nâng cao chất lượng đào tạo tại trường cao đẳng công nghệ và kinh tế công nghiệp thái nguyên - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
=====o0o===== NGUYỄN THỊ THU HỒNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ
VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ MINH THỌ
THÁI NGUYÊN -2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
=====o0o=====

NGUYỄN THỊ THU HỒNG

thế giới đang cạnh tranh quyết liệt tùy thuộc rất nhiều vào giáo dục - đào tạo.
Đối với Việt Nam , vai trò của giáo dục được xác định rõ trong điều
35, hiến pháp 1992: [9, t 148]
“ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển
giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và
năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động
và sáng tạo, Có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp
phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.”
Hiện nay Đảng và nhà nước ta khẳng định giáo dục và đào tạo là một
trong ba lĩnh vực then chốt cần phải đột phá đề làm chuyển động tình hình
kinh tế - xã hội, tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực. Trong
những năm qua nền giáo dục nước nhà đã có những chuyển biến tích cự, đa
dạng hoá về mục tiêu đào tạo, loại hình đào tạo, loại trường về mô hình và sở
hữu. Giáo dục nước nhà đã thu hẹp được khoảng cách với nền giáo dục của
các nước trong khu vực và trên thế giới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Bên cạnh những thành tựu đó, giáo dục nước ta vẫn bộc lộ một số yếu
kém. Trong đó yếu kém lớn nhất là sự bất cập về khả năng đáp ứng của hệ
thống giáo dục đối với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho Công nghiệp hoá,
Hiện đại hoá đất nước. Chính vì vậy mục tiêu phát triển giáo dục đến năm
2020 ở nước ta là cần tạo ra bước chuyển cơ bản về chất lượng giáo dục, đào
tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nâng cao chất lượng đào tạo là yếu tố quan trọng góp phần giúp cho
các trường đại học và cao đẳng khẳng định uy tín và thương hiệu của nhà
trường. Chính vì vậy để tồn tại và phát triển trên thị trường giống như các

Công Nghệ và Kinh Tế Công nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công nghiệp.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh
Tế Công Nghiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại trường Cao đẳng Công Nghệ và
Kinh Tế Công Nghiệp Thái Nguyên.
- Phạm vi nội dung:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo.
+ Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo cao đẳng tại trường Cao đẳng
Công Nghệ và Kinh Tế Công nghiệp.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
tại trường Cao đẳng Công Nghệ và Kinh tế Công nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
- Phạm vi thời gian:
Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công Nghệ
và Kinh Tế Công Nghiệp từ năm 2007 đến năm 2010
Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2010 đến tháng 9/2011.
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài.
Đối với nhà trường có ý nghĩa thiết thực trong việc giám sát, đánh giá,
đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phát triển thương hiệu của
nhà trường.
Giúp cho các phòng ban chức năng, các khoa khác có các tiêu chí đánh
giá chất lượng đào tạo phụ hợp.

- Đào tạo là một quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát
triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ …để hoàn thiện nhân cách
cho mỗi cá nhân người học, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách
có năng suất và hiệu quả [7, tr11]
- Đào tạo là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả
các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao (Tổ chức lao động quốc tế)
- Đào tạo là một quá trình học tập lý luận và kinh nghiệm để tìm kiếm một sự
biến đổi về chất tương đối lâu dài của một cá nhân, giúp cá nhân có thêm năng lực
thực hiện công việc [6, tr314]
Như vậy có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo nhưng nhìn chung các quan
niệm này đều có điểm chung là đào tạo là một quá trình cung cấp cho người học những
kiến thức, kỹ năng để họ có thể hoàn thành công việc của mình.
1.1.2. Quan niệm về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm đa chiều, được nhiều tác giả đề cập đến theo
các cách tiếp cận khác nhau, sau đây là một vài định nghĩa về chất lượng:
- Theo tiêu chuẩn của nhà nước Liên Xô: Chất lượng là tổng thể những
thuộc tính của nó quy định tính thích dụng của sản phẩm để thỏa mãn những nhu
cầu phù hợp với công dụng của nó [1,tr20]. Như vậy, theo quan niệm này thì chất
lượng được xuất phát từ các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải bán
thứ mà thị trường cần nên có một số quan niệm khác về chất lượng trên góc độ
người tiêu dùng như:
- Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organization for Quanlity
Control) cho rằng: Chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm với yêu cầu của người
tiêu dùng [1, tr20]
- Gs .Philip B. Gosby (người Mỹ) cho rằng chất lượng là sự phù hợp với

