MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế của nước ta có nhiều chuyển biến.
Do có sự đổi mới cơ chế quản lý từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, nước ta đã
đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế xã hội. Trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, với cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện hạch toán
kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải đảm bảo có
tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và có lãi.
Công ty CP giấy Trúc Bạch đã có một quá trình hình thành và phát triển
lâu dài. Trải qua nhiều khó khăn công ty đã từng bước khẳng định vị thế của
mình và từng bước phát triển.Hiện nay công ty đã và đang mở rộng các chủng
loại sản phẩm của mình. Ngoài ra, công ty luôn giữ được uy tín với khách
hàng về mặt chất lượng cũng như số lượng. Để phát huy những kết quả đạt
được, công ty đã không ngừng tăng quy mô sản xuất , hiện đại hóa dây
chuyền công nghệ sản xuất, tuyển dụng thêm những công nhân lành nghề với
tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đòi hỏi phải có sự
quản lý. Trong đó hạch toán kế toán là một trong những công cụ sắc bén
nhất, không thể thiếu trong hệ thống quán lý kinh tế tài chính của các doanh
nghiệp. Cùng với sự đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, sự đổi mới của hệ
thống kế toán doanh nghiệp đã tạo ra cho kế toán một bộ mặt mới, khẳng định
được vị trí của kế toán trong công tác quản lý. Do đó, trên cơ sở phương pháp
luận đã học và qua thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty CP giấy Trúc Bạch
với sự hướng dẫn của thầy giáo Trương Anh Dũng, em đã thực hiện báo cáo
với đề tài “Báo cáo thực tập tổng hợp kế toán tại công ty CP giấy Trúc Bạch”.
Với mong muốn đi sâu tìm hiểu công tác kế toán tại một doanh nghiệp sản
xuất từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn cho bản thân, nâng cao trình độ
lý luận cho mình.
Báo cáo tổng hợp của em gồm 3 phần:
_Phần 1: Tổng quan về đặc điểm kinh tế_ kỹ thuật và tổ chức bộ máy quản lý
Fax:6881393/688
Vốn điều lệ khi công ty được cổ phần hóa là: 29.062.500.000 đ
1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty CP Giấy Trúc Bạch là một công ty công nghiệp địa phương
được thành lập vào năm 1960
Công ty là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, hoạt
động theo điều lệ XHCN quốc doanh (Nghị định 93 CP ngày 8/4/1978) và
nguyên tắc tự chủ về mặt tài chính.
Vốn kinh doanh của công ty chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp, một
phần tự bổ sung.
Cuối năm 2006 Công ty chuyển đổi hình thức sở hữu thành Công ty CP
Giấy Trúc Bạch Hà Nội.
Công ty CP Giấy Trúc Bạch có một quá trình hình thành và phát triển
lâu dài. Tiền thân của công ty là nhà máy Giấy Trúc Bạch được thành lập
ngày 25/1/1959 theo nghị định số 335 của thủ tướng chính phú trên cơ sở sáp
nhập xưởng giấy Bảo hoa chấn nam Quảng Bá và xưởng giặt là quần áo cho
lính Pháp của một tư sản thời pháp thuộc.
Ngày 8/4/1960 thành phố Hà Nội quyết định công nhận chính thức là
nhà máy giấy Trúc Bạch.
Trong những năm 1960_ 1961 nhà máy đã hoàn thành xuất sắc chức
năng và nhiệm vụ được giao là sản xuất, cung cấp giấy cho khu vực phía Bắc.
Bước sang thời kỳ kháng chiến chông Mỹ cứu nước , tháng 6/1969,
nhà máy được sát nhập thêm phân xưởng CARTON dân chủ, đồng thời
được nhà nước đầu tư trang bị 03 máy xeo CARTON với công suất 300
tấn/ năm/ máy. Sự sáp nhập và đầu tư thêm máy móc thiết bị đã mở rộng
năng lực của nhà máy.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nhà máy đã tập trung vào công
việc khôi phục lại sản xuất tiếp tục chế tao các thiết bị sản xuất giấy, thực tiễn
chuyển giao công nghệ sản xuất
Giai đoạn từ 1990 – 1995: là những năm đầu Nhà nước xóa bỏ bao cấp
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.
