ phản ánh sự đúc kết quan trọng nhất
trong lịch sử tư duy của loài người mà còn là sự khám phá có ý nghĩa nhất
trong lịch sử tri thức và văn hóa; phát hiện ra những quy luật vận hành của
mọi tồn tại vật chất, những quy luật chi phối của cả thế giới cũng như thiên
nhiên, con người và cuộc sống. Nếu không thực hiện những biện pháp cần
thiết, không phân tích đúng đắn thực tế ở mỗi nước, sẽ có nguy cơ chệch
hướng và mắc phải những sai lầm mà sau đó có thể trở thành những hậu quả
nghiêm trọng đối với sự phát triển cách mạng" .
Chính triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã cung cấp cho Hồ
Chí Minh cơ sở khoa học trong việc lý giải về mặt lý luận con đường cứu
nước, góp phần vào việc lý giải về mặt lý luận con đường giải phóng các
dân tộc thuộc địa. Triết học ấy đã soi sáng cho ý chí và quyết tâm cứu nước,
đánh đuổi thực dân, giải phóng đồng bào của Người. Dựa vào triết học ấy,
Hồ Chí Minh đã sáng tạo một phương pháp cách mạng để giác ngộ, tập hợp,
tổ chức và động viên sức mạnh của cả dân tộc, góp phần động viên sức
mạnh của nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên thế giới. Người đã
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và thực hiện giáo dục chủ
nghĩa cộng sản suốt cả quá trình cách mạng trong nhân dân có ý nghĩa quyết
định mọi thắng lợi của cách mạng.
Như vậy, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa yêu nước truyền
thống đã có bước nhảy vọt về chất, trở thành chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí
Minh (= chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh). Chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam, dựa vững chắc trên lập trường giai cấp vô sản, đã bổ
sung thêm "cơ sở lịch sử" cho chủ nghĩa Mác-Lênin và "củng cố nó bằng
dân tộc học phương Đông"(12) , nhưng chỉ có Hồ Chí Minh mới thực hiện
được điều đó, mới tiếp thu được và tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-
Lênin.

tiếp tục phát triển và hiện diện rực rỡ trong sự nghiệp giải phóng, bảo vệ và
xây dựng đất nước ở thời đại ngày nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status