Theo quan điểm của một số nước phương tây thì chất lượng của một trường
học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó. Theo quan điểm
này thì nguồn lực chính là chất lượng, nghĩa là các trường được xem là có chất
lượng cao nếu tuyển sinh được sinh viên giỏi, cán bộ giảng dạy có uy tín, có nguồn
tài chính để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường.
Vậy quan điểm này đã bỏ qua quá trình đào tạo diễn ra trong thời gian dài
trong nhà trường. Đây là quan điểm xem quá trình đào tạo là “hộp đen”, chỉ dựa vào
đánh giá “đầu vào”, không quan tâm đến chất lượng “đầu ra”. Quan điểm này sẽ
khó giải thích được tại sao một nhà trường có đầu vào cao nhưng hoạt động đào tạo
hạn chế, sinh viên tốt nghiệp chưa chắc đã xuất sắc và một trường có đầu vào khiêm
tốn nhưng sinh viên được cung cấp một chương trình đào tạo hiệu quả, sinh viên tốt
nghiệp xuất sắc [2, tr254].
1.1.3.2. Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu ra”
Theo quan điểm này chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu ra” của quá
trình đào tạo, được thể hiện thông qua năng lực của sinh viên tốt nghiệp.
Xung quanh quan niệm này vẫn nảy sinh hai vấn đề: một là không xem xét
mối liên hệ giữa “đầu vào” với “đầu ra”. Thực tế thì mối liên hệ này là có thực, tuy
không phải là quan hệ nhân quả. Thứ hai là cách đánh giá “đầu ra” của các trường
cũng rất khác nhau. [2, tr254]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
1.1.3.3. Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”
Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên nếu tạo ra
sự khác biệt trong sự phát triển trí tuệ và cá nhân của sinh viên. “ Giá trị gia tăng” xác
định bằng cách lấy giá trị “đầu ra” trừ đi giá trị “đầu vào”.
Nhưng nếu đánh giá chất lượng theo quan điểm này thì nảy sinh vấn đề là
phải có thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào”, “đầu ra” cho các
trường vì hệ thống giáo dục của các trường rất đa dạng. Hơn nữa nếu thiết lập được

lượng đào tạo là kết quả của cả quá trình đào tạo, phản ánh ở các đặc trưng về
nhân cách, phẩm chất, năng lực hành nghề mà người tốt nghiệp đạt được phù hợp
với mục tiêu, chương trình đào tạo của từng ngành nghề cụ thể [8, tr259]
- Theo quyết định 65/2007/QĐ - BGDĐT ngày 01/11/2007: chất lượng giáo
dục là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu
giáo dục của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát
triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước.
Như vậy xung quanh vấn đề chất lượng đào tạo có rất nhiều quan điểm khác
nhau. chất lượng đào tạo là một khái niệm mang tính tương đối. Mỗi đối tượng khác
nhau sẽ có những quan tâm khác nhau về chất lượng đào tạo phù hợp với lợi ích của
họ. Với vị trí là sinh viên, giảng viên có thể quan tâm đến quá trình đào tạo như thế
nào, còn các doanh nghiệp có thể quan tâm đến đầu ra của quá trình đào tạo. Vấn đề
khi đánh giá chất lượng đào tạo chúng ta cần đưa ra các tiêu chí làm thước đo để
đánh giá. Các tiêu chí này phải kết hợp hài hòa lợi ích của các đối tượng, sao cho
phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường, đồng thời cũng phải thỏa mãn được
nhu cầu của thị trường lao động và xã hội.
1.1.4. Quản lý chất lƣợng đào tạo
1.1.4.1. Quản lý chất lượng và các công cụ quản lý chất lượng cơ bản
Theo ISO 9000:2000: quản lý chất lượng là các hoạt động nhằm điêu chỉnh
và kiểm soát một cơ quan, tổ chức về vấn đề chất lượng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Như vậy, quản lý chất lượng có phạm vi rất rộng, nó không chỉ dành cho các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất cả các tổ
chức khác như nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu, các cơ quan hành chính nhà
nước, các tổ chức chính trị.
Để quản lý chất lượng, các tổ chức thường dùng các công cụ cơ bản[1, tr 55-59]:
- Kiểm tra chất lượng (Quality Inspecstion) với mục tiêu để sàng lọc các sản

thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo ra một đầu ra “phù hợp với mục đích”.
Mô hình BS 5750/ISO 9000 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt với những người sử
dụng, đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực tài lực và thời gian.
Do mô hình này có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất hàng hóa nên ngôn ngữ trong
bộ tiêu chuẩn này vẫn xa lạ với giáo dục chẳng hạn mô hình gọi người học là sản phẩm,
hơn nữa trong giáo dục khó tạo ra được các sản phẩm có chất lượng như nhau [2, tr269].
b. Mô hình chất lƣợng quản lý chất lƣợng tổng thể (Total Quality
Management - TQM)
TQM là mô hình quản lý chất lượng tập trung vào năm lĩnh vực:
- Sứ mạng và chú trọng đến khách hàng
- Tiếp cận các hoạt động có hệ thống
- Phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực
- Các tư tưởng dài hạn
- Sự phục vụ hết mực
Theo Sherr và Lozier (1991), có năm thành phần ảnh hưởng đến việc cải tiến chất
lượng trong giáo dục: Sự trung thực; chia sẻ quan điểm; kiên nhẫn; hết lòng làm việc; và lý
thuyết TQM. Trong năm thành tố trên thì lý thuyết TQM có thể dạy và học được.
Mặc dù mô hình TQM cũng xuất xứ từ thương mại và công nghiệp nhưng tỏ
ra phù hợp hơn với giáo dục. Mô hình này không áp dụng một hệ thống cứng nhắc
cho bất kỳ một cơ sở đào tạo nào, nó tạo ra một nền văn hóa chất lượng bao trùm
toàn bộ quá trình đào tạo. Triết lý của TQM là tất cả mọi người dù ở cương vị nào,
vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình
được giao và hoàn thành một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng [2, tr269].
Thực chất của TQM là:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
- Cải tiến liên tục: triết lý quan trọng nhất của tqm là cải tiến không ngừng và


13

Hình 1.1: Mô hình TQM đảo ngƣợc
Sự đảo ngược về thứ tự trong hệ thống tổ chức quản lý của nhà trường theo
mô hình quản lý chất lượng tổng thể không làm phương hại đến cơ cấu quyền lực
của nhà trường, cũng không làm giảm sút vai trò lãnh đạo của các cán bộ lãnh đạo
trường, khoa. trong thực tế sự lãnh đạo của cán bộ quản lý vẫn giữ vai trò quyết
định của quản lý chất lượng tổng thể. đảo ngược thứ bậc chỉ nhấn mạnh mối tương
quan trong quá trình đào tạo hướng tới sinh viên như nhân vật trung tâm [2, tr271].
c. Mô hình các yếu tố tổ chức
Mô hình này đưa ra 5 yếu tố để đánh giá như sau:
1 - Đầu vào: Sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào
tạo, quy chế, luật định, tài chính,…
2 - Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo,…
3 - Kết quả đào tạo: Mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả
năng thích ứng của sinh viên.
4 - Đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ đáp ứng