Công ty CP Giấy Trúc Bạch tổ chức sản xuất hoàn toàn phù hợp với đặc
điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Công ty tổ chức sản xuất theo
phân xưởng. Mỗi một phân xưởng lại bao gồm các tổ chức sản xuất, mỗi tổ
sản xuất đảm nhận một giai đoạn công nghệ nhất định bảo đảm cho quá trình
sản xuất của từng phân xưởng và toàn Công ty được tiến hành thường xuyên,
liên tục và có hiệu quả.
Các sản phẩm của Công ty bao gồm rất nhiều loại như: Giấy ăn, giấy
Pơluya, giấy caráp, giấy gói, băng vệ sinh. Ngoài giấy ăn cao cấp và băng vệ
sinh phụ nữ sử dụng nguyên liệu nhập ngoại qua dây chuyền khép kín hiện
đại, để sản xuất ra các loai sản phẩm còn lại, Công ty đều sử dụng các loại
giấy vụn, giấy loại làm nguyên liệu sản xuất mà không sử dụng các nguyên
liệu thủy như: gỗ, tre, nứa. Do đó, quy trình công nghệ sản xuất của Công ty
là đơn giản, không phức tạp, bỏ qua công đoạn chế biến ban đầu.
Quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm ở Công ty giấy Trúc Bạch có
thể khái quát qua các mô hình sau:
Sơ đồ 1.1
Quy trình công nghệ sản xuất Giấy
Như đã giới thiệu ở trên quy trình công nghệ sản xuất băng vệ sinh là
một quy trình khép kín với dây chuyền sản xuất và nguyên vật liệu gồm:
bông, bột, nhãn dán băng, màng bọc đều nhập ngoại. Do đó, quá trình sả
xuất băng vệ sinh có thể mô tả khái quát qua sơ đồ sau:
Các loại giấy vụn
thu mua
Phân loại,
làm sạch
Pha loãng Bể chứa Máy
nghiền
Làm sạch Xeo giấy
cuộn
Với tổng số cán bộ công nhân viên là 65 người.
Phân xưởng gồm có các tổ sản xuất trực thuộc sau:
_01 tổ nồi hơi, có nhiệm vụ sản xuất ra hơi phục vụ cho tổ xeo giấy.
_Tổ xeo giấy: chia thành 2 tổ nhỏ có nhiệm vụ xeo giấy
_Tổ hoàn thành: gồm 2 tổ nhỏ có nhiệm vụ tinh chế giấy
Bộ máy quản lý phân xưởng gồm:
_Quản đốc phân xưởng: Phụ trách chung
_Phó quản đốc: Phụ trách kỹ thuật
_Mỗi tổ sản xuất đều có một tổ trưởng sản xuất và một tổ phó
Hàng tháng, sau khi nhận kế hoạch từ Công ty, quản đốc phân xưởng sẽ
họp các tổ trưởng để quán triệt nhiệm vụ. Tùy theo số lượng và chủng loại sản
phẩm được giao sản xuất trong tháng quản đốc phân xưởng sẽ căn cứ theo
năng lực của từng tổ sản xuất và tính năng kỹ thuật của từng dây chuyền để
phân công cụ thể. Các tổ trưởng sau khi nhận nhiệm vụ sẽ triển khai công việc
trong tổ mình.
- Phân xưởng băng vệ sinh: Đây là phân xưởng mới thành lập, được
trang bị một dây chuyền sản xuất tự động hiện đại. Sản phẩm của phân xưởng
là các loại băng vệ sinh phụ nữ.
Tổng số cán bộ công nhân viên của phân xưởng là 5 người trong đó có
quản đốc phân xưởng trực tiếp vận hành máy cùng một số công nhân kỹ
thuật, số công nhân còn lại của phân xưởng chủ yếu phụ trách khâu đóng gói
bao bì và nhập kho sản phẩm. Nguyên liệu được đưa vào sau một loạt quy
trình sản xuất tự động tạo ra thành phẩm là băng vệ sinh.