giáo dục là sự trùng khớp với mục tiêu thì sử dụng mô hình TQM là phù hợp hơn cả.
mô hình cho phép nghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lược của giáo dục trong từng
thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các chính sách lớn của chính phủ
đối với giáo dục. Và tùy thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng
giáo dục có thể chủ động tác động đến những khâu, lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng từ đó nâng cao dần chất lượng giáo dục theo kế hoạch đã đề
ra [2, tr 272].
1.1.5. Đánh giá chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là một khái niệm động, đa chiều. Vì vậy ta không thể dùng
một phép đo đơn giản để đo lường và đánh giá chất lượng trong giáo dục đào tạo. Để
đánh giá chất lượng trong giáo dục đào tạo người ta thường dùng một bộ thước đo bao
gồm các tiêu chí và các chỉ số tương ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo,
nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường. Các chỉ số này có thể là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
định tính nghĩa là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá. hoặc chỉ số
cũng có thể là định lượng, tức là đánh giá và đo lường bằng điểm số [2, tr 268].
Vậy tại sao chúng ta phải đánh giá chất lượng đào tạo, mục đích, nội dung và
phương pháp đánh giá là gì?
1.1.5.1. Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng đào tạo
Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục của việt nam phát triển mạnh
mẽ. Một mạng lưới giáo dục bao gồm các học viện, các trường đại học, cao đẳng,
trung cấp đa dạng về loại hình, phương thức đào tạo đã được hình thành khắp cả
nước. Quy mô đào tạo nước ta đang tăng nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã
hội. Cùng với sự tăng nhanh của quy mô đào tạo thì một vấn đề ngày càng được quan
tâm đó là chất lượng đào tạo. Mặc dù chất lượng đào tạo ở nước ta trong vài năm gần
đây đã có chuyển biến tốt, nhưng vẫn còn hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, và chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến

định, đánh giá chất lượng đào tạo.
1.1.5.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Chất lượng giáo dục là một khái niệm động, nhiều chiều, khó định nghĩa
một cách chính xác. Vì vậy, để đánh giá chất lượng đào tạo ta cần xem xét các yếu
tố tác động đến chất lượng đào tạo. Vậy những yếu tố nào có thể tác động tới chất
lượng đào tạo? Có nhiều nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo, tuy nhiên trong
luận văn này, tác giả chỉ xem xét một số nhân tố cơ bản sau đây:
Mục tiêu và chƣơng trình đào tạo
Mục tiêu đào tạo là đích mà nhà trường mong muốn đạt được sau một quá
trình đào tạo. Như chúng ta đã biết, chất lượng đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu đào
tạo đề ra. Vậy mục tiêu đào tạo là một căn cứ để đánh giá chất lượng của quá trình
đào tạo. Mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo được thể hiện
trong hình 1.2 dưới đây [11, tr307].
Điều 33 luật giáo dục năm 2005 có ghi:” Đào tạo người lao động có kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, có lương tâm nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả
năng tìm việc làm”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
- năng lực thích ứng với thị
trường lao động
- năng lực phát triển nghề
nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Cơ sở vật chất, phƣơng tiện trang thiết bị dạy học
Để thực hiện được quá trình đào tạo, mỗi cơ sở đào tạo cần được trang bị
những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho hoạt
động giảng dạy, học tập. Nói đến cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học là muốn
nói tới hệ thống phòng học, thực hành, thư viện, giáo trình, giáo án, đèn chiếu,
máy chiếu…
Cơ sở vật chất, phương tiện trang thiết bị dạy học là nhân tố quan trọng có
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Nó có vai trò hỗ trợ cho giáo viên và
học sinh trong quá trình dạy và học. Thật vậy, chúng ta không thể đảm bảo chất
lượng giáo dục nếu hệ thống các phòng học, phòng thực hành, thí nghiệm không
đầy đủ không đáp ứng được các yêu cầu của việc dạy và học. Ngạn ngữ Việt Nam
có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”, hay
ngạn ngữ nước ngoài có câu:”Nghe thì quên, nhìn mới nhớ, làm thì hiểu”. Đúng
vậy, các phương tiện và thiết bị dạy học giúp tối đa hóa thời gian mà việc học
tập thực sự diễn ra, tối thiểu hóa các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho mối
tương tác giữa thầy và trò [2, tr239]. Nhờ các phương tiện và thiết bị dạy học ,
người học hứng thú với việc học, dễ nhớ, dễ hiểu hơn từ đó hình thành những
kỹ năng nhất định.
Đội ngũ giáo viên
Bên cạnh mục tiêu, chương trình đào tạo và cơ sở vật chất trang thiết bị dạy
học thì một yếu tố khác quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đó là đội
ngũ giáo viên. Nếu có chương trình, sách giáo khoa tốt, thiết bị đầy đủ, thời lượng