Nhìn chung, quá trình sản xuất của Công ty được khép kín từ khâu thu
mua nguyên vật liệu đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Mỗi phân xưởng là một
khâu sản xuất các loại sản phẩm riêng biệt. Kế hoạch sản xuất do phòng kế
hoạch xây dựng nên, là căn cứ để mỗi phân xưởng tự tổ chức sản xuất. Hiện
nay, với chất lượng cao, chủng loại và mẫu mã đa dạng, sản phẩm của Công
ty được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và ngày càng khẳng định được vị
thế của mình trên thị trường.
đốc phụ trách sản xuất: Tổ chức chỉ huy điều hành quá trình của Công ty.
Đảm bảo sản xuất ổn định, có hiệu quả, đạt các mục tiêu sản xuất sản phẩm
Công ty đề ra. Trực tiếp giải quyết các vướng mắc, mất cân đối trong quá
trình sản xuất. Chỉ đạo trực tiếp việc thu mua nguyên liệu chính để đảm bảo
sản xuất ổn định.
Hội đồng
quản trị
Giám đốc
Ban kiểm
soát
Phòng
tài vụ
Phòng
kỹ thuật
KSC
Phòng kế
hoạch_thị
trường
Phòng tổ chức
hành
chính_bảo vệ
Phòng vật
tư
Phân
xưởng
Giấy
Phó giám đốc
sản xuất
Phân
xưởng
chuyển đi các công văn, giấy tờ, làm công tác đối nội, đối ngoại, lập kế hoạch
mua và cấp phát văn phòng phẩm cho các phòng ban, phân xưởng theo kế
hoạch tháng, năm. Thường xuyên theo dõi tình hình đời sống ăn, ở, đi lại của
cán bộ công nhân viên.
+ Quản lý và hướng dẫn sử dụng các công trình phúc lợi công cộng, xây
dựng, tu bổ, trang bị dụng cụ phương tiện nhà ăn ca.
+ Tổ chức kiểm kê tài sản trong khu vực hành chính quản lý theo định kỳ
6 tháng, năm và đề ra các biện pháp quản lý lên giám đốc.
+ Bảo vệ: Tổ chức bảo vệ tốt tài sản, vật tư hàng hóa của Công ty và của
công nhân, tổ chức quản lý bảo đảm không để máy móc hư hại nghiêm trọng
có tính chất chính trị.
Với cơ cấu tổ chức bộ máy như trên mỗi phòng ban, mỗi phân xưởng
đều có trách nhiệm chức năng riêng phục vụ tốt nhất cho yêu cầu sản xuất
kinh doanh của Công ty. Giữa các phòng ban, các phân xưởng có mối liên hệ
mật thiết với nhau, đảm bảo quá trình sản xuất tiến hành nhịp nhàng cân đối
có hiệu quả.
1.4.Tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty CP giấy Trúc Bạch
1.4.1.Kết quả kinh doanh của công ty
Bảng 1.1
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Đơn vị tính: VNĐ
CHỈ TIÊU
Mã
số
Năm 2009 Năm 2008 Chênh lệch
1 2 3 4 +/- %
1.Doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
01 26.385.162.795 26.729.611.087 (344.448.290) (1.3)
2.Các khoản giảm trừ
toán trước
50 68.280.118 (1.673.337.779) -
thuế(50=30+40)
15.Chi phí thuế TNDN
hiện hành
51 19.118.433 _ -
16.Chi phí thuế TNDN
hoãn lại
52 _ _ -
17.Lợi nhuận sau thuế
thu nhập doanh nghiệp
(60=50-51-52)
60 49.161.685 (1.673.337.779)
(Lấy nguồn từ báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007, 2008, 2009 của công
ty)
Nhận xét
Căn cứ vào kết quả tính toán ta thấy lợi nhuận sau thuế năm nay là
49.161.685 Đ. So với năm trước lợi nhuận sau thuế -1.673.337.779 Đ thì đây
là một thành công lớn của công ty. Có được điều đó là do ảnh hưởng của
nhiều nhân tố. Cụ thể là:
_ Các nhân tố làm lợi nhuận sau thuế tăng là
+ Doanh thu hoạt động tài chính tăng 50.917.994Đ làm lợi nhuận sau
thuế tăng 50.917.994 Đ. Tương ứng với tốc độ tăng là 40%
+Giá vốn hàng bán năm nay giảm so với năm trước 2.304.914.802 Đ
làm lợi nhuận sau thuế tăng là 2.304.914.802 Đ.
+ Chi phí hoạt động tài chính năm nay giảm so với năm trước là
36.112 880 Đ làm lợi nhuận sau thuế tăng 36.112.880 Đ.
+ Chi phí bán hàng năm nay giảm so với năm trước là 1.813.234 Đ làm
lợi nhuận sau thuế tăng 1.813.234 Đ.
+ Mặt khác năm 2009 công ty có thu nhập khác dẫn đến lợi nhuận khác
A_Tài sản ngắn hạn 9.901.934.302 10.233.281.536 14.798.757.651
1.Tiền và các khoản tương
đương tiền
814.802.488 191.463.559 643.378.426
2.Các khoản phải thu ngắn hạn 4.037.447.807 3.405.058.075 9.197.871.907
3.Hàng tồn kho 4.529.214.162 4.729.098.851 4.628.664.190
4.Tài sản dài hạn khác 520.469.782 1.462.661.051 328.843.128
B_Tài sản dài hạn 27.091.220.458 27.750.081.363 27.444.159.899
1.Tài sản cố định 25.354.522.708 26.013.383.613 25.707.462.149
2.Các khoản đầu tư tài chính
dài hạn
1.736.697.750 1.736.697.750 1.736.697.750
Nguồn vốn 36.993.154.760 37.983.362.899 42.242.917.550
A_Nợ phải trả 20.411.785.284 14.917.912.413 14.254.105.735
1.Nợ ngắn hạn 18.885.780.314 14.079.431.639 13.899.624.961
2.Nợ dài hạn 1.526.004.970 838.480.774 354.480.774
B_Vốn chủ sở hữu 16.581.369.476 23.065.450.486 27.988.811.815
1.Vốn chủ sở hữu 15.659.014.476 21.915.450.486 27.616.456.815
2.Nguồn kinh phí và quỹ khác 922.355.000 1.151.000.000 372.355.000
(Trích bảng cân đối kế toán của công ty qua các năm 2007,2008,2009)
Bảng 1.3
BẢNG PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH(2008_2009)
Đơn vị tính:VNĐ
Chỉ tiêu
CƠ CẤU
2008
CƠ CẤU
2009
CHÊNH LỆCH
% % +/- %
thấy nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đều giảm trong đó nợ ngắn hạn giảm
179.806.670 Đ tương ứng với 4,2%. Đây là một tín hiệu mừng đối với doanh
nghiệp cho thấy tình hình thanh toán với ngưới bán của doanh nghiệp khá tốt.
Điều này sẽ góp phần tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường cũng như
với đối tác kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc thay đổi cơ cấu là do ảnh hưởng bởi tốc độ tăng, giảm của các bộ
phận tài sản, nguồn vốn không đồng đều cụ thể:
_Tài sản ngắn hạn có tốc độ tăng là 44.6% trong khi đó tài sản dài hạn
giảm 1.1%.
_Nợ phải trả có tốc độ giảm là 44.4% trong khi đó vốn chủ sở hữu tăng
là 21.3%.
Như vậy để đảm bảo cơ cấu tài sản cho phù hợp. Doanh nghiệp cần có
nhưng biện pháp tăng nhanh vòng lưu chuyển của tài sản ngắn hạn, tăng vòng
quay của tiền, duy trì tốc độ tăng giảm của tài sản một cách đồng đều. Đồng
thời qua phân tích thấy cơ cấu nguồn vốn của công ty đang có chuyển biến
theo chiều hướng tốt. Đây là điều doanh nghiệp nên cố gắng phát huy.
PHẦN 2
TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN VÀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN TẠI
CÔNG TY CP GIẤY TRÚC BẠCH
2.1.Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty
Xuất phát từ điều kiện thực tế, Công ty CP Giấy Trúc Bạch đã áp dụng
hình thức tổ chức kế toán tập trung. Theo hình thức tổ chức này thì toàn bộ
công việc kế toán được thực hiện tập trung tại Phòng kế toán, ở các phân
xưởng không có kế toán riêng mà quản đốc từng phân xưởng sẽ thực hiện
hạch toán ban đầu, thu thập, kiểm tra chứng từ và kế toán thống kê sẽ căn cứ
tổng hợp số liệu để hạch toán.