của học sinh, sinh viên. Bởi người học chỉ có thể tiếp thu tốt các kiến thức chuyên
môn thì các em phải nắm được các kiến thức cơ bản khi còn học phổ thông. Mà
muốn có được chất lượng đầu vào thì chúng ta cần nâng cao chất lượng công tác
tuyển sinh, tuyển sinh đầu vào cần phải có sàn chung tối thiểu, tránh vì chạy theo số
lượng mà quên đi chất lượng .
Ngoài ra do hoạt động học tập của học sinh, sinh viên chịu sự tác động của
môi trường học tập nên môi trường học tập cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đào
tạo. Nói đến môi trường học tập trước tiên phải nói tới điều kiện học tập sinh hoạt:
dịch vụ nhà ở, điện nước sinh hoạt, trật tự trị an trong nhà trường, phòng học, trang
thiết bị. Sinh viên không thể yên tâm học tập nếu như những điều kiện trên không

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
được đảm bảo. ngoài các điều kiện trên, thì cảnh quan trong nhà trường, khu vui
chới, thể thao sinh hoạt văn nghệ, quan hệ giao tiếp bạn bè…cũng có ảnh hưởng tới
tâm lý, tình cảm, sức khỏe để các em có thể học tập tốt.
Quy mô đào tạo
Quy mô đào tạo của chúng ta trong những năm gần đây tăng rõ rệt do nhiều
nguyên nhân: Do nhu cầu của thị trường lao động, do nhu cầu của người học, do
chính sách của các trường. quy mô đào tạo tăng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
Bởi một khi số lương học sinh, sinh viên đầu vào tăng thì sẽ làm cho quy mô lớp học
lớn. Mỗi giáo viên khi lên lớp chỉ có thể bao quát được một số lượng học sinh, sinh
viên nhất định. Nếu quy mô lớp học quá lớn sẽ thì giáo viên không thể quan tâm đến
tất cả các thành viên trong lớp, đồng thời việc đánh giá kết quả học tập cũng sẽ gặp
khó khăn. mặt khác nếu quy mô đào tạo lớn trong khi đó đội ngũ giáo viên ít sẽ dẫn
đến tình trạng một giáo viên sẽ phải dạy quá nhiều giờ, nhiều lớp, nhiều ca. Khi đó
giáo viên không có thời gian để trau dồi kiến thức chuyên môn, phương pháp giảng
dạy và nghiên cứu khoa học thì không thể nâng cao chất lượng giảng dạy được. Quy
mô đào tạo chuẩn được đưa ra là tỷ lệ sinh viên/giảng viên không quá 20; Đối với các

đào tạo chỉ có chất lượng khi người học có được các kiến thức, kỹ năng đáp ứng
được nhu cầu của xã hội. Vì vậy nhà trường cần phải tạo được mối quan hệ với các
doanh nghiệp. Đó là cơ sở để sinh viên tốt nghiệp thực hành những kiến thức lĩnh
hội được từ nhà trường. doanh nghiệp không chỉ là nơi để sinh viên thăm quan, thực
tập mà nó còn có vai trò quan trọng trong việc thiết kế, điều chỉnh chương trình đào
tạo phù hợp. Qua việc sinh viên thăm quan thực tập tại doanh nghiệp, nhà trường có
thể lấy ý kiến của các doanh nghiệp về chương trình, nội dung đào tạo làm cho
chương trình đào tạo phù hợp hơn với thực tiễn sử dụng lao động góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo.
Trên đây là các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Mỗi
nhân tố có tác động đến chất lượng đào tạo theo các mức độ khác nhau. Để nâng
cao chất lượng đào tạo chúng ta cần có biện pháp tác động vào các yếu tố này, để
hoàn thiện chúng theo các tiêu chuẩn phù hợp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
1.1.6. Cơ sở thực tiễn
1.1.6.1. Thực trạng giáo dục đại học, cao đẳng tại việt nam
Giáo dục đại học, cao đằng đó được nhà nước quan tâm đặc biệt trong những năm
gần đây, ngân hàng thế giới đó đầu tư cho giáo dục việt nam qua nhiều dự án lên đến
hàng trăm triệu USD nhưng tình hình giáo dục việt nam hiện nay cũng nhiều bất cập, 3
trong số những bất cập đó liên quan đến: mục tiêu, chương trình và phương pháp.
* Mục tiêu: [15]
Cho tới thời điểm hiện nay, các trường Đại Học Việt Nam vẫn chưa xác định
được mục tiêu cụ thể để đào tạo sinh viên. GS.TSKH Vũ Minh Giang - Phó giám
đốc ĐHQG Hà Nội (2006) lập luận rằng các trường đại học trên thế giới thường
hướng đến 3 mục tiêu chính sau để đào tạo sinh viên: Trang bị kiến thức nghề
nghiệp chuyên môn; Hướng dẫn sinh viên ứng dụng chuyên môn đó học vào công
việc thực tế; Nâng cao trình độ nhận thức văn hóa cho sinh viên trong khi đó các

chương trình cử nhân, bao gồm 125-130 tín chỉ tất cả các môn, trong đó có khoảng
80-90 tín chỉ là môn chung. Các môn chung củ ngành cũng khoảng 20 tín chỉ. Nên
những kiến thức sẽ học để sau này sinh viên đi làm thực tế chỉ còn khoảng 20 tín
chỉ nữa, tương đương với 4-5 môn”.
GS TSKH Đỗ Trần Cát, Tổng thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước
cho rằng Bộ phải xem xét và phân bổ lại chương trình học . Ví dụ đối với môn
chung như Triết học, kinh tế chính trị trong các trường đại học nên phân bổ số tiết ít
hơn, để dành thời gian giảng dạy các môn chuyên ngành sẽ thiết thực hơn.
Theo Th.S Đào Đức Tuyên, Phó trưởng khoa Ngoại ngữ (trường Đại Học
Nông Lâm TPHCM) thì môn giáo dục thể chất được quy định trong trương trình
khung của Bộ nên chăng đổi lại thành môn tự chọn vì như vậy sinh viên có thể lựa
chọn những môn thể thao phục hợp với điều kiện sức khoẻ và thể lực của mình.
Môn giáo dục quốc phòng cũng vậy, nên chuyển sang thành môn tự chọn vì một
tháng học ròng rã cả lý thuyết lẫn thực hành như hiện nay không cần thiết đối với
sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ.
Thiết nghĩ, Bộ giáo dục và Đào tạo không nên quy định các trường đại học
phải tuân theo chương trình khung một cách cứng nhắc mà hãy để các trường đại
học chủ động biên soạn chương trình. Chương trình khung của Bộ là chương trình
chuẩn để các trường dựa vào đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế mỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status