2.1.1. Chức năng của phòng kế toán.
- Xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm, giúp Giám đốc phân bổ kế
hoạch đề ra hàng quý, tháng.
- Tham mưu cho Giám đốc huy động các nguồn vốn tự có để đưa vào
Kế toán
trưởng
Kế toán tổng
hợp, kế toán
nguyên vật liệu
Kế toán tiêu
thụ sản
phẩm, thủ
quỹ
Kế toán tiền lương,
thống kê phân
xưởng, kế toán thanh
toán
* Nhiệm vụ của từng cán bộ kế toán Công ty:
- Kế toán trưởng: là người quản lý và chịu trách nhiệm cao nhất trong
phòng, tổ chức bộ máy kế toán, kiểm tra việc chấp hành chế độ báo cáo tài
chính định kỳ, tổ chức bảo quản hồ sơ tài liệu lưu trữ.Giúp Giám đốc điều
hành, quản lý kinh tế, tài chính, trích nộp ngân sách đúng hạn và đúng số
lượng quy định. Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc cũng như chịu sự
kiểm tra nghiệp vụ của cơ quan tài chính cấp trên.
_Kế toán tổng hợp có chức năng, nhiệm vụ như 1 kế toán trưởng. Có thể
thay thế kế toán trưởng những khi kế toán trưởng đi công tác.
Kế toán tài sản cố định: phản ánh về tình hình biến động tăng giảm về số
lượng, chất lượng sử dụng TSCĐ cũng như tình hình khấu hao TSCĐ.
Kế toán giá thành: tập hợp và phân bổ các chi phí để tính giá thành
sản phẩm.
_ Kế toán tiêu thụ sản phẩm: theo dõi quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng
hóa một cách hợp lý, đảm bảo cho quá trình tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả,
thu hồi vốn nhanh.Quản lý chặt chẽ công nợ của khách hàng, các đại
lý… Không để nợ dây dưa, không làm thất thoát hàng và tiền trong quá trình
Kỳ kế toán ở công ty thường là một tháng. Cuối tháng, kế toán tiến
hành khóa sổ một lần.
Công ty hạch toán giá trị hành tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên và tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ.
_VAT phải nộp =VAT đầu ra – VAT đầu vào
_ VAT đầu ra = Giá bán x Thuế suất
_VAT đầu vào = Giá mua x thuế suất
Công ty sử dụng phương pháp khấu hao đường thẳng để khấu hao tài
sản cố định trong công ty.
2.2.2. Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán
Chế độ chứng từ kế toán Công Ty đang áp dụng là theo đúng luật kế toán
và nghị định số 29/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ.
Cách tổ chức và quản lý chứng từ kế toán tại Công Ty: tất cả các chứng
từ kế toán do doanh nghiệp lập hoặc từ bên ngoài chuyển đến đều phải tập
trung vào bộ phận kế toán doanh nghiệp. Bộ phận kế toán kiểm tra những
chứng từ kế toán đó và chỉ sau khi kiểm tra và xác minh tính pháp lý của chứng
từ mới dùng những chứng từ đó để ghi sổ kế toán.
Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán bao gồm các bước sau:
- Lập tiếp nhận xử lý chứng từ kế toán.
- Kế toán viên, kế toán trưởng kiểm tra và ký chứng từ kế toán hoặc trình Giám
đốc doanh nghiệp ký duyệt.
- Phân loại, sắp xếp chứng từ kế toán, định khoản và ghi sổ kế toán.
- Lưu trữ, bảo quản cẩn thận, không được để hư hỏng, mục nát.
2.2.3. Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng tại sông ty CP giấp Trúc Bạch được
xây dựng trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp ban hành theo
quyết định số 15/2006/QD- BTC ngày 20/3/2006 của Bộ tài chính
Để hệ thống tài khoản được sử dụng có hiệu quả hơn , công ty đã có một
số thay đổi dựa trên tính đặc thù trong tổ chức sản xuất của công ty. Cụ thể
như sau: